Xem Nhiều 1/2023 #️ Điều Trị Và Theo Dõi Ung Thư Đại Trực Tràng Tránh Tái Phát # Top 4 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 1/2023 # Điều Trị Và Theo Dõi Ung Thư Đại Trực Tràng Tránh Tái Phát # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Điều Trị Và Theo Dõi Ung Thư Đại Trực Tràng Tránh Tái Phát mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TS Diệp Bảo Tuấn – bệnh viện Ung Bướu TP. HCM – cho biết ung thư đại trực tràng là bệnh lý ung thư thường gặp ở Việt Nam, đứng hàng thứ sáu cả hai giới (GLOBOCAN 2012). Hàng năm có khoảng 8.700 trường hợp ung thư đại trưc tràng mới phát hiện ở Việt Nam.

Theo tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), ước tính năm 2018 Việt Nam có hơn 14 nghìn người mắc mới ung thư đại trực tràng, và hơn 7 nghìn trường hợp tử vong vì bệnh này. Do đó, việc điều trị đúng hướng là vô cùng quan trọng.

Điều trị ung thư đại trực tràng như thế nào?

TS Đỗ Minh Hùng – Trưởng khoa Ngoại tổng quát, Bệnh viện Quốc tế Mỹ AIH (Quận 2, TPHCM) – chia sẻ các phương pháp điều trị chính cho những người bị ung thư đại trực tràng là phẫu thuật, hóa trị, xạ tri, điều trị hỗ trợ (giảm nhẹ). Tùy theo mức độ và giai đoạn bệnh mà có phương pháp điều trị chính xác.

Phẫu thuật: tùy theo u ở giai đoạn nào mà có thể được cắt tại chỗ qua nội soi ống mềm, hay cắt đoạn đại tràng, trực tràng kèm nạo vét hạch qua mổ mở hay phẫu thuật nội soi.

Khi ung thư tiến triển, phẫu thuật chủ yếu là cắt giảm khối ung thư, có thể phải mở thông đại tràng ra da hoặc nối tắc trong những trường hợp không cắt được

Hóa trị: dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị được sử dụng trước khi phẫu thuật để thu nhỏ khối u, giúp cắt u dễ dàng hơn. Hóa trị cũng có thể được chỉ định để làm giảm triệu chứng của ung thư đại trực tràng đã lan rộng đến các cơ quan khác.

Ngày nay, điều trị nhắm trúng đích là một “vũ khí” tốt trong điều trị ung thư.

Xạ trị: dùng tia xạ để tiêu diệt tế bào ung thư có thể còn lại sau khi phẫu thuật nhằm giảm nguy cơ tái phát ung thư.

Điều trị hỗ trợ (giảm nhẹ): mục đích giảm đau và các triệu chứng khác nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Cần theo dõi sau phẫu thuật tránh tái phát

Tại Hoa Kỳ, ước tính có 134.490 ca mắc bệnh mới mỗi năm, với 95.270 ca là ung thư đại tràng, số còn lại là trực tràng.

Theo TS Đỗ Minh Hùng, phẫu thuật là điều trị chủ yếu cho 80% CRCs chưa di căn. Mặc dù với khả năng phẫu thuật triệt căn và hóa xạ trị hỗ trợ, hơn 40% bệnh nhân ung thư giai 2-3 sẽ tái phát.

Phẫu thuật là điều trị hiệu quả nhất cho bệnh lý ung thư đại trực tràng. Mặc dù tất cả ung thư được nhìn thấy được lấy đi, những tế bào ung thư vẫn có thể hiện diện ở những nơi khác trong cơ thể. Khả năng tái phát phụ thuộc vào giai đoạn và những đặc tính của nguồn gốc ung thư.

Tái phát cùng với tái phát ung thư, ít nhất 1 trong 5 bệnh nhân với tiền sử ung thư đại trực tràng sẽ phát triển một polyp mới ở thời điểm còn lại của cuộc đời. Điều quan trọng là phát hiện và cắt bỏ những polyp này trước khi chúng trở thành ung thư.

Hầu hết những ung thư tái phát được phát hiện trong 2-3 năm đầu sau phẫu thuật. Do đó, tần suất theo dõi chủ yếu trong giai đoạn này. Sau 5 năm, gần như tất cả những ung thư tái phát sẽ được theo dõi như vậy. Theo dõi sau 5 năm chủ yếu là phát hiện những polyp mới.

Trong hầu hết trường hợp, các chẩn đoán về hình ảnh như CT scan, PET scan sẽ được thực hiện để xác định xem ung thư có di căn xa hay chưa.

Nếu ung thư tái phát ở xa hoặc ở hơn 1 vị trí, khởi đầu điều trị thường bằng phương pháp hóa trị. Nếu tái phát tại chỗ, có thể điều trị bằng phẫu thuật bổ sung để cắt bỏ khối u tái phát.

Khám sàng lọc rất quan trọng

Theo BS Quách Văn Hiển, người có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nội khoa ung bướu, khám sàng lọc và chẩn đoán sớm bệnh lý này sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong, tăng tỉ lệ sống thêm và góp phần giảm nhẹ gánh nặng ung thư.

Điều Trị Ung Thư Đại Tràng

Tôi năm nay 50 tuổi, gần đây thường đau quặn bụng và đi đại tiện ra máu, tôi đi khám ở bệnh viên Bạch Mai thì các bác sĩ nghi ngờ là bị ung thư đại tràng tôi đang rất lo lắng và đang phải chờ kết quả các xét nghiệm tiếp theo. Bác sĩ cho tôi hỏi nếu tôi bị ung thư thì điều trị ung thư đại tràng như thế nào? Phương pháp điều trị nào là tốt nhất ạ? Cảm ơn bác sĩ!

Trả lời: Hiện nay, ung thư đại tràng đang có xu hướng ngày một gia tăng do thói quen sinh hoạt và ăn uống không hợp lý. Theo chúng tôi Vũ Trường Khanh – Phó trưởng khoa Tiêu Hóa bệnh viện Bạch Mai cho biết, đây là loại ung thư hay gặp đứng hàng thứ 2 ở nữ và hàng thứ 3 ở nam giới trên thế giới, và cũng là nguyên nhân gây tử vong thứ 4 sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan hiện nay.

Cách điều trị ung thư đại tràng hiện nay?

Việc điều trị ung thư đại tràng phụ thuộc vào kích thước, vị trí, phạm vi của khối u, và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị ung thư đại tràng hiện nay có thể kể đến như:

* Phẫu thuật để cắt bỏ khối u là một phương pháp phổ biến nhất hiện nay để điều trị ung thư đại tràng. Đây là phương pháp điều trị tại chỗ. Khi tiến hành phẫu thuật, bác sĩ sẽ cắt bỏ khối u cùng với một phần của đại tràng hoặc trực tràng và một số hạch lân cận. Hầu hết các trường hợp, bác sĩ phải tiến hành nối những phần còn lành của đại tràng hoặc trực tràng. Khi không thể nối chúng với nhau, sẽ tiến hành mở thông đại tràng tạm thời hoặc vĩnh viễn, đây là phương pháp tạo một con đường mới giúp đưa chất thải ra ngoài.

Việc phẫu thuật sẽ gây đau và nhạy cảm tạm thời vùng phẫu thuật. Phẫu thuật ung thư đại trực tràng có thể gây ỉa lỏng hoặc táo bón tạm thời. Bệnh nhân được phẫu thuật mở thông đại tràng có thể bị kích thích ở vùng da quanh lỗ mở. Bệnh nhân cần tham khảo ý kiến của bác sĩ, y tá về cách vệ sinh tại chỗ và phòng chống hiện tượng kích thích và nhiễm khuẩn.

* Hóa trị là phương pháp điều trị ung thư đại tràng bằng cách sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đây là phương pháp điều trị toàn thân, được sử dụng để tiêu diệt tất cả tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể sau khi phẫu thuật, hay để làm giảm sự phát triển của khối u. Các thuốc sử dụng đa phần ở dạng tiêm, do đó thuốc sẽ thông qua các mạch máu vào thằng tuần hoàn chung và được đi đến các cơ quan trong cơ thê. Bên cạnh những ưu điểm kể trên, Hóa trị còn gây độc cho cả các tế bào khỏe mạnh. Các tác dụng phụ thường gặp như buồn nôn, nôn, rụng tóc, đau miệng, ỉa lỏng. Các tác dụng phụ nghiêm trọng có thể xảy ra nhưng ít hơn, ví dụ như nhiễm khuẩn hoặc chảy máu.

* Xạ trị là việc sử dụng tia X có năng lượng cao để

tiêu diệt các tế bào ung thư. Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư đại tràng tại chỗ và thường được áp dụng nhất cho các bệnh nhân ung thư trực tràng. Tùy theo từng người bệnh cụ thể mà bác sĩ có thể sử dụng tia xạ trước khi phẫu thuật nhằm giảm kích thước khối u, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cắt bỏ hoặc tiến hành sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Cũng giống như hóa trị, Xạ trị tác động đến cả tế bào lành và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của tia xạ trị liệu chủ yếu phụ thuộc vào liều lượng và bộ phận được điều trị. Các tác dụng phụ thường gặp là mệt mỏi, thay đổi da ở vùng chiếu xạ, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn và ỉa lỏng. Đôi khi tia xạ trị liệu có thể gây chảy máu trực tràng (hiện tượng phân có máu).

* Liệu pháp miễn dịch: Đây là phương pháp sử dụng hệ thống miễn dịch để tiêu diệt các tế bào ung thư. Hệ thống miễn dịch bao gồm rất nhiều tế bào miễn dịch có khả năng phát hiện và tiêu diệt các tế bào ung thư. Liệu pháp miễn dịch có tác dụng sửa chữa, kích thích hoặc tăng cường làm cho các tế bào ung thư trở nên “hung hăng” hơn từ đó hiệu quả điều trị sẽ cao hơn. Hiện nay, liệu pháp này có thể sử dụng trước khi tiến hành phẫu thuật, sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị và xạ trị. Hầu hết các loại thuốc sử dụng trong liệu pháp sinh học được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch.

* Liệu pháp trúng đích: Đây là một phương pháp mới trong điều trị ung thư thường sử dụng các thuốc chống ung thư tương tự như hóa trị, tuy nhiên các thuốc sử dụng của liệu pháp trúng đích chỉ tác động tiêu diệt các tế bào ung thư mà không gây ảnh hưởng đến các tế bào bình thường trong cơ thể, do đó giảm các tác dụng phụ hay gặp trên cơ thể người bệnh.

Phương pháp điều trị ung thư đại tràng nào là tốt nhất?

Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ

Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Tuyến Giáp

Chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến giáp

ĐẠI CƯƠNG

Ung thư tuyến giáp là loại ung thư phổ biến. Theo GLOBOCAN 2018, ung thư tuyến giáp đứng hàng thứ 11 trong tổng số các ca ung thư ở cả hai giới với khoảng 567.000 ca mới mắc hàng năm, đứng thứ 5 trong số các loại ung thư ở nữ giới và đứng thứ 15 trong số các loại ung thư ở nam giới. Tỷ lệ mắc khoảng 3,1/100.000 dân ở cả hai giới và tỷ lệ nam/nữ là 1/3.

Ung thư tuyến giáp chia làm hai nhóm khác nhau về lâm sàng và tiên lượng, đó là ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa. Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tiến triển chậm, tiên lượng tốt. Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa tiến triển nhanh, bệnh nhân thường đến viện khi khối u và hạch đã xâm lấn rộng, không cắt bỏ được, di căn xa sớm và tiên lượng xấu.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Triệu chứng ung thư tuyến giáp thường nghèo nàn, bệnh nhân thường đến viện với triệu chứng đầu tiên là nhìn thấy hoặc sờ thấy khối u vùng cổ hoặc phát hiện tình cờ qua siêu âm tuyến giáp. Cũng có khi bệnh nhân đến viện vì sờ thấy hạch cổ hoặc di căn xa trước khi sờ thấy u tuyến giáp.

Triệu chứng cơ năng

Trong giai đoạn đầu: Triệu chứng cơ năng thường nghèo nàn, ít có giá trị. Tình huống lâm sàng thường gặp nhất là bệnh nhân tự phát hiện hoặc đi khám sức khoẻ định kỳ thấy u.

Ở giai đoạn muộn hoặc khối u xâm lấn có thể xuất hiện triệu chứng như: chèn  ép, xâm lấn dây thần kinh quặt ngược gây nói khàn. Đây là đặc điểm có thể gợi ý khối u giáp là ung thư, bởi khối u giáp lành tính hiếm khi gây khàn tiếng. Chèn ép thực quản gây khó nuốt. Khó thở do u xâm lấn vào khí quản. Một số bệnh nhân đến viện vì triệu chứng của di căn xa, qua thăm khám mới phát hiện được u tuyến giáp.

Triệu chứng thực thể

U giáp: Thông thường các khối ung thư tuyến giáp thường biểu hiện một khối đơn độc ở một thùy hoặc eo giáp hơn là ung thư đa ổ hoặc ung thư cả hai thùy.

Hạch cổ: Đa số là hạch nhóm VI, cảnh cùng bên, ít gặp các nhóm hạch vùng khác. Hạch thường rắn, không đau, di động được khi hạch chưa xâm lấn, di động hạn chế khi hạch to hoặc xâm lấn.

Đánh giá lâm sàng cần quan tâm tới một số yếu tố nguy cơ có khả năng ung thư:

U giáp lớn nhanh

Mật độ cứng khi khám

Dính vào các cấu trúc lân cận

Tiền sử gia đình có ung thư tuyến giáp

Khàn tiếng

Khó nuốt, nuốt vướng do u chèn ép

Da vùng cổ có thể bị thâm nhiễm hoặc sùi loét chảy máu

Có u giáp kèm theo hạch cổ

Cận lâm sàng

Chẩn đoán tế bào học (chọc hút kim nhỏ – FNA)

Là xét nghiệm cho kết quả nhanh, an toàn, giá trị cao trong chẩn đoán, độ chính xác vào khoảng 90-95%. Có thể làm tế bào học tại u hoặc tại hạch. Kết quả được đánh giá theo phân loại của Bethesda năm 2017.

Siêu âm vùng cổ

Là phương pháp cần thiết giúp phân biệt u đặc và u nang.

Ngoài ra, siêu âm còn cho phép xác định vị trí, số lượng, kích thước, tính chất,  sự xâm lấn của u tuyến giáp và hạch cổ. Trên hình ảnh siêu âm khối ung thư tuyến giáp thường có hình ảnh nhân đặc giảm âm, ranh giới không rõ, có thể có vi vôi hóa trong khối, chiều cao lớn hơn chiều rộng, hạch cổ to và tính chất hạch bất thường.

Siêu âm hướng dẫn việc chọc hút tế bào chính xác hơn, đặc biệt là u nhỏ.

Hiện nay việc sử dụng TIRADS (Thyroid Imaging Reporting ADN Data System) đánh giá các khối u tuyến giáp khá phổ biến. Hệ thống này được chia làm 6 loại từ TIRADS I – TIRADS VI theo ACR 2017.

Chụp CT scan và chụp MRI vùng cổ

Chụp CT scan và chụp MRI vùng cổ giúp đánh giá kỹ hơn mức độ xâm lấn u giáp và hạch với cơ quan xung quanh như khí quản, thực quản, phần mềm vùng cổ.

Xạ hình tuyến giáp

Xạ hình tuyến giáp thường dùng 131I. Trong chẩn đoán, tế bào ung thư tuyến giáp không hoặc ít bắt Iod và biểu hiện bởi các nhân lạnh trên xạ hình. Ngoài ra, xạ hình tuyến giáp có giá trị cao xác định tuyến giáp lạc chỗ cũng như là đánh giá khối lượng mô giáp còn lại sau phẫu thuật. Xạ hình toàn thân với 131I rất có ích trong việc phát hiện di căn xa.

Sinh thiết tức thì trong mổ

Đây là phương pháp có độ chính xác cao giúp phẫu thuật viên quyết định phương pháp phẫu thuật ngay trong mổ.

Chỉ điểm sinh học, các xét nghiệm hormon tuyến giáp

Chỉ điểm u:

Với ung thư tuyến giáp thể biệt hoá: Tg có vai trò trong việc tiên lượng và theo dõi sau điều trị.

Với ung thư thể tủy: Calcitonin và CEA có vai trò trong tiên lượng và theo dõi sau điều trị.

Nồng đồ hormon tuyến giáp: Trong ung thư tuyến giáp nồng độ các hormon tuyến giáp (FT4, TSH) trong giới hạn bình thường.

CHẨN ĐOÁN GIẢI PHẪU BỆNH

Trong thực hành lâm sàng thường chia thành 4 loại sau: ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú, ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang, ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy và ung thư biểu mô tuyến giáp thể không biệt hóa.

Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa: chiếm khoảng 90% gồm thể nhú, thể nang và loại kết hợp cả thể nhú và nang.

Ung thư tuyến giáp thể tủy: chiếm khoảng từ 1-5%.

Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa: chiếm khoảng 5%.

Chẩn đoán giai đoạn

Phân loại theo giai đoạn TNM theo AJCC 2017

T (tumor): Khối u nguyên phát.

Tx U nguyên phát không xác định được

T0 Không có bằng chứng của khối u nguyên phát

T1 U có đường kính ≤2cm, giới hạn trong tuyến giáp

T1a U có đường kính ≤1cm

T1b U có đường kính 1-2cm

T2 U có đường kính 2-4cm, giới hạn trong tuyến giáp

T3b U kích thước bất kỳ có vi xâm lấn ra ngoài tuyến giáp  (như xâm lấn  cơ ức giáp hoặc tổ chức xung quanh tuyến giáp).

T4: Tiến triển tại chỗ

T4a: Khối u kích thước bất kỳ phá vỡ vỏ bao tuyến giáp xâm lấn tổ chức mô mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản hoặc thần kinh thanh quản quặt ngược.

T4b: U kích thước bất kỳ xâm lấn cân trước sống, bao cảnh hoặc các mạch máu trung thất.

N (node): Hạch lympho trong vùng cổ và trung thất trên.

Nx: Hạch vùng không xác định được

N0: Không di căn hạch

N1: Di căn đến hạch lympho vùng

N1a: Di căn hạch nhóm VI: Hạch trước khí quản, quanh khí  quản,  trước thanh quản (hạch Delphian), hoặc hạch trung thất trên (nhóm VII).

N1b: Di căn hạch cổ cùng bên, hai bên hoặc đối  bên (nhóm I, II, III,  IV, V) hoặc hạch sau hầu.

M (metastase): Di căn xa.

M0: Không có di căn xa.

M1: Có di căn xa.

Xếp giai đoạn TNM

Thể nhú và nang

Bệnh nhân dưới 55 tuổi

Giai đoạn I:               

Bất kỳ T

Bất kỳ N

Mo

Giai đoạn II:

Bất kỳ T

Bất kỳ N

M1

Bệnh nhân ≥ 55 tuổi

Giai đoạn I:

T1,2

N0

M0

Giai đoạn II:

T3a,b

Bất kỳ N

M0

T1

N1

M0

T2

N1

M0

Giai đoạn III:

T4a

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVa:

T4b

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVb:

Bất kỳ T

Bất kỳ N

M1

Thể tủy (mọi lứa tuổi)

Giai đoạn I:

T1

N0

Giai đoạn II:

T2, T3

N0

Giai đoạn III:

T1-3

N1a

Giai đoạn IVa

T4a

Bất kỳ N

T1-3

N1b

Giai đoạn IVb

T4b

Bất kỳ N

Giai đoạn IVc

Bất kỳ T

Bất kỳ N

Thể không biệt hóa (tất cả ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa đều phân loại ở giai đoạn IV)

Giai đoạn IVa

T1-3a

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVb

T1-3a

N1

M0

T3b

Bất kỳ N

M0

T4

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVc

Bất kỳ T

Bất kỳ N

M1

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

Phẫu thuật có vai trò chủ đạo trong điều trị ung thư tuyến giáp. I-131 có vai trò bổ trợ với nhóm bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hoá. Liệu pháp nội tiết giúp kiểm soát bệnh tốt hơn. Xạ trị chiếu ngoài được chỉ định cho loại ung thư không biệt hóa hoặc loại biệt hóa nhưng ở giai đoạn muộn không thể phẫu thuật được. Điều trị bằng hóa chất và điều trị đích thường áp dụng ở giai đoạn muộn và ít hiệu quả.

Phẫu thuật

Ung thư tuyến giáp thể biệt hoá

Với u giáp:

Chỉ định cắt giáp toàn bộ trong những trường hợp:

Tiền sử xạ trị vùng cổ

U giai đoạn T3,4

Có tổn thương thùy đối bên

Có di căn hạch cổ

Có di căn xa

Ung thư tuyến giáp tái phát

Ngoài những trường hợp chỉ định cắt giáp toàn bộ bệnh nhân được chỉ định cắt thùy và eo giáp.

Với hạch cổ:

Nhóm cN0: Vét hạch cổ nhóm VI dự phòng với u T3,T4.

Nhóm cN1: Vét hạch cổ nhóm hạch có bằng chứng di căn.

Ung thư tuyến giáp thể tủy

Với u giáp: Chỉ định cắt giáp toàn bộ cho tất cả các trường hợp.

Với hạch cổ:

Nhóm cN0: Vét hạch cổ nhóm VI dự phòng. Vét hạch cảnh dự phòng còn đang tranh cãi.

Nhóm cN1: Vét hạch cổ nhóm hạch có bằng chứng di căn.

Ung thư giáp trạng không biệt hóa: chỉ định cắt giáp toàn bộ + vét hạch cổ triệt căn còn khả năng phẫu thuật. Tuy nhiên thể mô bệnh học này thường đến viện ở giai đoạn muộn và không còn khả năng phẫu thuật, nên thường chỉ phẫu thuật triệu chứng như mở khí quản hay mở thông dạ dày, sau đó hoá xạ trị.

Điều trị 131I (Radioactive iodine – RAI)

Mục tiêu: giúp giảm tỷ lệ tái phát ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao.

Chỉ định: dành cho các loại ung thư thể biệt hóa (nhú, nang) nguy cơ cao như đa ổ, u T3, T4, di căn hạch, di căn xa và có nồng độ Tg cao sau phẫu thuật cắt giáp toàn bộ. Trước khi điều trị I-131, bệnh nhân phải được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp.

Điều trị nội tiết

Điều trị nội tiết bằng levothyroxin sau phẫu thuật để giảm nồng độ TSH, qua đó hạn chế sự phát triển của tế bào tuyến giáp.

Với những trường hợp có nguy cơ tái phát cáo nên duy trì nồng độ TSH dưới 0,1mU/L. Còn đối với trường hợp nguy cơ thấp thì nên duy trì nồng độ TSH từ 0,1- giới hạn dưới của giá trị tham chiếu.

Xạ trị chiếu ngoài

Trong ung thư tuyến giáp biệt hóa chỉ định xạ trị là rất hạn chế bởi tế bào  ung thư của thể này ít nhạy cảm với xạ trị. Xạ trị được chỉ định cho những bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật, tại những vị trí tổn thương không cắt bỏ được bằng phẫu thuật.

Trong ung thư tuyến giáp thể tủy: Xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật chưa được chứng minh có vai trò rõ ràng trong điều trị. Tuy nhiên, xạ trị được chỉ định cho những bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật, tại những vị trí tổn thương không cắt bỏ được bằng phẫu thuật.

Trong ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa: Xạ trị sau phẫu thuật là chỉ định gần như bắt buộc với mục đích kiểm soát tái phát tại chỗ và hệ thống hạch.

Điều trị nội khoa

Hóa chất

Hóa trị được chỉ định trong trường hợp ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa. Các phác đồ được sử dụng thường có chứa doxorubicin, paclitaxel, docetaxel, cisplatin, carboplatin. Tùy vào tình trạng bệnh chúng ta có thể lựa chọn phác đồ kết hợp hoặc đơn trị.

Điều trị đích

Điều trị đích trong ung thư tuyến giáp có thể cải thiện thời gian sống bệnh, giảm nhẹ triệu chứng và thường áp dụng đối với bệnh nhân thất bại sau điều trị I-131, hoặc chống chỉ định.

Thuốc điều trị đích được sử dụng trong ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa: Các thuốc kháng BRAF như dabrafenib٭ và trametinib٭, thuốc kháng NTRK là larotrectinib٭.

Thuốc điều trị đích được sử dụng trong ung thư giáp thể biệt hóa, thể tủy là các thuốc kháng TKI như sorafenib, pazopanib, cabozatinib٭, sunitinib, axitinib٭, lenvatinib٭…

THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

Khám lâm sàng: phát hiện tái phát u, hạch, các dấu hiệu của di căn xa

Cận lâm sàng:

Xét nghiệm FT4, TSH, Tg huyết thanh

Đối với thể tủy, xét nghiệm calcitonin và CEA

Chụp Xquang phổi phát hiện di căn

Siêu âm phần mềm vùng cổ và xạ hình tuyến giáp với 131I

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mai Trọng Khoa (2014). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2015). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh bằng y học hạt nhân. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2012). Y học hạt nhân (sách dùng sau Đại học). Giáo trình Trường Đại học Y Hà Nội. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2013). Điều trị bệnh Basedow và ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng 131I. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa, Phạm Cẩm Phương (2017). Điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng 131I. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2016). Kháng thể đơn dòng và phân tử nhỏ trong điều trị bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

Mai Trọng Khoa, Nguyễn Xuân Cử (2012). Một số tiến bộ về kỹ thuật xạ trị ung thư và ứng dụng trong lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2013). Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Christiaan Schiepers. (2006). Diagnostic Nuclear Medicine. Springer – Verlag – Verlag Berlin Heidelberg.

National Comprehensive Cancer Network (2019). Thyroid carcinoma, version 1.2019. NCCN Clinical Practice Guideline in Oncology.

Revised American Thyroid Association Management Guidelines for patients with Thyroid nodules and differentiated thyroid cancer 2015.

Schlumberger M, Tahara M, Wirth LJ et al (2015). Lenvatinib versus placebo in radioiodine-refractory thyroid cancer. N Engl J Med;372(7): 621-30.

Vincent T DeVita, Theodore S. Lawrence, Steven A. Rosenberg (2014). Cancer Principles and Practice of Oncology, 10th edition. Lippincott Ravell publishers. Philadelphia, United States.

Drilon A, Laetsch TW, Kummar S, et al (2018). Efficacy of larotrectinib in TRK fusion positive cancers in adult and children. N Engl J Med; 378(8):731-739.

Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Cổ Tử Cung

Chẩn đoán và điều trị ung thư cổ tử cung

ĐẠI CƯƠNG

Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ nhiều nước trên thể giới, bệnh đứng thứ hàng thứ 2 chỉ sau ung thư vú. Theo GLOBOCAN năm 2018, trên thế giới có gần 600.000 người mới mắc và xấp xỉ 312.000 người vử vong vì ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, năm 2018 có 4.177 ca mới mắc và 2.420 ca tử vong. Trong 30 năm qua, nhờ các chương trình sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào học cổ tử cung – âm đạo, đã giúp giảm 70% tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

Ra máu bất thường ở âm đạo: ra máu sau giao hợp, giữa hai kỳ kinh, sau mãn kinh, sau đại tiện gắng sức.

Ra khí hư nhiều, khí hư lẫn máu, có mùi hôi.

Đau vùng hạ vị, đau ngang cột sống thắt lưng.

Có thể biếng ăn, sút cân, suy thận, phù hai chân, rò phân và nước tiểu qua đường âm đạo… khi bệnh ở giai đoạn muộn.

Khám lâm sàng:

Thăm khám âm đạo bằng tay và mỏ vịt: đánh giá tổn thương cổ tử cung, mức độ lan tràn của khối u ra vùng túi cùng và thành âm đạo. Quan sát trực tiếp tổn thương và sinh thiết tổn thương để có chẩn đoán mô bệnh học: hình ảnh tổn thương tại cổ tử cung: u thể sùi, loét, sùi loét, thâm nhiễm. Cần đánh giá kích thước khối u và mức độ xâm lấn của khối u vào âm đạo, túi cùng. Sinh thiết tổn thương u: sinh thiết tại rìa khối u.

Thăm trực tràng: đánh giá mức độ xâm lấn vào dây chằng rộng, trực tràng (nếu có).

Nếu khối u không rõ ràng cần kiểm tra bên trong ống cổ tử cung, có thể nạo hoặc hút ống cổ tử cung để lấy bệnh phẩm.

Cận lâm sàng Xét nghiệm tế bào học cổ tử cung-âm đạo (Test PAP):

Là phương pháp có giá trị để phát hiện tổn thương tiền ung thư, ung thư ở giai đoạn sớm và đuợc dùng trong sàng lọc phát hiện sớm ung thư ở cộng đồng.

Quệt tế bào bong cổ trong và cổ ngoài tử cung, nhuộm soi phát hiện tế bào bất thường.

Khi phiến đồ nghi ngờ có tổn thương cần tiến hành soi cổ tử cung và sinh thiết để chẩn đoán xác định:

Soi cổ tử cung: giúp quan sát tổn thương cổ tử cung ở giai đoạn sớm, xác định vùng ranh giới tổn thương, qua đó xác định vị trí sinh thiết chính xác. Để quan sát rõ tổn thương, có thể làm nghiệm pháp Schiller (nghiệm phát Lugol): iod sẽ làm cho những tế bào bình thường (có chứa glycogen) trở nên sẫm màu, những tế bào bất thường sẽ không đổi màu và tiến hành sinh thiết vùng không đổi màu.

Sinh thiết tổn thương: dùng kìm sinh thiết tổn thương u để làm xét nghiệm mô bệnh học.

Khoét chóp cổ tử cung: là biện pháp lấy bệnh phẩm để chẩn đoán mô bệnh học đồng thời cũng là biện pháp điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn tại chỗ.

Các xét nghiệm để đánh giá giai đoạn: siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, nội soi bàng quang-trực tràng…

Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u (tumor marker): CEA, CA12-5, SCC tăng cao trong một số trường hợp. Có giá trị theo dõi đáp ứng điều trị, phát hiện bệnh tái phát, di căn xa.

Xạ hình xương bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99m Tc-MDP để đánh giá tổn thương di căn xương, chẩn đoán giai đoạn bệnh trước điều trị, theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn.

Xạ hình thận chức năng bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99m Tc-DTPA để đánh giá chức năng thận trước điều trị và sau điều trị.

Chụp PET/CT với 18 F-FDG trước điều trị để chẩn đoán u nguyên phát, chẩn đoán giai đoạn bệnh; chụp sau điều trị để theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn; mô phỏng lập kế hoạch xạ trị.

Xét nghiệm sinh học phân tử: Giải trình tự nhiều gen.

Chẩn đoán phân biệt

Giai đoạn sớm: cần chẩn đoán phân biệt với: viêm lộ tuyến cổ tử cung, loét cổ tử cung.

Giai đoạn muộn: cần chẩn đoán phân biệt với: lộ tuyến nhiễm khuẩn, lao cổ tử cung, giang mai cổ tử cung, polyp cổ tử cung, u nhú cổ tử cung.

Chẩn đoán nguyên nhân

Chẩn đoán mô bệnh học

Bệnh phẩm được lấy qua sinh thiết, khoét chóp cổ tử cung, bệnh phẩm sau phẫu thuật. Bao gồm các typ: ung thư biểu mô vảy: chiếm trên 90%. Ung thư biểu mô tuyến, tuyến vảy, u lympho, sarcoma…

Chẩn đoán giai đoạn

Phân loại giai đoạn ung thư cổ tử cung của Hiệp hội Sản Phụ Quốc tế (FIGO, 2018) và phân loại TNM theo AJCC (2017).

Bảng 1. Phân loại giai đoạn ung thư cổ tử cung

Phân loại giai đoạn bệnh

Bảng 2. Phân loại giai đoạn bệnh

ĐIỀU TRỊ

Tùy theo giai đoạn bệnh, thể mô bệnh học, tình trạng cụ thể để đưa ra các phác đồ điều trị phù hợp. Cụ thể:

Giai đoạn tiền xâm nhập

Loạn sản, ung thư tại chỗ. Các biện pháp điều trị: đốt lạnh, đốt laser, cắt vòng (LEEP), khoét chóp cổ tử cung, cắt tử cung toàn bộ.

Giai đoạn xâm nhập

Phẫu thuật Khoét chóp tử cung

Chỉ định: giai đoạn IA1, phụ nữ trẻ, mong muốn sinh con.

Phẫu thuật Wertheim Meigs

Cắt tử cung toàn bộ + 2 phần phụ + vét hạch chậu hai bên. Chỉ định: giai đoạn I, IIa.

Xạ trị

Có thể đơn thuần, kết hợp với phẫu thuật, hóa chất.

Xạ trị triệt căn đơn thuần

Chỉ định: giai đoạn O, I, II A, II B.

Phương pháp: kết hợp xạ trị ngoài và xạ trị áp sát. Có thể xạ trị bằng máy 60 Co hoặc máy gia tốc theo phương pháp 3D conformal hoặc xạ trị điều biến liều, điều biến thể tích, xạ trị proton. Chụp mô phỏng bằng CT, MRI hoặc PET/CT, PET/MRI.

Xạ trị áp sát đơn thuần: giai đoạn O, I A1, I A2.

Xạ trị từ ngoài kết hợp xạ trị áp sát: giai đoạn II A, II B.

Thể tích chiếu xạ bao gồm cổ tử cung, tử cung, hai phần phụ, hạch chậu ngoài, chậu trong, chậu gốc.

Liều lượng: tùy thuộc thể tích khối u và sự phối hợp với xạ trị áp sát. Tổng liều: xạ trị từ ngoài 50Gy vào tiểu khung, xạ trị áp sát vào tử cung – âm đạo 20Gy.

Xạ trị tiền phẫu

Chỉ định: giai đoạn I B, II A.

Phác đồ:

Nếu tổn thương <4cm: xạ trị áp sát vào tử cung, âm đạo liều 60Gy tại điểm A; phẫu thuật Wertheim sau 6 tuần.

Xạ trị hậu phẫu

Chỉ định: sau phẫu thuật, kết quả mô bệnh học của hạch, diện cắt dây chằng rộng, âm đạo dương tính.

Biện pháp: xạ trị áp sát mỏm cụt âm đạo liều 25-30Gy hoặc xạ trị từ ngoài vào tiểu khung liều 30-50Gy và có thể nâng liều vào vùng hạch chậu đến 50-55Gy tùy theo đã xạ ngoài trước đó hay chưa.

Các phương pháp xạ trị

Xạ trị chiếu ngoài (EBRT: External Beam Radiation Therapy):

Sử dụng hình ảnh cắt lớp vi tính hoặc PET/CT để mô phỏng lập kế hoạch xạ trị. PET/CT giúp đánh giá di căn hạch tốt hơn CT. Tuy nhiên, cộng hưởng từ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tốt nhất để đánh giá mức độ xâm lấn của khối u vào tử cung, âm đạo và tổ chức xung quanh.

Thể tích xạ trị bao gồm toàn bộ khối u, dây chằng tử cung-cùng, âm đạo (dưới 3cm diện u xâm lấn tới âm đạo), hạch trước xương cùng và các hạch vùng tại vị trí khác có nguy cơ bị di căn

Đối với các bệnh nhân không có di căn hạch sau phẫu thuật hoặc không rõ di căn hạch trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thì thể tích xạ trị cần bao toàn bộ hạch chậu ngoài, chậu trong và hố bịt.

Đối với bệnh nhân có nguy cơ di căn hạch nhiều (khối u kích thước lớn, khối u, nghi ngờ hoặc có di căn hạch chậu) thì thể tích xạ trị cần bao cả hạch chậu chung.

Ở những bệnh nhân có di căn hạch chậu chung và/hoặc hạch cạnh động mạch chủ thì trường chiếu cần mở rộng đến hạch cạnh động mạch chủ ngang mức động mạch thận

Liều xạ trị ngoài dự phòng hạch là 45Gy (phân liều 1,8-2,0Gy mỗi ngày) và nếu có hạch di căn mà không phẫu thuật được có thể tăng thêm 10-15Gy vào hạch này.

Đối với các bệnh nhân không phẫu thuật được nên điều trị hóa-xạ trị đồng thời với cisplatin 40mg/m 2/hàng tuần trong 5 tuần hoặc cisplatin+ 5-fluorouracil (5-FU 750mg/m 2 da/ngày 1-5 và cisplatin 75mg/m 2 da ngày 1, chu kỳ 21 ngày).

Xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị điều biến thể tích (VMAT) là các kỹ thuật xạ trị nhằm mục đích đạt liều xạ trị vào khối u và hạch là cao nhất mà giảm thiểu liều bức xạ đến ruột non, trực tràng và các cấu trúc khác (đặc biệt có ích khi xạ trị liều cao vào khối u, hạch vùng và các bệnh nhân sau khi cắt bỏ tử cung, khi xạ trị vào hạch cạnh động mạch chủ).

Khi xạ trị điều biến liều, cần phải xem xét liều xạ trị đến tổ chức ung thư và mô lành bằng cách kiểm tra đảm bảo chất lượng của quá trình xạ trị.

Tuy nhiên, IMRT không sử dụng để thay thế xạ trị áp sát trong điều trị ung thư cổ tử cung.

Xạ trị áp sát (Brachytherapy)

Xạ trị áp sát liều cao phối hợp với xạ ngoài có vai trò quan trọng trong phác đồ điều trị ung thư cổ tử cung. Xạ trị áp sát nhằm mục đích nâng liều cao tại vị trí tổn thương cổ tử cung, eo cổ tử cung, thân tử cung và vùng cận kề. Liều xạ suy giảm nhanh tỷ lệ nghịch với khoảng cách, vừa đạt mục đích đưa liều cao tại vị trí u, giảm liều tại bàng quang, trực tràng.

Xạ trị trong mổ (Intraoperative Radiation Therapy: IORT)

IORT là một kỹ thuật đặc biệt có thể cung cấp một liều xạ trị duy nhất, tập trung cao liều bức xạ tại nền khối u sau phẫu thuật hoặc các khối u không thể cắt bỏ hết được, các khối u tái phát.

Trong IORT, các mô bình thường (như ruột hoặc các tạng khác) có thể được phẫu thuật viên đặt tránh xa vùng xạ trị nên rất ít tác dụng phụ.

IORT có nhiều loại kích thước của đầu phát tia bức xạ (applicator) khác nhau tùy thuộc vào diện cắt và hình dạng khối u, hơn nữa diện tích xạ trị hạn chế nên bảo vệ các cấu trúc bình thường xung quanh vùng chiếu xạ.

Hóa trị

: giai đoạn II B, III, IV. Bệnh nhân từ chối phẫu thuật, xạ trị.

Phương thức

Hóa chất đơn thuần: giai đoạn IV B.

Hóa chất tiền phẫu: giai đoạn II B.

Hóa chất hậu phẫu: sau phẫu thuật, kết quả mô bệnh học ở hạch, diện cắt dây chằng rộng, âm đạo dương tính (kết hợp với xạ trị).

Hóa chất kết hợp với xạ trị: giai đoạn II B, III, IV.

Trường hợp giai đoạn I B2, II A nếu bệnh nhân từ chối phẫu thuật có thể cân nhắc hóa chất kết hợp với xạ trị.

Các phác đồ Phác đồ cisplatin đơn thuần

Cisplatin: 50mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Hoặc

Cisplatin: 40mg/m 2, truyền tĩnh mạch hàng tuần, kết hợp với xạ trị.

Phác đồ capecitabine

Capecitabine 1.000-1.250mg/m 2/lần, uống 2 lần/ngày, ngày 1-14, chu kỳ 21 ngày

Hoặc

Capecitabine 825mg/m 2/lần, uống 2 lần/ngày, ngày 1-5, chu kỳ 21 ngày kết hợp với xạ trị.

UFT (Tegafur+Uracil): 100-125mg/m 2, uống x 3 lần/ngày, ngày 1-14, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ docetaxel đơn thuần

Docetaxel 100mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ paclitaxel đơn thuần

Paclitaxel 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ vinorelbine

Vinorelbine 30mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8 hoặc vinorelbin 60-80mg/m 2 da, uống ngày 1, 8. Chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ topotecan

Topotecan 1,5mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch, chu kỳ 3-4 tuần.

Phác đồ Irinotecan

Irinotecan 125mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8, 15, 28. Chu kỳ 42 ngày.

Phác đồ pemetrexed

Pemetrexed 900mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày

Phác đồ gemcitabine

Gemcitabine 800mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8, 15. Chu kỳ 21 ngày.

5-FU 370mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch bolus

Leucovorin 200mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch bolus, mỗi 4 tuần.

Phác đồ gemcitabine – cisplatin

Cisplatin 30mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8

Gemcitabine 800mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8. Chu kỳ 28 ngày.

Cisplatin: 50 -75mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

5 FU: 750mg-1.000mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1-4; chu kỳ 21-28 ngày, có thể kết hợp với xạ trị.

Paclitaxel 135mg/m 2, truyền tĩnh mạch 24 giờ ngày 1

Cisplatin: 50mg-75mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 2, chu kỳ 21 ngày

Hoặc

Paclitaxel 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Cisplatin: 75mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày

Hoặc

Paclitaxel 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Carboplatin: 300mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ topotecan – cisplatin

Topotecan 0,75mg/m 2, truyền tĩnh mạch trong 30 phút, ngày 1-3

Cisplatin: 50mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ topotecan – paclitaxel

Topotecan 0,75mg/m 2, truyền tĩnh mạch trong 30 phút, ngày 1-3

Paclitaxel: 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Phác đồ vinorelbine – cisplatin

Vinorelbine 30mg/m 2, truyền tĩnh mạch trong 6-10 phút, hoặc 60-80mg/m 2 uống, hàng tuần.

Cisplatin: 75mg/m 2, truyền tĩnh mạch trong 4 giờ ngày 1, chu kỳ 28 ngày.

Etoposide: 40mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Cisplatin: 25mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Chu kỳ 2 tuần, có thế kết hợp với xạ trị.

Ifosfamide: 5.000mg/m 2, truyền tĩnh mạch 24 giờ ngày 1

Cisplatin: 50mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày

Hoặc

Cisplatin: 20mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Ifosfamide: 1.200mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1-5, chu kỳ 21 ngày

Hoặc

Ifosfamide: 5.000mg/m 2, truyền tĩnh mạch 24 giờ ngày 1

Carboplatin: 300mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 28 ngày.

Phác đồ TIP

Paclitaxel: 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Cisplatin: 50mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Ifosfamide: 5.000mg/m 2, truyền tĩnh mạch 24 giờ ngày 2, chu kỳ 28 ngày.

Lưu ý: Trong các phác đồ khi truyền ifosfamide cần phối hợp truyền mesna liều từ 50% đến 100% liều ifosfamide, truyền trước và sau ifosfamide để hạn chế tác dụng phụ.

Điều trị đích Bevacizumab:

Thuốc kháng sinh mạch là kháng thể đơn dòng tái tổ hợp (monoclonal antibody), tác động đặc hiệu lên thụ thể tăng sinh nội mạc mạch máu (Vascular endothelial growth factor – VEGF) trên tế bào ung thư. Bevacizumab phát huy tác dụng làm giảm tăng sinh mạch, giảm nuôi dưỡng tế bào u, giảm khả năng di chuyển xâm nhập di căn của tế bào ung thư, đưa tế bào chết theo chương trình, làm tăng nhạy cảm của tế bào ung thư với hóa trị liệu.

Bevacizumab được chỉ định cho ung thư biểu mô cổ tử cung dai dẳng, tái phát hoặc di căn.

Liều dùng: 15mg/kg, truyền tĩnh mạch mỗi 3 tuần phối hợp với các phác đồ hóa chất cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được.

Bevacizumab 15mg/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1

Paclitaxel 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Cisplatin: 50mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Bevacizumab 15mg/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1

Topotecan 0,75mg/m 2, truyền tĩnh mạch trong 30 phút, ngày 1-3

Paclitaxel: 175mg/m 2, truyền tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày.

Các thuốc phân tử nhỏ: Sunitinib, Erlotinib, Lapatinib, Pazopanib đang được nghiên cứu trong điều trị ung thư cổ tử cung hứa hẹn kết quả khả quan.

Điều trị miễn dịch

Tháng 6 năm 2018, pembrolizumab đã được FDA phê duyệt để điều trị cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung có bộc lộ PD-L1 tái phát, di căn hoặc tiến triển bệnh trong hoặc sau khi hóa trị.

Liều pembrolizumab 200mg/m 2 tĩnh mạch ngày 1, chu kỳ 21 ngày, đến 2 năm hoặc khi bệnh tiến triển hoặc không dung nạp được.

Điều trị trong các trường hợp u xâm lấn rộng, di căn xa

U xâm lấn bàng quang, trực tràng: nếu còn khả năng phẫu thuật thì phẫu thuật vét đáy chậu trước, sau, toàn bộ + điều trị hóa xạ trị; nếu không còn khả năng phẫu thuật thì điều trị hóa xạ trị.

Khối u lan rộng chèn ép gây suy thận, chảy máu: xạ trị triệu chứng liều 30-50Gy; nếu hết suy thận và chảy máu thì xem xét khả năng điều trị hóa trị.

Khối u xâm lấn di căn xương: dùng thuốc chống hủy xương: zoledronic acid, pamidronat… kết hợp xạ trị giảm đau (xạ ngoài: 8Gy/1 lần hoặc 4,25Gy x 4 buổi hoặc 3Gy x 10 buổi hoặc 2Gy x 20 buổi) vào vùng tổn thương di căn xương gây đau hoặc xạ trong giảm đau bằng 32 P.

Khối u di căn não: xạ phẫu (bằng dao gamma, Cyberknife…) có thể kết hợp với xạ trị gia tốc toàn não.

TIÊN LƯỢNG

Ung thư cổ tử cung là bệnh có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán sớm, khả năng khỏi bệnh cao, nếu bệnh tiến triển giai đoạn muộn điều trị khó khăn, tiên lượng xấu, bệnh có thể sàng lọc để phát hiện sớm.

PHÒNG BỆNH

Dựa vào các yếu tố nguy cơ gây bệnh ở trên để đưa ra cách phòng bệnh thích hợp như:

Tiêm phòng vaccin chống HPV (human papillomavirus) cho trẻ em gái từ 9-25 tuổi.

Hạn chế quan hệ tình dục sớm, quan hệ với nhiều người.

Vệ sinh sinh dục tốt…

THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

Sau điều trị triệt căn:

Khám định kỳ 3 tháng 1 lần trong 5 năm đầu. Sau đó 1 năm 1 lần trong các năm tiếp theo.

Khám: Lâm sàng, cận lâm sàng, phụ khoa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai (2010). Điều trị nội khoa bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Chấn Hùng (2004). Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2014). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng, Nguyễn Tiến Quang (2019). Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Bùi Diệu và cs (2016). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Văn Hiếu (2010). Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2016). Kháng thể đơn dòng và phân tử nhỏ trong điều trị ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2013). Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa, Nguyễn Xuân Kử (2012). Một số tiến bộ về kỹ thuật xạ trị ung thư và ứng dụng trong lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa và cộng sự (2012). Y học hạt nhân (Sách dùng cho sau đại học). Nhà xuất bản Y học.

S. Lim, P. Chan, et al (2008). Cervix cancer regression measured using weekly MR imaging during fractionated radiotherapy: Radiobiologic modeling and correlation with tumor hypoxia. Int J Radiat Oncol Biol Phys; 70(1):126-33.

Alfonso Duenas – Gonzalez et al (2014). New molecular targets against cervical cancer. International Journal of Women’s Health;6: 1023-1031.

National Comprehensive Cancer Network (2019). Cervical Cancer, Version 2.2019. Clinical practice guidelines in oncology.

World Health Organization (2018). Cervical Cancer. International Agency for Research on Cancer, GLOBOCAN 2018.

Bạn đang xem bài viết Điều Trị Và Theo Dõi Ung Thư Đại Trực Tràng Tránh Tái Phát trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!