Xem Nhiều 1/2023 #️ Điều Trị Và Chăm Sóc Người Bị Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối # Top 9 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 1/2023 # Điều Trị Và Chăm Sóc Người Bị Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Điều Trị Và Chăm Sóc Người Bị Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ung thư gan giai đoạn cuối là căn bệnh ung thư phổ biến, đứng thứ tư trong các loại ung thư. Khi ở giai đoạn đầu bệnh thường khó phát hiện mà diễn ra âm thầm, lặng lẽ cho tới khi chẩn đoán thì người bệnh đã mắc ở giai đoạn cuối. Căn bệnh này để lại những triệu chứng nặng nề. Vậy nên điều trị và chăm sóc bệnh nhân như thế nào?

1. Tiến triển và triệu chứng của bệnh ung thư gan giai đoạn cuối

Khi mắc ung thư gan giai đoạn cuối, lúc này cơ quan gan xuất hiện nhiều khối u ác tính có kích thước lớn. Đồng thời, tế bào ung thư di căn tới mạch máu, xâm nhập qua cơ quan gần gan và nội tạng. Từ đó, bệnh nhân có những triệu chứng phổ biến sau:

Người bệnh không chỉ mệt mỏi về thể xác mà cảm thấy tinh thần, cảm xúc cũng bị giảm sút. Mặc dù nghỉ ngơi liên tục nhưng cảm giác này không thuyên giảm, ảnh hưởng rất lớn tới bệnh nhân.

Suy nhược cơ thể làm cho người bệnh ung thư cảm thấy chán ăn, ăn không ngon dẫn tới tình trạng sút cân, cơ thể gầy còm thiếu sức sống. Có người sút đột ngột 5 – 6 kg/tháng cũng có người sút từ từ.

Do chức năng gan suy giảm nên ảnh hưởng tới hệ thống tiêu hóa làm cho người bệnh có triệu chứng: Tiêu chảy, táo bón kèm theo đau quặn, đau bụng dữ dội thành cơn.

Ngoài ra, bệnh nhân cũng có cảm giác: Chướng bụng, đầy bụng, đầy hơi mặc dù ăn ít, thậm chí không ăn gì.

Khi bị bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, bạn sẽ sờ thấy khối u to xuất hiện ở bộ phận gan. Dấu hiệu này báo hiệu rằng cơ quan này bị phá hủy và tổn thương nghiêm trọng.

Ung thư gan ở giai đoạn cuối thường làm cho bệnh nhân phải chịu đựng những cơn đau tức khó chịu. Cơn đau diễn ra từng cơn và chỉ thuyên giảm đôi chút khi sử dụng thuốc giảm đau thông thường.

Bệnh nhân có dấu hiệu bụng phình lớn, phù chi dưới, cổ trướng gây cảm giác đau nhức. Nguyên nhân là do chất dịch trong khoang bụng chịu tác động bởi sự di căn của tế bào ung thư.

Đây là dấu hiệu đặc trưng nhất cho biết người bệnh mắc ung thư gan ở giai đoạn cuối. Lúc này, khối u ác tính phát triển lớn, chèn ép làm tắc nghẽn ống mật và gan nên gây ra triệu chứng vàng da, vàng mắt.

2. Điều trị bệnh ung thư gan ở giai đoạn cuối như thế nào?

Tùy vào cơ địa, thể chất và tình trạng của người mắc bệnh ung thư gan giai đoạn cuối mà bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị thích hợp. Mặc dù bệnh khó chữa hết hẳn nhưng mục đích chính vẫn là kéo dài thời gian sống và giảm cảm giác đau đớn cho bệnh nhân.

Khi mắc ung thư ở giai đoạn cuối, bệnh nhân có thể được điều trị bằng một trong những phương pháp sau:

Đây là phương pháp dùng thuốc đưa trực tiếp vào cơ thể bệnh nhân để tiêu diệt tận gốc và ngăn chặn quá trình phân chia các tế bào ung thư.

Thuốc hóa trị thường tiêm qua đường tĩnh mạch hoặc đôi khi dùng thuốc uống dạng viên, giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn trong suốt thời gian điều trị.

Biện pháp điều trị ung thư gan ở giai đoạn cuối sử dụng chùm tia phóng xạ xạ trị đã được đo đếm cẩn thận. Nhằm tiêu diệt và phá hủy tế bào ung thư, cũng như ngăn chặn chúng phân chia, phát triển thành khối u mới.

Sử dụng thuốc sorafenib (nexavar) chuyên dùng để cản trở quá trình tạo mạch máu và phát triển tế bào của khối u mới.

3. Cách chăm sóc người bị ung thư gan ở giai đoạn cuối

Chăm sóc người bệnh ung thư gan ở giai đoạn cuối đúng cách giúp giảm bớt triệu chứng đau đớn, cải thiện tinh thần và thể chất để kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Người nhà bệnh nhân chăm sóc người bệnh theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc áp dụng cách sau:

Lên kế hoạch thời gian để giúp người bệnh thực hiện những điều mà họ mong muốn.

Nhắc nhở người bệnh uống thuốc giảm đau đầy đủ, kết hợp cùng chế độ dinh dưỡng, luyện tập và nghỉ ngơi hợp lý.

Nếu người bệnh cảm thấy lo lắng, bồn chồn thì bạn cố gắng hỏi han, tìm hiểu xem họ có bị đau ở đâu hay không.

Trong trường hợp người bệnh hoảng sợ, bối rối hãy cố gắng giữ bình tĩnh, nói chuyện nhẹ nhàng để họ không giật mình, mất kiểm soát.

Đối với người bệnh đang trong giai đoạn điều trị và có sự thay đổi trao đổi chất thì người chăm sóc nên:

Tiếp tục cho bệnh nhân uống thuốc giảm đau, nhằm giảm các cảm giác buồn nôn, nôn, co giật và sốt cao đột ngột.

Trong trường hợp người bệnh còn sức di chuyển tốt thì người nhà nên dành thời gian đưa họ đi thư giãn ở nơi yên tĩnh, trong lành để cải thiện tâm trí và tinh thần.

Nếu người bệnh bị khô môi thì bạn sử dụng son dưỡng thiên nhiên để giữ ẩm cho môi.

Cho người bệnh uống nhiều nước, nước ép trái cây hoặc sinh tố để bổ sung dưỡng chất.

4. Chế độ dinh dưỡng dành cho bệnh nhân bị ung thư gan ở giai đoạn cuối

Ngoài thực hiện biện pháp điều trị và chăm sóc, yếu tố dinh dưỡng cũng đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe người mắc bệnh ung thư gan.

Để cải thiện các cơn đau và ngăn ngừa bệnh tiến triển nhanh, bệnh nhân ung thư gan cần ăn bổ sung các loại thực phẩm sau:

Ăn thực phẩm chay hoặc thực dưỡng: Gạo lứt, hạt kê, ngô, đậu xanh, đậu đỏ,… Tuy nhiên cần kết hợp ăn đầy đủ chất để cơ thể không bị thiếu chất do ăn chay trong giai đoạn này.

Thực phẩm giàu protein nên ăn với mức độ vừa phải, nhằm giảm tải gánh nặng cho gan.

Bổ sung nhiều rau củ tươi như: Cà rốt, cà chua, súp lơ, măng tây, bắp cải. Cùng các loại trái cây: Kiwi, dưa hấu, táo, đào, hạt óc chó, hạt vừng.

Chia thành nhiều bữa nhỏ với lượng ăn vừa đủ, tránh ăn dồn thành 2 – 3 bữa dễ làm hệ tiêu hóa bị quá tải, khó hấp thu chất dinh dưỡng thiết yếu.

Bên cạnh đó, người bệnh cần ăn bổ sung nhiều thực phẩm giàu vitamin A, vitamin C cùng khoáng chất theo chỉ định của bác sĩ.

Bên cạnh ăn thực phẩm có lợi, người bị ung thư gan ở giai đoạn cuối cần kiêng kỵ những nhóm sau:

Thực phẩm giàu chất béo, đồ ngọt: Khoai chiên, bánh ngọt, bánh nướng, thịt mỡ,… nạp vào cơ thể thường gây áp lực cho cơ quan dạ dày, ảnh hưởng tới gan. Do đó, người bệnh cần gạt ra khỏi thực đơn ăn uống.

Thực phẩm giàu protein: Sữa, thịt gia cầm, thịt heo, cá,… làm cho gan phải mất quá nhiều thời gian xử lý, dẫn tới chất độc tích tụ trong gan và cơ thể làm cho bệnh ung thư nghiêm trọng hơn.

Thực phẩm nhiều muối: Người bệnh ung thư gan cũng nên kiêng đồ ăn nêm nếm quá nhiều muối. Bởi ăn mặn bình thường đã không tốt, đối với người ung thư gan lại càng nguy hiểm, dễ làm bệnh tiến triển nặng.

Như vậy, bệnh ung thư gan giai đoạn cuối để lại nhiều di chứng, gây cảm giác đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Lúc này, người bệnh cần được người nhà chăm sóc và điều trị đúng cách, nhằm kéo dài thời gian sống cho họ.

Cách Chăm Sóc Người Thân Bị Ung Thư Phổi Giai Đoạn Cuối

Đa số bệnh nhân phát hiện mình mắc ung thư phổi khi bệnh đã chuyển sang ung thư phổi giai đoạn cuối. Vậy người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối sống được bao lâu?

Tại Việt Nam, ung thư phổi là căn bệnh phổ biến nhất ở nam giới và thứ 3 ở nữ giới. Mỗi năm nước ta có khoảng 22.000 trường hợp mắc mới ung thư phổi và gần 20.000 ca tử vong do ung thư phổi được ghi nhận. Ước tính tới năm 2020, số ca mắc ung thư phổi ở cả nam giới và nữ giới ở Việt Nam có thể lên tới trên 34.000 mỗi năm. Điều đáng tiếc là tới 70% người bệnh ung thư phổi tại Việt Nam phát hiện mắc bệnh ở giai đoạn muộn, gây ảnh hưởng tới tiên lượng và hiệu quả điều trị.

Phân loại ung thư phổi giai đoạn cuối

Ung thư phổi giai đoạn cuối là một khái niệm rộng. Vì vậy, người bệnh thường có những đặc điểm lâm sàng khác nhau, điều trị và tiên lượng cũng khác nhau.

Ung thư phổi được chia làm 2 loại là ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm 85%.

* Ung thư phổi không tế bào nhỏ: Ung thư phổi không tế bào nhỏ được chia làm các giai đoạn: 0, 1, 2, 3A, 3B, 4. Nếu mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư giai đoạn cuối tương đương với giai đoạn 4.

* Ung thư phổi tế bào nhỏ: Nếu mắc ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư phổi giai đoạn 4 tương đương với giai đoạn khối u đã di căn và lan rộng. Khối u đã di căn xa tới nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể ví dụ như xương, não…

Ngoài ra, ung thư phổi giai đoạn cuối cũng được phân loại dựa theo đột biến gene. Một số trường hợp ung thư phổi giai đoạn cuối có biểu hiện protein PD-1 ở mức cao hoặc mang các đột biến gene như ROS1, EGFR, ALK… Một số trường hợp ung thư phổi lại âm tính với các đột biến này hoặc không biểu hiện PD-1.

Triệu chứng ung thư phổi giai đoạn cuối

Đa số trường hợp ung thư phổi không xuất hiện triệu chứng cho tới khi khối u lan rộng. Tuy nhiên một số người mắc ung thư phổi kể cả giai đoạn sớm cũng có thể xuất hiện triệu chứng và khi càng đến giai đoạn cuối thì các triệu chứng sẽ càng rõ rệt.

Vì thế, người bệnh nếu nghi ngờ mình có các triệu chứng của ung thư phổi thì hãy đi khám sớm nhất có thể để thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán. Bệnh càng được phát hiện sớm thì cơ hội điều trị và chữa khỏi càng cao, tiên lượng càng tốt.

Những triệu chứng sau đây có thể là triệu chứng của những bệnh khác, không chỉ của bệnh ung thư phổi. Tuy nhiên, đây là những triệu chứng người mắc ung thư phổi giai đoạn cuối thường gặp phải.

1. Triệu chứng khi có một khối u trong phổi

Hụt hơi

Khò khè

Khàn tiếng

Ho dai dẳng

Ho ra máu (hemoptysis)

Đau ngực, lưng, vai hoặc cánh tay

Viêm phổi hoặc viêm phế quản tái đi tái lại nhiều lần

2. Triệu chứng khối u di căn đến các khu vực khác

Khối u di căn tới xương: gây triệu chứng như đau ở lưng, hông hoặc xương sườn.

Khối u xâm lấn tới thực quản: gây khó nuốt.

Khối u di căn tới não: có thể gây nhức đầu, làm thị lực thay đổi và gây co giật.

Khối u xâm lấn tới gan: có thể gây vàng da.

Nhấn vào và xem sơ đồ giải phẫu các giai đoạn bệnh ung thư phổi để hiểu rõ hơn

3. Triệu chứng thường gặp khi khối u đã di căn

Nếu bạn thấy xuất hiện các triệu chứng ung thư phổi thì cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Cách chữa ung thư phổi giai đoạn cuối

Ung thư phổi giai đoạn cuối khiến quá trình điều trị trở nên khó khăn hơn do thường được phát hiện quá muộn. Nhờ sự phát triển của y học hiện đại, người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối đã có nhiều lựa chọn điều trị mang lại hiệu quả cao và ít tác dụng phụ hơn.

Cách chữa ung thư phổi giai đoạn cuối còn tùy thuộc vào loại ung thư phổi (ung thư phổi tế bào nhỏ hay ung thư phổi không tế bào nhỏ).

Trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ

Quyết định lựa chọn điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn cuối phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm:

Tình trạng sức khỏe của người bệnh

Nơi khối u ở phổi đã di căn xa hay gần

Khối u có mang đột biến gene hay không

Những người mắc ung thư phổi giai đoạn cuối ở độ tuổi còn trẻ và có sức khỏe tốt có thể lựa chọn các phương pháp điều trị như:

Các liệu pháp này không giúp chữa khỏi ung thư hoàn toàn nhưng có thể hỗ trợ kiểm soát khối u và làm giảm triệu chứng giúp người bệnh thường có tiên lượng tốt nên có thể sống lâu hơn.

Đối với những trường hợp phát hiện ung thư phổi khi sức khỏe yếu, suy kiệt, tuổi cao và phát hiện quá muộn thì cần điều trị ung thư kết hợp chăm sóc giảm nhẹ. Đây có thể là lựa chọn để nâng cao chất lượng sống cho người bệnh và giảm bớt đau đớn.

Trường hợp khối u chưa di căn xa và rộng

Ở những trường hợp này, khối u mới chỉ xuất hiện ở phổi và di căn tới một nơi khác (ví dụ như não). Người bệnh vẫn có cơ hội điều trị khi ở giai đoạn này, thậm chí là chữa khỏi (dù tỷ lệ chữa khỏi không cao).

Người bệnh sẽ được xem xét khả năng điều trị bằng phẫu thuật để loại bỏ khối u và cân nhắc kết hợp với xạ trị để kiểm soát khối u ở khu vực mà khối u ở phổi di căn tới. Ví dụ trong trường hợp ung thư phổi giai đoạn cuối di căn não, khối u ở não có thể được điều trị bằng phẫu thuật hoặc xạ trị bằng bức xạ lập thể. Bác sĩ cũng có thể chỉ định phẫu thuật, sau đó là xạ trị.

Trường hợp khối u đã di căn rộng

Đối với trường hợp mắc ung thư phổi giai đoạn cuối khối u đã lan rộng ra khắp cơ thể, các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra đột biến gene (bao gồm các gene EGFR, ALK, ROS1, BRAF, RET, MET và NTRK). Nếu các tế bào ung thư mang đột biến trên, bác sĩ sẽ thường đề xuất dùng liệu pháp điều trị trúng đích hay còn gọi là thuốc đích trước.

* Khối u mang đột biến gene ALK: Thuốc ức chế ALK thường được sử dụng đầu tiên. Nếu thuốc này ngưng phát huy hiệu quả thì loại thuốc ức chế ALK tiếp theo sẽ được sử dụng.

* Khối u mang đột biến gene EGFR: Thuốc anti-EGFR sẽ được sử dụng đầu tiên.

* Khối u mang đột biến gene ROS1: Các loại thuốc như crizotinib (Xalkori), entrectinib (Rozlytrek), hoặc ceritinib (Zykadia) có thể được sử dụng.

* Khối u mang đột biến gene BRAF: Phương pháp điều trị có thể kết hợp sử dụng dabrafenib (Tafinlar) và trametinib (Mekinist).

* Khối u mang đột biến gene RET: Người bệnh thường được chỉ định sử dụng thuốc selpercatinib (Retevmo).

* Khối u mang đột biến gene MET: Thuốc điều trị có thể là thuốc capmatinib (Tabrecta).

* Khối u mang đột biến gene NTRK: Thuốc điều trị có thể là larotrectinib (Viktravi) hoặc entrectinib (Rozlytrek).

Các bác sĩ cũng có thể kiểm tra biểu hiện của protein PD-L1. Những khối u có biểu hiệu PD-L1 ở mức cao thường đáp ứng tốt với một số liệu pháp điều trị miễn dịch. Trong trường hợp này, người bệnh có thể lựa chọn điều trị bằng pembrolizumab (Keytruda) hoặc atezolizumab (Tecentriq) kết hợp với hóa trị hoặc sử dụng pembrolizumab riêng lẻ.

Hóa trị là liệu pháp điều trị chính trong đa số trường hợp các người bệnh mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn cuối. Thông thường, bệnh nhân sẽ trải qua hóa trị cho tới khi sức khỏe còn có thể đảm bảo chịu đựng phương pháp hóa trị.

Hóa trị cũng có thể được sử dụng cùng với các phương pháp điều trị khác bao gồm:

* Liệu pháp miễn dịch pembrolizumab (Keytruda): Liệu pháp miễn dịch pembrolizumab thường là phương pháp điều trị cùng hóa trị.

* Thuốc đích bevacizumab (Avastin): Thuốc đích này được sử dụng với những người bệnh không có nguy cơ chảy máu cao (những người không bị ho ra máu).

* Đặt ống thông vào ngực qua da: Nếu khối u gây ra tình trạng tràn dịch màng phổi, dịch trong phổi cần được rút ra. Nếu tình trạng này tiếp tục tiếp diễn người bệnh có thể sẽ được đặt ống thông vào ngực qua da để dịch màng phổi có thể chảy ra ngoài.

Đối với ung thư phổi giai đoạn cuối, phác đồ điều trị có thể thay đổi và liên tục được điều chỉnh tùy theo tình trạng sức khỏe của người bệnh và hiệu quả điều trị. Ví dụ nếu người bệnh có sức khỏe yếu có thể chỉ hóa trị một toa thay vì hai toa. Nếu người bệnh không thể điều trị bằng hóa trị thì xạ trị thường là biện pháp thay thế. Những biện pháp điều trị tại chỗ có thể giúp cải thiện triệu chứng do khối u ở phổi gây ra như tia laser, ống thông…..

Những liệu pháp điều trị hiện có cho thấy tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn ung thư phổi giai đoạn cuối chưa cao. Tuy nhiên, các nhà khoa học đang liên tục nghiên cứu và phát triển các liệu pháp điều trị mới. Người bệnh hãy cân nhắc và tìm hiểu về cơ hội tham gia thử nghiệm lâm sàng điều trị ung thư phổi giai đoạn cuối để có cơ hội điều trị bằng các loại thuốc mới nhất.

Trường hợp ung thư phổi tế bào nhỏ

Ở giai đoạn cuối, khối u đã di căn rộng và xa tới các cơ quan trong cơ thể. Vì vậy, phương pháp phẫu thuật hoặc xạ trị không còn là liệu pháp điều trị khả thi. Nếu người bệnh mắc ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn cuối mà có sức khỏe ổn định và có thể chịu đựng hóa trị thì lựa chọn điều trị đầu tiên cho người bệnh có thể là hóa trị hoặc hóa trị kết hợp với liệu pháp miễn dịch.

Phác đồ hóa trị phổ biến nhất là etoposide kết hợp với cisplatin hoặc carboplatin. Lựa chọn phác đồ điều trị đầu tiên có thể là liệu pháp miễn dịch atezolizumab (Tecentriq) hoặc durvalumab (Imfinzi) được dùng kết hợp với etoposide và 1 loại thuốc platinum (cisplatin hoặc carboplatin).

Sau đó, liệu pháp miễn dịch atezolizumab (Tecentriq) hoặc durvalumab (Imfinzi) có thể tiếp tục sử dụng riêng lẻ để điều trị bảo tồn. Ở đa số trường hợp, kích thước khối u sẽ nhỏ đi đáng kể và trong một số trường hợp khối u thậm chí quá nhỏ để có thể phát hiện bằng chẩn đoán hình ảnh.

Phương pháp kết hợp liệu pháp miễn dịch PD-1 với hóa trị là cách giúp một số người bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn cuối sống lâu hơn. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là ung thư phổi tế bào nhỏ thường tái phát với tỷ lệ rất cao.

Nếu người bệnh đáp ứng tốt với thuốc điều trị ở giai đoạn đầu, xạ trị vùng ngực có thể được chỉ định để hỗ trợ điều trị. Xạ trị não cũng có thể được xem xét để ngăn ngừa nguy cơ khối u ở phổi di căn tới não.

Nếu khối u ở phổi gây ra các triệu chứng như hụt hơi, chảy máu thì một số biện pháp như xạ trị hoặc phẫu thuật bằng laser có thể hữu ích. Xạ trị có thể được sử dụng để giảm bớt triệu chứng nếu khối u lan tới xương, não hoặc tới tủy sống.

Nếu sức khỏe của người bệnh quá yếu và suy kiệt, người bệnh có thể không vượt qua được tác dụng phụ của toa hóa trị thông thường. Trong trường hợp này, bác sĩ có thể xem xét giảm liều và điều trị bằng hóa trị liều thấp hoặc tư vấn về chăm sóc giảm nhẹ. Các biện pháp chăm sóc giảm nhẹ sẽ hỗ trợ điều trị triệu chứng và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

Tỷ lệ sống sau 5 năm dùng để xác định trong 100 người bệnh có bao nhiêu người còn sống sau 5 năm phát hiện bệnh. Đối với ung thư phổi giai đoạn cuối, tỷ lệ sống sau 5 năm là 4,7%. Điều này nghĩa là trung bình 100 người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối thì có khoảng 5 người sống sau 5 năm.

Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót tương đối không tính đến những cải thiện gần trong điều trị mà dựa trên chẩn đoán và điều trị bệnh trong ít nhất 5 năm trước đó. Nếu bệnh được phát hiện và bắt đầu điều trị từ thời điểm ví dụ năm 2020 thì tỷ lệ này sẽ được xác định vào năm 2025.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các liệu pháp điều trị giúp người bệnh ung thư phổi có nhiều lựa chọn hơn nên có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của mình sau 5 năm. Nhờ đó, tiên lượng ung thư phổi giai đoạn cuối sẽ được cải thiện rất nhiều và cao hơn nhiều so với tỷ lệ 4,7%.

Tỷ lệ 4,7% cũng chỉ là con số thống kê từ nhiều người bệnh. Tuy nhiên, mỗi người bệnh có tiên lượng không giống nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm:

* Tình trạng sức khỏe hiện tại: Nếu tại thời điểm phát hiện mắc ung thư phổi giai đoạn cuối sức khỏe của người bệnh càng tốt thì sẽ càng có nhiều lựa chọn điều trị hơn. Người bệnh cũng có thể chịu đựng các tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị tốt hơn, khối u càng nhanh chóng được kiểm soát và cơ hội sống càng cao. Ngược lại nếu người bệnh có sức khỏe yếu, kiệt quệ hoặc mắc các bệnh nền khác thì lựa chọn điều trị càng ít và khả năng dung nạp thuốc điều trị càng thấp.

* Giới tính: Theo hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, nguy cơ mắc ung thư phổi ở phụ nữ là 1/17, tỷ lệ này ở nam giới là 1/15.

* Chủng tộc: Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ cũng chia sẻ những số liệu cho thấy phụ nữ da đen có nguy cơ mắc ung thư phổi thấp hơn 10% so với phụ nữ da trắng. Tuy nhiên, nam giới da đen lại có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn 20% so với nam giới da trắng.

* Đáp ứng với thuốc điều trị: Nếu cơ thể người bệnh đáp ứng tốt với thuốc điều trị thì người bệnh sẽ có tiên lượng tốt do khối u được kiểm soát.

Chăm sóc người ung thư phổi giai đoạn cuối

Người chăm sóc cần biết về những vấn đề sức khỏe, tâm lý, tình cảm mà người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối có thể gặp phải để thông cảm, chia sẻ và đặc biệt là hỗ trợ người bệnh.

Các triệu chứng người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối thường gặp phải bao gồm:

* Mệt mỏi: Người mắc ung thư phổi giai đoạn cuối có thể cảm thấy rất mệt mỏi về thể chất, tâm lý và tinh thần. Một số loại thuốc và liệu pháp ví dụ như massage, liệu pháp mùi hương có thể giúp giảm bớt mệt mỏi thể chất. Người chăm sóc cũng có thể hỏi ý kiến bác sĩ và hỗ trợ người thân có không gian sống dễ chịu, hay giúp xoa bóp để giảm bớt mệt mỏi.

* Đau đớn: Người bệnh có thể cảm thấy rất đau đớn và khó chịu.

* Khó thở: Tình trạng khó thở thường gặp ở những người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối.

* Ho dai dẳng: Người bệnh có thể gặp những cơn ho dai dẳng do khối u chặn các phế quản.

* Chảy máu: Khối u di căn tới các phế quản chính có thể gây chảy máu.

* Thay đổi vị giác, chán ăn: Mệt mỏi, khó chịu và một số loại thuốc có thể khiến người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối có cảm giác chán ăn hay giảm khẩu vị. Người mắc ung thư phổi có thể cảm thấy thức ăn không có mùi vị hấp dẫn hoặc nhanh no.

* Thay đổi cảm xúc: Người mắc ung thư phổi có thể cảm thấy mình không còn hứng thú với những thứ trước đây vốn làm họ cảm thấy thích thú. Người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối thường trải qua những những cú sốc tâm lý với cảm xúc sợ hãi, tức giận, bi quan, buồn bã… Vì thế, tinh thần lạc quan có ý nghĩa rất quan trọng khi chăm sóc người thân bị ung thư phổi giai đoạn cuối.

Theo một nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Annals of Oncology năm 2012, người chăm sóc đóng vai trò rất quan trọng giúp người bệnh ung thư đối diện với bệnh tật, sợ hãi, vượt lên nghịch cảnh và tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Người chăm sóc không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối. Người chăm sóc người bệnh ung thư phổi cũng cần phải nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần để cùng đồng hành với người bệnh.

Người chăm sóc có thể phải làm nhiều công việc vất vả để hỗ trợ người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày, từ bữa ăn giấc ngủ, dọn dẹp vệ sinh tới các vấn đề về tài chính, điều trị. Những điều này có thể khiến người chăm sóc kiệt sức và bị quá tải. Các dấu hiệu thường gặp nhất cho thấy người chăm sóc đang bị quá tải và kiệt sức bao gồm:

Mệt mỏi

Đau mỏi toàn thân

Tăng hoặc giảm khẩu vị

Thường xuyên bị đau đầu

Các vấn đề tâm lý:

Để trở thành chỗ dựa vững chắc nhất cho người bệnh ung thư phổi, người chăm sóc cần luôn giữ sức khỏe tốt với tinh thần tích cực và lạc quan. Nếu gặp khó khăn, người chăm sóc nên tìm kiếm sự giúp đỡ của gia đình và các tổ chức cũng như bác sĩ tâm lý.

Ung thư phổi là một căn bệnh hết sức nguy hiểm mà không ai có thể chủ quan được. Người bệnh càng phát hiện sớm thì càng có khả năng kéo dài thời gian sống và nâng cao sức khỏe. Đặc biệt, người ung thư phổi giai đoạn cuối cần giữ tinh thần lạc quan và điều trị bệnh theo phác đồ của bác sĩ. Thời gian người bệnh sống được bao lâu phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực kiên trì của bản thân!

Chăm Sóc Người Bệnh Ung Thư Phổi Giai Đoạn Cuối

Nếu bạn đang có người thân không may mắc bệnh ung thư phổi. Bài viết này của Emuglucan chắc chắn sẽ rất hữu ích đối với bạn và gia đình.

Lưu ý tác nhân bên ngoài.

Người bệnh ung thư phổi thường rất nhạy cảm với không khí xung quanh. Do đó, người chăm sóc cần thường xuyên dọn dẹp nơi nghỉ ngơi của người bệnh. Nơi nghỉ ngơi luôn được đảm bảo thoáng mát, sạch sẽ, nhiệt độ và độ ẩm ổn định. Phòng nghỉ ngơi của người bệnh nên có cửa sổ để ánh sáng mặt trời làm ấm không gian và khử các vi khuẩn ẩm mốc trong không khí. Ngoài ra, bản thân ánh sáng mặt trời cũng rất tốt cho người bị ung thư khi là nguồn cung cấp Vitamin D bất tận.

Hạn chế để người bệnh đến những nơi công cộng, có nhiều khói bụi và vi khuẩn. Tốt nhất nên để người bệnh nghỉ ngơi ở nơi có nhiều cây xanh, không khí trong lành.

Dinh dưỡng là một nhân tố quan trọng trong quá trình điều trị bệnh. Thường với người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối, nên cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng thông qua các thực phẩm tươi mỗi ngày. Những chất dinh dưỡng này gồm Protein, Vitamin, Calo thường thấy trong các loại cá, thịt, trứng, rau quả… có tác dụng khôi phục và tăng cường sức đề kháng cho người bệnh.

Lưu ý về trạng thái sức khỏe người bệnh.

Khi ở vào giai đoạn cuối của bệnh ung thư phổi, cũng là lúc tế bào ung thư đã di căn sang các cơ quan khác trong cơ thể. Lúc này, các phương pháp điều trị ung thư phổi bên cạnh việc tấn công tế bào ung thư gốc, còn có nhiệm vụ khác đó là tiêu diệt các tế bào di căn. Chính vì vậy, người bệnh sẽ thường cảm thấy mệt mỏi, buồn nôn, ho nhiều… Người chăm sóc nên lưu ý về diễn biến sức khỏe của người bệnh và có thông báo kịp thời cho bác sỹ phụ trách để có những điều chỉnh thích hợp về các loại thuốc.

Tuyệt đối không được tự ý cho người bệnh uống các loại thuốc không nằm trong chỉ định của bác sỹ, dù là thuốc cảm thông thường, cũng như các loại thực phẩm chức năng khác. Mọi sự can thiệp về mặt y tế phải có sự đồng ý của bác sỹ và cần được tuân thủ triệt để về liều lượng và cách dùng.

Lưu ý về tâm lý người bệnh.

Bên cạnh sức khỏe, tâm lý cũng là điều cần lưu ý khi chăm sóc cho bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối. Lúc này, người bệnh thường dễ gặp phải các trạng thái tâm lý bi quan. Một phần do tác động của các tế bào ung thư lên cơ thể gây nhức nhối, phần là do lo sợ về tương lai của mình. Do đó, người chăm sóc cần luôn túc trực ở bên, trò chuyện, động viên người bệnh. Bất kể dấu hiệu tiến triển nào của quá trình điều trị, hãy lấy đó làm động lực để cổ vũ người bệnh tiếp tục chiến đấu.

Chăm Sóc Bệnh Nhân Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối

CHĂM SÓC BỆNH NHÂN UNG THƯ GAN GIAI ĐOẠN CUỐI

BỆNH HỌC VỀ UNG THƯ GAN

Đại cương

Ung thư biểu mô tế bào gan (hepato-cellular carcinoma)

Ung thư biểu mô đường mật (cholangio-cellular carcinoma).

Các loại khác: ung thư nguyên bào gan, Angiosarcome

Bệnh nguyên và yếu tố nguy cơ

Virut viêm gan B

Tần suất ung thư gan ở người mang HBsAg (+)cao hơn 200 lần so với người có HBsAg (-).

Protein X trên genome virut B có lẽ có vai trò trong đột biến gây ung thư.

Vùng dịch tễ nhiễm virut viêm gan B cao thì cũng có tần suất ung thư gan cao.

Gây ung thư gan qua 2 cơ chế: trực tiếp và gián tiếp qua trung gian xơ gan.

Virut viêm gan C

Các nghiên cứu về sinh học phân tử, sử dụng RT-PCR đã cho phép phát hiện ARN của virut C trong 50-70% huyết thanh và trong 55-100% tổ chức gan ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) và HbsAg(-).

Những bệnh nhân ung thư gan có Anti-HCV dương tính (có hoặc không có HBsAg) thường có các thương tổn gan nặng hơn so với những bệnh nhân chỉ có HBsAg dương tính và gan thường có nhiều khối u hơn.

Xơ gan

Do bất kỳ nguyên nhân nào.

Aflatoxin B1

Độc tố nấm mốc (Aspergillus), thường gặp trong đậu phụng mốc, được chứng minh là chất gây ung thư gan ở chuột, gia cầm.

Vai trò sinh ung thư có lẽ qua trung gian chất chuyển hóa là Epoxide gắn vào các acid nucleic và thay đổi sự sao mã ADN.

Một số tác giả cho rằng Aflatoxine chỉ ức chế miễn dịch qua trung gian tế bào và tạo thuận lợi cho nhiễm HBV tiến triển.

Tương tác với protein 53 đột biến.

Các yếu tố khác

Rượu: có lẽ thúc đẩy quá trình sinh ung thư

Nội tiết tố nam androgen, thuốc ngừa thai uống

Hóa chất (Thorotrast)

Ký sinh trùng (Schistosoma japonicum, Sch. mansoni, clonorchis sinensis)

Thiếu alpha 1-antitrypsin

Nhiễm huyết thiết tố (Hémechromatose), hội chứng Budd-Chiari

Lâm sàng

Đau bụng: thường gặp, cảm giác nặng tức hạ sườn phải, lan sau lưng, hiếm khi đau dữ dội.

Rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, nôn, đi chảy.

Sốt: liên tục, dao động.

Gầy sút: rõ ở giai đoạn muộn.

Gan lớn: nhìn thấy hoặc sờ thấy dưới bờ sườn phải, cứng, bề mặt không

đều, đau nhiều hoặc ít, có khi cố định không di động theo nhịp thở. Có khi gan lớn vượt quá đường giữa.

Vàng da: chủ yếu do chèn ép đường mật trong gan.

Cổ trướng: ít hoặc nhiều, có thể gặp báng máu, tái tạo nhanh sau chọc tháo.

Nghe: tiếng thổi trên vùng gan.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm

Công thức máu: thiếu máu, cá biệt có khi có đa hồng cầu.

Tốc độ lắng máu tăng.

Chức năng gan: chỉ rối loạn trong ung thư gan trên nền xơ gan hoặc khi khối u chiếm trên 75% thể tích gan. Enzyme phosphatase kiềm, gamma GT, 5 ‘ Nucléotidase, Alpha-2 globulin, SGOT thường cao hơn SGPT, Fibrinogen tăng, giảm đường máu.

Các chất chỉ điểm ung thư:

Alpha Foeto Protein (AFP): là một glycoprotein do gan phôi sản xuất, giảm 3 tuần sau sinh, nồng độ ở người trưởng thành khoảng 4-10 ng/ml.

AFP có ái lực Lectin (AFP-L3) mới được tìm ra, đặc hiệu hơn AFP nhưng kỹ thuật xét nghiệm phức tạp.

Nếu không có điều kiện định lượng, có thể định tính AFP bằng phương pháp miễn dịch khuếch tán (Ouchterlony).

DCP (Descarboxy Prothrombin hay PIVKA-II): dương tính ở 70% bệnh nhân ung thư gan nguyên phát và khoảng 50% ở những bệnh nhân ung thư gan có AFP bình thường.

Alpha L-Fucosidase: enzym này tăng cao trong ung thư gan nguyên phát, với độ đặc hiệu 90% và độ nhạy khoảng 75%, cũng tăng trong u gan lành tính.

Thăm dò hình ảnh

Siêu âm

Một hoặc nhiều khối (nodule) trong gan.

Echo giàu, nghèo, hỗn hợp, dạng khảm.

Xô đẩy mạch máu, đường mật, viền giảm âm chung quanh.

Tăng sinh mạch máu trong u, thường có huyết khối trong tĩnh mạch cửa.

Hướng dẫn chọc hút, sinh thiết.

Chụp cắt lớp tỷ trọng

Một hoặc nhiều khối giảm đậm độ (hypodense), bắt thuốc không đều, giúp hướng dẫn chọc hút, sinh thiết.

Chụp động mạch

Xét nghiệm cơ bản tiền phẫu, giúp xác định vị trí, tưới máu, khả năng cắt bỏ u

Giải phẫu bệnh

Sinh thiết

Sinh thiết dưới sự hướng dẫn của siêu âm, CT-scan hoặc soi ổ bụng. Sinh thiết: chính xác nhưng dễ chảy máu.

Chọc hút kim nhỏ

Ít biến chứng, nhưng độ chính xác và độ nhạy thấp hơn sinh thiết.

Tiến triển và biến chứng

Tiến triển

Thường nặng, tiên lượng xấu, tử vong 6-12 tháng

Các biến chứng

Báng ung thư.

Vàng da do chèn ép đường mật trong gan.

Xuất huyết: Xuất huyết tiêu hóa cao, xuất huyết vào phúc mạc do vỡ nhân ung thư.

Chèn ép tĩnh mạch: trên gan hoặc tĩnh mạch chủ dưới.

Di căn: trong gan, phổi, màng phổi, xương, hạch, não.

CHĂM SÓC BỆNH NHÂN UNG THƯ GAN GIAI ĐOẠN CUỐI

Bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối khi vào bệnh viện có thể chết đột ngột. Trách nhiệm đầu tiên của người điều dưỡng trong việc chăm sóc bệnh nhân là tạo sự thoải mái tới mức có thể đáp ứng các nhu cầu về mặt tình cảm của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân. Việc chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối cũng quan trọng như chăm sóc bệnh nhân đang hồi phục.

Mục đích của chăm sóc bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối là phối hợp về điều trị, chăm sóc và nâng đỡ cho bệnh nhân. Hỗ trợ về mặt thể chất, tâm lý, tình cảm và tinh thần cho bệnh nhân và thân nhân.

Điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức mạnh thể chất và tinh thần cho người bệnh.

Nhận định

Đứng trước một bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối, người điều dưỡng cần xác định các triệu chứng và biến chứng gây ra đau đớn, khó chịu cho người bệnh.

Nhận định qua hỏi bệnh nhân

Bệnh nhân có tiền sử viêm gan virus hay nghiện rượu không?

Cảm giác nặng tức hạ sườn phải, lan sau lưng hay không? Đau nhức các nội tạng khác hoặc xương trong trường hợp có di căn. Đau có giảm khi dùng các thuốc giảm đau thông thường không?

Chán ăn, buồn nôn, nôn, đi chảy không?

Bệnh nhân có triệu chứng sốt trước khi vào viện hay không?

Có sụt cân nhiều trong thời gian gần đây không?

Quan sát

Da, mắt có vàng không?

Bụng có chướng không?

Bệnh nhân có chảy máu chân răng, chảy máu cam, chảy máu dưới da không?

Gầy, sút cân thường rõ trong ung thư gan giai đoạn cuối.

Thăm khám bệnh nhân

Ngoài các dấu chứng cơ năng do hỏi bệnh và quan sát được. Khám thường phát hiện gan lớn, đau, vàng da, báng. Lấy dấu hiệu sống.

Bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối thường có các dấu chứng khác kèm theo như: buồn nôn và nôn, xuất huyết tiêu hóa, táo bón, ăn uống kém, tưa miệng do nấm candida, lo âu, cảm giác mất mát, trầm cảm, lú lẩn, mê sảng, co giật.

Bên cạnh các dấu hiệu trên cần tìm hiểu các triệu chứng sinh học như thiếu máu, hạ đường huyết, các chức năng gan bị rối loạn…

Chẩn đoán điều dưỡng

Một số chẩn đoán chính có thể có đối với bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối

Táo bón do nằm lâu

Đau do chèn ép

Suy dinh dưỡng do ăn kém

Lo lắng do tình trạng bệnh nặng

Nguy cơ nhiễm trùng do suy giảm miễn dịch và suy dinh dưỡng.

Nguy cơ xuất huyết do vỡ nhân ung thư

Lập kế hoạch chăm sóc

Những biện pháp chung

Làm giảm hay ngăn ngừa triệu chứng

Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, chăm sóc toàn diện

Chế độ ăn lỏng, dễ tiêu. Đảm bảo năng lượng và vitamin

Hạn chế muối khi có phù, cổ trướng

Vệ sinh răng miệng và vệ sinh thân thể cho bệnh nhân.

Lập kế hoạch thực hiện các y lệnh

Cho bệnh nhân uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định.

Làm các xét nghiệm theo yêu cầu.

Thực hiện y lệnh chính xác kịp thời.

Chuẩn bị bệnh nhân, dụng cụ, thuốc men, phụ giúp thầy thuốc chọc hút dịch màng bụng khi có chỉ định.

Lập kế hoạch theo dõi

Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở và cân nặng.

Vị trí đau, hướng lan.

Các dấu chứng hôn mê gan.

Dấu xuất huyết.

Diễn biến của bệnh.

Tác dụng và cách dùng một số thuốc thông thường sử dụng ở giai đoạn cuối.

Giáo dục sức khỏe

Hướng dẫn bệnh nhân tự phục vụ bản thân.

Hướng dẫn gia đình bệnh nhân chăm sóc, giúp đỡ người bệnh.

Thân nhân người bệnh nên kết hợp với điều dưỡng viên ghi chép, theo dõi bảng theo dõi sử dụng thuốc.

Thân nhân người bệnh cần biết nguyên nhân ung thư gan và tầm quan trọng của vấn đề ngăn ngừa viêm gan siêu vi.

Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Chăm sóc cơ bản

Khi tiếp cận người nhà bệnh nhân người điều dưỡng phải luôn nhẹ nhàng, lịch sự, nhã nhặn và thông cảm với họ.

Trọng tâm của chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối là làm giảm

đau và các triệu chứng khác, làm cho bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn. Việc làm giảm hay ngăn ngừa triệu chứng có ý nghĩa và đem lại sự an lành cho bệnh nhân giai đoạn cuối.

Tôn trọng và đáp ứng những nhu cầu về mặt tình cảm của bệnh nhân tuân theo tôn giáo và những yêu cầu của bệnh nhân.

ở giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, bệnh nhân thường cảm thấy cô đơn tuyệt vọng, do vậy người người điều dưỡng phải thường xuyên ở bên cạnh bệnh nhân để động viên và giúp đỡ họ.

Giúp đỡ bệnh nhân ổn định về mặt tâm lý, sinh lý và tinh thần.

Đảm bảo cho bệnh nhân và thân nhân không bị đơn độc trong giai đoạn cuối.

Đối với thân nhân:

Phải tôn trọng và đáp ứng những nhu cầu về mặt tình cảm của thân nhân khi họ đến thăm bệnh nhân (trong điều kiện cho phép). Khi gia đình bệnh nhân hỏi về những vấn đề chuyên môn, người điều dưỡng có thể trả lời trong phạm vi cho phép. Khi chăm sóc bệnh nhân điều dưỡng viên thông báo và giải thích cho thân nhân về việc mình cần làm và yêu cầu gia đình bệnh nhân ra ngoài. Người nhà đến thăm và ở lâu với bệnh nhân, điều dưỡng hướng dẫn, giúp đỡ họ nơi ăn ở, các điều kiện sinh hoạt.

Chuyển bệnh nhân đến phòng riêng, tránh gây ồn ào, tiện cho việc chăm sóc và không ảnh hưởng đến bệnh nhân khác.

Thức ăn lỏng, dễ tiêu, ăn nhạt khi có cổ trướng, hạn chế lipid, ăn tăng glucid và protein.

Theo dõi lượng nước vào ra bằng cách theo dõi lượng nước uống vào và đo lượng nước tiểu 24 giờ.

ở giai đoạn cuối bệnh nhân mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, miệng bị khô, đỏ hoặc phỏng rộp lưỡi. Do đó, cần chăm sóc miệng thường xuyên (2 giờ /1 lần), kiểm tra tưa miệng, hướng dẫn kỹ thuật súc miệng và khuyến khích uống nhiều nước (nếu bệnh nhân không có cổ trướng, suy thận).

Chăm sóc điều dưỡng rất quan trọng ở giai đoạn cuối. Đôi khi còn hiệu quả hơn dùng thuốc. Bệnh nhân lúc này rất yếu do nằm bất động quá lâu nên thường bị loét, táo bón, chán ăn, đau, buồn nôn và trầm cảm.

ở bệnh nhân nằm lâu một tư thế, làm đau và co cứng cơ nên cần thay đổi gối kê, xoa bóp và nếu được cho ra khỏi giường trong một thời gian ngắn.

Dù bất cứ nguyên nhân nào, cảm giác đau chịu tác động của nhiều yếu tố phối hợp. Đau cũng sẽ tăng lên khi lo lắng, trầm cảm, cô đơn… và các triệu chứng khác như táo bón. Đau sẽ giảm nhờ vào giải trí, thư giãn, bình thản và tình thân hữu.

Công tác chính của điều dưỡng viên khi thăm bệnh là làm vệ sinh cá nhân cho bệnh nhân hàng ngày, đây là cơ hội để nhận định tình trạng bệnh nhân tiến triển tốt hay xấu đi để kịp thời thông báo cho bác sĩ.

Chăm sóc khi có biến chứng chảy máu tiêu hóa:

Cho bệnh nhân nằm nghỉ tuyệt đối tại giường, đầu thấp, gối mỏng dưới vai, kê chân cao.

Tạm ngừng cho bệnh nhân ăn bằng đường miệng.

ủ ấm cho bệnh nhân.

Phụ giúp thầy thuốc đặt cathete theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm.

Truyền dịch, truyền máu khẩn trương theo y lệnh.

Đề phòng hôn mê gan:

Đặt ống thông hút hết máu còn ứ đọng trong dạ dày, sau đó rửa dạ dày bằng nước lạnh.

Thụt tháo phân để lọai trừ nhanh chóng máu đã xuống ruột.

Hạn chế các yếu tố làm dễ: nhiễm trùng, xuất huyết, rối loạn nước điện giải.

Tận tình chăm sóc cứu chữa bệnh nhân đến phút cuối.

Thực hiện y lệnh

Thuốc: thực hiện đúng qui trình, kỹ thuật, thực hiện chính xác kịp thời chỉ định của bác sĩ.

Thực hiện các xét nghiệm.

Nếu có chỉ định của bác sĩ, điều dưỡng viên có thể thăm khám trực tràng và thụt tháo cho bệnh nhân.

Tiến hành khẩn trương mọi y lệnh, đồng thời tìm mọi cách để làm giảm sự đau khổ của bệnh nhân.

Mọi công việc thực hiện một cách nhẹ nhàng, nhanh gọn, có hiệu quả, tránh

để thân nhân nghĩ là điều dưỡng thờ ơ với bệnh nhân khi họ sắp chết.

Dựa vào việc cho bệnh nhân dùng thuốc và theo dõi, điều dưỡng có thể báo bác sĩ thay đổi thuốc nếu cần.

Thực hiện kế hoạch theo dõi

Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở và cân nặng

Các dấu chứng hôn mê gan

Dấu xuất huyết

Vị trí đau, hướng lan

Các triệu chứng khác như: buồn nôn và nôn, xuất huyết tiêu hóa, táo bón,

ăn uống kém, tưa miệng, lo âu, cảm giác mất mát, trầm cảm, lú lẫn, mê sảng, co giật…

Theo dõi tác dụng và cách dùng một số thuốc thông thường được sử dụng ở giai đoạn cuối.

Các xét nghiệm: công thức máu, VS, chức năng gan, chức năng thận…

Tác dụng phụ của thuốc: tác dụng phụ của morphin: buồn nôn, chóng mặt, lú lẫn, táo bón, co giật. Có thể làm giảm tác dụng phụ bằng cách giảm liều hoặc cho thuốc chống nôn và chế độ ăn chống táo bón.

Theo dõi các dấu chứng hôn mê gan:

Theo dõi sự thay đổi tính tình: bệnh nhân đang vui rồi lại buồn, thờ ơ

Bệnh nhân có những biểu hiện rối loạn về trí nhớ

Mất phương hướng về thời gian, không gian, mất khả năng tập trung tư tưởng

Bàn tay run do rối loạn trương lực cơ.

Khi có dùng bơm tiêm tự động, điều dưỡng phải theo dõi nơi tiêm để phát hiện sớm tắc nghẽn hay có dấu hiệu nhiễm trùng.

Trong trường hợp bệnh nhân đái dầm, có thể dùng các loại vải trải giường thấm hút hoặc giường bằng nhựa, dẫn lưu.

Giáo dục sức khỏe

Hướng dẫn bệnh nhân tự phục vụ bản thân.

Hướng dẫn gia đình bệnh nhân kỹ thuật chăm sóc, giúp đỡ người bệnh, để họ tự tin và có khả năng chăm sóc bệnh nhân một cách độc lập. Mối quan hệ thân mật giữa người bệnh và điều dưỡng giúp cho người bệnh niềm tin để xua đi nỗi lo lắng và nỗi thất vọng.

Thân nhân người bệnh nên kết hợp với điều dưỡng viên ghi chép, theo dõi bảng theo dõi sử dụng thuốc.

Để giảm nguy cơ gây táo bón, điều dưỡng có thể hướng dẫn cách thụt tháo nhẹ cho người chăm sóc.

Thân nhân người bệnh cần biết nguyên nhân ung thư gan và dự phòng ung thư gan chủ yếu dựa vào tiêm chủng phòng virut viêm gan B và điều trị các bệnh viêm gan mạn do virut.

Đánh giá

Việc chăm sóc bệnh nhân có hiệu quả khi đảm bảo các vấn đề sau:

Bệnh nhân ăn thấy ngon miệng và không sụt cân.

Bệnh nhân được yên tâm, thoải mái khi nằm viện và có sự hiểu biết nhất

định về bệnh.

Bệnh nhân được chăm sóc toàn diện, không có tai biến do quá trình điều trị.

Đánh giá chức năng gan và thận ảnh hưởng như thế nào đến sự hấp thu, chuyển hóa và bài tiết của các loại thuốc và hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc.

Dựa vào xét nghiệm máu, cân bằng kiềm toan, chức năng gan, đường máu, chức năng thận, huyết sắc tố, siêu âm và X-quang để so sánh với các kết quả lần trước, để theo dõi diễn tiến của bệnh.

Vai trò người điều dưỡng là chăm sóc, giáo dục, động viên, an ủi cho bệnh nhân và gia đình phát hiện sớm các triệu chứng, theo dõi diễn tiến của bệnh để có kế hoạch chăm sóc và điều trị tốt hơn.

Bạn đang xem bài viết Điều Trị Và Chăm Sóc Người Bị Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!