Xem Nhiều 2/2023 #️ Dự Phòng Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng – Sàng Lọc Ung Thư # Top 11 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Dự Phòng Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng – Sàng Lọc Ung Thư # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dự Phòng Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng – Sàng Lọc Ung Thư mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1- ĐẠI CƯƠNG

Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh ung thư phổ biến trên thế giới và gặp nhiều hơn ở các nước phát triển. Theo thống kê năm 2012 của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, ung thư đại trực tràng đứng thứ 3 về tỷ lệ mắc (10%) và thứ 4 về tỷ lệ tử vong (8,5%) do ung thư[1]. Ở Mỹ, ung thư đại trực tràng đứng thứ 4 về tỷ lệ mắc và thứ 2 về tỷ lệ tử vong do ung thư. Thống kê năm 2013, toàn nước Mỹ có 136830 trường hợp mắc mới và có 50310 ca tử vong do ung thư đại trực tràng. Các quốc gia châu Âu và châu Mỹ có tỉ lệ mắc ung thư đại trực tràng cao nhât, tuy nhiên họ có chương trình sàng lọc hệ thống, do đó tỉ lệ phát hiện sớm, điều trị dự phòng thành công cao, qua đó nâng cao tỉ lệ điều trị khỏi và giảm gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng. Tại Việt Nam, hiện tại chưa có chương trình sàng lọc và phát hiện sớm cho cộng đồng, do đó tỉ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn nhiều, điều trị khó khăn, kinh phí tốn kém và hiệu quả thấp.

2- CÁC PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC

Xét nghiệm máu tiềm ẩn trong phân (FOBT: Fecal Occult Blood Test)

Nguyên lý của xét nghiệm là phân tích xem trong phân người bệnh có chứa Hemoglobin. Cho đến nay có 1 số phương pháp làm FOBT như:

–           Test thử giấy thấm bão hòa Guiaic (Hemoccult test)

–           Phương pháp hóa mô miễn dịch (Immunochemical tests)

–           Thử nghiệm Pocphyrin – Hem (Hemoquant test)

Quy trình thực hiện: hướng dẫn người dân cách lấy mẫu phân đúng tiêu chuẩn, trên một tờ giấy khô, đặc biệt không để thấm nước, sau đó sử dụng que thử cho kết quả có hoặc không có máu tiềm ẩn trong phân. Xét nghiệm này có thể cho kết quả dương tính trong nhiều bệnh lý khác nhau như viêm đại trực tràng chảy máu, polyp đại tràng, u tuyến, hoặc do quy trình thực hiện không đúng. Độ nhạy của xét nghiệm khá cao nhưng độ đặc hiệu thấp, giá thành rẻ và rất dễ thực hiện. Do đó, xét nghiệm này thường được sử dụng để sàng lọc phát hiện ra đối tượng cần làm thêm các xét nghiệm khác như nội soi để đánh giá thêm.

Nội soi

Nội soi bao gồm nội soi đại trực tràng ống mềm, hoặc nội soi trực tràng ống cứng hoặc nội soi trực tràng và đại tràng sigma ống mềm. Trước soi bệnh nhân sẽ được chuẩn bị đại tràng sạch bằng các thuốc chuẩn bị đại tràng kết hợp với thụt tháo, sau đó bơm hơi, đưa ống soi quan sát niêm mạc dọc theo lòng đại trực tràng. Nội soi là xét nghiệm rất có giá trị nhờ độ nhạy và độ đặc hiệu cao 95-97%. Ngoài ra còn cho phép sinh thiết các tổn thương, các tổn thương có thể phát hiện trên nội soi như viêm loét đại tràng, các tổn thương tiền ung thư như polyp, hoặc các khối u nghi ngờ ung thư. Qua nội soi chúng ta cũng có thể tiến hành can thiệp để cắt các tổn thương tiền ung thư dư phòng. Hạn chế của nội soi đó là thủ thuật xâm lấn, quá trình chuẩn bị phức tạp, khó thực hiện do sự phiền toái với bệnh nhân, giá thành cao do đó khó thực hiện rộng rãi với cộng đồng. Đôi khi các tổn thương nhỏ, nằm ở các vị trí khó đánh giá hoặc tổn thương dạng thâm nhiễm có thể bị bỏ sót. Nội soi thường được tiến hành trên nhóm bệnh nhân hoặc là nguy cơ cao hoặc nhóm bệnh nhân đã làm các thăm dò khác cho kết quả nghi ngờ mắc bệnh như test FOBT dương tính hoặc chụp đại tràng cản quang nghi ngờ.

Nội soi sử dụng viên nang, sử dụng viên nang có gắn thiết bị ghi hình video ở 2 đầu, ghi lại hình ảnh trên đường di chuyển của dụng cụ. Kĩ thuật ít xâm lấn, thuận lợi cho bệnh nhân thực hiện, cho phép đánh giá dọc theo lòng ống tiêu hóa nhưng không có khả năng sinh thiết, đôi khi vẫn có thể bỏ sót tổn thương và giá thành cao. Độ nhạy thay đổi từ 39-88% và độ đặc hiệu thay đổi từ 64-93%, tuy nhiên khuyến cáo chỉ nên dung nội soi viên nang cho nhóm bệnh nhân không thể tiến hành soi đại tràng được.

Chụp đại tràng cản quang (chụp đối quang kép)

Bệnh nhân được chuẩn bị đại tràng, sau đó thụt thuốc cản quang vừa đủ, được bơm hơi cho căng để làm mỏng lớp thuốc cản quang bám thành đại tràng. Xét nghiệm này đơn giản hơn nội soi, dễ thực hiện hơn và có thể thực hiện ở những cơ sở y tế không có máy nội soi. Tuy nhiên giá trị thấp hơn, độ nhạy khoảng 83%, và có thể bỏ sót khoảng 5% các tổn thương ung thư, các tổn thương nhỏ thường rất khó phát hiện trên Xquang.

Chụp CT Scan đại tràng (nội soi đại tràng ảo)

Bệnh nhân được chuẩn bị đại tràng và thụt thuốc cản quang khung đại tràng, sau đó chụp CT đa dãy dựng hình toàn bộ khung đại tràng. Phương pháp này ít xâm lấn và ít biến chứng hơn so với nội soi, độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán có hoặc không có u gần tương đương như nội soi tuy nhiên giá thành rất đắt, và không thực hiện được đại trà trong cộng đồng, chỉ nên thực hiện trên một số lượng rất ít bệnh nhân chọn lọc.

3- QUY TRÌNH, CHIẾN LƯỢC SÀNG LỌC

Các yếu tố tăng nguy cơ mắc bệnh

Tuổi, 90% bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Mỹ xuất hiện sau 50 tuổi.

Tiền sử viêm ruột hoặc viêm đại trực tràng chảy máu, hoặc tiền sử mắc các u lành tính đại tràng như polyp tuyến, polyp tăng sản hoặc polyp nhung mao. Hoặc tiền sử gia đình có người mắc hội chứng Peutz-Jeghers hoặc hội chứng polyp thiếu niên.

Tiền sử tia xạ vùng bụng hoặc tiểu khung .

Ung thư nôi mạc tử cung ở độ tuổ trẻ(<50 tuổi). Những bệnh nhân này thường nguy cơ cao mắc hội chứng Lynch do đó cũng nguy cơ cao mắc ung thư đại trực tràng.

Một số các yếu tố khác như: béo phì, tiểu đường, chế độ dinh dưỡng, hút thuốc lá, thiếu androgen…cũng được cho là làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Quy trình tiến hành sàng lọc ung thư đại trực tràng hiện đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới, tùy theo tình hình cụ thể mỗi quốc gia và khu vực mà có sự áp dụng khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thống nhất tiến hành tầm soát theo mức độ nguy cơ mắc bệnh như sau.

PHÂN NHÓM NGUY CƠ

Đối tượng nguy cơ trung bình

+ Mọi người dân ở độ tuổi ≥ 50

+ Không có tiền sử u biểu mô tuyến hoặc ung thư đại trực tràng.

+ Không có tiền sử viêm nhiễm đường tiêu hóa

+ Không có tiển sử gia đình ung thư

Quy trình thực hiện với nhóm nguy cơ trung bình

+ Thực hiện test FOBT mỗi 2 năm 1 lần

+ Nếu test FOBT cho kết quả dương tính, bệnh nhân sẽ được soi đại trực tràng ống mềm hoặc chụp đại tràng đối quang kép hoặc các thăm dò khác kiểm tra. Nếu các thăm dò trên phát hiện tổn thương thì xử trí tùy theo tổn thương đó. Nếu các thăm dò trên không phát hiện tổn thương thì làm lại test FOBT sau 2 năm.

Đối tượng nguy cơ cao (nhóm có tổn thương lành tính đại tràng)

+ Bao gồm những người có tiền sử bản thân bị u biểu mô tuyến hoặc polyp đại trực tràng.

Quy trình thực hiện với nhóm nguy cơ cao

+ Nội soi đại trực tràng ống mềm và/hoặc chụp đại tràng đối quang kép 1-2 năm 1 lần. Ưu tiên nội soi hơn là chụp đại tràng đối quang kép.

+ Nếu kết quả phát hiện tổn thương thì xử trí tùy theo tổn thương phát hiện, nếu kết quả âm tính làm lại sau 2 năm

Đối tượng nguy cơ rất cao

+ Gia đình có người mắc hội chứng đa polyp đại trực tràng gia đình (polypose)

Quy trình thực hiện với nhóm nguy cơ rất cao

            + Nội soi đại trực tràng ống mềm hàng năm hoặc 2 năm một lần tùy theo mức độ nguy cơ có hoặc không kết hợp với xét nghiệm gen

+ Nếu phát hiện ung thư trong nhóm này, cần chẩn đoán xác định có hay không tính chất di truyền, nếu có tính chất di truyền thì xử trí giống ung thư đại trực tràng di truyền (có một số điểm khác biệt với ung thư đại trực tràng ngẫu nhiên)

4- ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG

Điều trị dự phòng các tổn thương tiền ung thư

Cắt các polyp lành tính qua nội soi hoặc phẫu thuật

Đối với hội chứng đa polyp có tính chất gia đình, có thể tiến hành cắt polyp qua nội soi với những trường hợp số lượng tổn thương ít và theo dõi sát để trì hoãn việc cắt toàn bộ đại trực tràng sau này

Điều trị viêm đại trực tràng chảy máu: 5ASA, kháng sinh, thuốc miến dịch hoặc phẫu thuật.

Điều chỉnh các chế độ như giảm béo phì, điều trị tiểu đường, chế độ dinh dưỡng hợp lý, ngừng hút thuốc lá.

5- TÓM TẮT

Ung  thư đại trực tràng là bệnh lý thường gặp với tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cao. Việc sàng lọc, phát hiện sớm hiện đang được áp dụng tại nhiều quốc gia khu vực trên thế giới mang lại hiệu quả cao nhằm nâng cao tỉ lệ điều trị khỏi, giảm chi phí và gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng. Tùy theo mức độ yếu tố nguy cơ có thể tiến hành làm test máu tiềm ẩn trong phân (FOBT), nội soi đại trực tràng và/hoặc chụp đại tràng đối quang kép. Điều trị dự phòng các tổn thương tiền ung thư như polyp hoặc điều trị viêm đại tràng cũng mang lại hiệu quả cao. Hiện nay, tỉ lệ phát hiện bệnh giai đoạn muộn tại Việt Nam còn cao, do đó việc áp dụng chương trình sàng lọc và điều trị dự phòng là vấn đề cấp thiết cần sớm được triển khai.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Siegel RL, Miller KD, Jemal A. Cancer statistics, 2015. CA Cancer J Clin 2015; 65:5.

Centers for Disease Control and Prevention (CDC). Vital signs: Colorectal cancer screening, incidence, and mortality–United States, 2002-2010. MMWR Morb Mortal Wkly Rep 2011; 60:884.

Imperiale TF, Ransohoff DF, Itzkowitz SH, et al. Multitarget stool DNA testing for colorectal-cancer screening. N Engl J Med 2014; 370:1287.

Baxter NN, Goldwasser MA, Paszat LF, et al. Association of colonoscopy and death from colorectal cancer. Ann Intern Med 2009; 150:1.

Singh H, Nugent Z, Demers AA, et al. The reduction in colorectal cancer mortality after colonoscopy varies by site of the cancer. Gastroenterology 2010; 139:1128.

Brenner H, Hoffmeister M, Arndt V, et al. Protection from right- and left-sided colorectal neoplasms after colonoscopy: population-based study. J Natl Cancer Inst 2010; 102:89.

Pignone M, Rich M, Teutsch S et al (2002). Screening for colorectal cancer in adults. Systematic evidence review number 7. Rockville: Agency for Healthcare Research and Quality [online] Available at: http:// chúng tôi [accessed Feb 2, 2010].

Brenner H, Chang-Claude J, Seiler CM, et al. Protection from colorectal cancer after colonoscopy: a population-based, case-control study. Ann Intern Med 2011; 154:22.

Winawer SJ, Zauber AG, Gerdes H, et al. Risk of colorectal cancer in the families of patients with adenomatous polyps. National Polyp Study Workgroup. N Engl J Med 1996; 334:82.

Fuchs CS, Giovannucci EL, Colditz GA, et al. A prospective study of family history and the risk of colorectal cancer. N Engl J Med 1994; 331:1669

Atkin WS, Morson BC, Cuzick J. Long-term risk of colorectal cancer after excision of rectosigmoid adenomas. N Engl J Med 1992; 326:658.

Nottage K, McFarlane J, Krasin MJ, et al. Secondary colorectal carcinoma after childhood cancer. J Clin Oncol 2012; 30:2552.

Baxter NN, Tepper JE, Durham SB, et al. Increased risk of rectal cancer after prostate radiation: a population-based study. Gastroenterology 2005; 128:819.

Singh H, Nugent Z, Demers A, et al. Risk of colorectal cancer after diagnosis of endometrial cancer: a population-based study. J Clin Oncol 2013; 31:2010.

Botteri E, Iodice S, Bagnardi V, et al. Smoking and colorectal cancer: a meta-analysis. JAMA 2008; 300:2765.

US Preventive Services Task Force, Bibbins-Domingo K, Grossman DC, et al. Screening for Colorectal Cancer: US Preventive Services Task Force Recommendation Statement. JAMA 2016; 315:2564.

Rex DK, Boland CR, Dominitz JA, et al. Colorectal Cancer Screening: Recommendations for Physicians and Patients from the U.S. Multi-Society Task Force on Colorectal Cancer. Am J Gastroenterol 2017; 112:1016.

Rex DK, Boland CR, Dominitz JA, et al. Colorectal cancer screening: Recommendations for physicians and patients from the U.S. Multi-Society Task Force on Colorectal Cancer. Gastrointest Endosc 2017; 86:18.

American Cancer Society Recommendations for CRC Early Detecton, People at average risk https://www.cancer.org/cancer/colon-rectal-cancer/detection-diagnosis-staging/acs-recommendations.html (Accessed on June 14, 2017).

Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Khoang Miện – Sàng Lọc Ung Thư

1- TỔNG QUAN

Ung thư khoang miệng là một bệnh ung thư thường gặp. Theo GLOBOCAN 2012, nam giới có 198.975 ca ung thư khoang miệng mới mắc chiếm 2,7% và 97.940 ca tử vong chiếm 2,1%. Ở nữ, có 101.398 trường hợp mới mắc chiếm 1,5% và 47.413 trường hợp tử vong, chiếm 1,3%.

Ung thư khoang miệng bao gồm các ung thư ở 2/3 trước lưỡi, niêm mạc má, sàn miệng, lợi hàm trên, lợi làm dưới, khẩu cái cứng và khe liên hàm (hình 1).

Dự phòng và sàng lọc ung thư khoang miệng nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư khoang miệng.

2- CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DỰ PHÒNG BƯỚC 1

Dự phòng bước 1 là phòng ngừa ban đầu nhằm cố gắng loại trừ hoặc giảm tối đa sự tiếp xúc với các chất gây ung thư để phòng không cho xảy ra sự khởi phát và khởi động bệnh ung thư.

Thuốc lá: Tỷ lệ ung thư khoang miệng tăng cùng với số lượng thuốc hút hàng ngày và thời gian hút thuốc. Các hình thức sử dụng thuốc lá đều làm tăng nguy cơ gây ung thư khoang miệng (xì gà, tẩu, thuốc lá nhai …). Những người hút thuốc lá từ 1-19 năm có nguy cơ ung thư đường hô hấp trên cao gấp 4,2 lần những người không hút thuốc. Nếu hút trên 40 năm nguy cơ tăng lên 10 lần [1].

Rượu: Nguy cơ gây ung thư khoang miệng phụ thuộc vào số lượng và thời gian uống rượu. Người uống rượu nhiều có nguy có mắc ung thư đầu cổ trong đó có ung thư khoang miệng cao hơn người không uống khoảng 5-6 lần [2].

Hút thuốc và uống rượu: Ở những người vừa hút thuốc lá vừa uống rượu, 2 loại này có tính chất hiệp đồng, nguy cơ mắc ung thư khoang miệng có thể tăng gấp 35 lần [3].

Nhai trầu: Một hỗn hợp gồm thuốc, vôi, hạt cau, lá trầu gây ung thư khoang miệng, đặc biệt là niêm mạc má, lưỡi di động và vòm khẩu cái. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người ăn trầu có nguy cơ mắc ung thư khoang miệng cao hơn 10 lần so với người không có thói quen này. Hơn nữa nguy cơ càng tăng khi tần suất ăn và thời gian ăn càng dài [4].

Kích thích tại chỗ: Vệ sinh răng miệng kém, răng bị mẻ sắc nhọn, mang hàm giả không thích hợp, kích thích niêm mạc miệng kéo dài là các yếu tố nguy cơ gây ung thư khoang miệng.

HPV: Nhiễm vi khuẩn HPV (Human papillomavirus) cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư khoang miệng đặc biệt là nhiễm HPV típ 16 [5].

Do vậy, để phòng ngừa mắc ung thư khoang miệng, một số lời khuyên được đưa ra như:

Tránh hút thuốc là hoặc bỏ hút thuốc với những người có thói quen hút thuốc lá

Hạn chế rượu, bia

Không nhai trầu

3- CÁC PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC

Sàng lọc là cách đánh giá mỗi cá thể hay cộng đồng khoẻ mạnh về mặt lâm sàng, nhằm phát hiện ung thư tiền ẩn hay thương tổn tiền ung thư để điều trị khỏi. Mục tiêu của sàng lọc nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư.

Có nhiều phương pháp sàng lọng ung thư khoang miệng. Ung thư tại khoang miệng là ung thư tại vị trí có thể quan sát được các tổn thương bằng mắt thường. Do vậy việc quan sát kỹ khoang miệng bằng mắt thường bởi chính bệnh nhân, bác sĩ nha khoa hoặc bác sĩ ung thư đều có thể phát hiện sớm các tổn thương nghi ngờ trong khoang miệng. Một số phương pháp khác có thể phát hiện sớm các tổn thương ung thư khoang miệng như nhuộm chất chỉ thị màu, nhuộm huỳnh quang hay chải rửa tổn thương.

Khám khoang miệng bằng mắt thường: Phương pháp này có thể phát hiện được các tổn thương tiền ung thư như bạch sản (là những mảng trắng hay xám trên bề mặt khoang miệng), hồng sản (các tổn thương này không được điều trị sẽ tiến triển thành ung thư) (hình 2). Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một bằng chứng nào chứng minh rằng phương pháp này sẽ giảm tỷ lệ tử vong do ung thư [6].

Hình 2: A: Tổn thương bạch sản ở mặt trong của má. B: Tổn thương bạch sản ở lưỡi

Một số phương pháp khác như nhuộm chất chỉ thị màu, nhuộm huỳnh quang hay chải rửa tổn thương trong sàng lọc ung thư khoang miệng vẫn chưa có giá trị (độ nhậy và độ đặc hiệu) cao hơn hẳn so với khám bằng mắt thông thường.

Hình 3: Đánh giá tổn thương bằng nhuộm chất chỉ thị màu

4- CHIẾN LƯỢC SÀNG LỌC

Đã có rất nhiều nghiên cứu về sàng lọc trong ung thư khoang miệng, hầu hết các tác giả đều chỉ ra rằng các phương pháp sàng lọc ung thư khoang miệng đều không làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh. Do vậy, trên thế giới cho tới nay vẫn chưa có những khuyến cáo về sàng lọc bênh ung thư khoang miệng.

5- TÓM TẮT

Ung thư khoang miệng bao gồm các ung thư ở 2/3 trước lưỡi, niêm mạc má, sàn miệng, lợi hàm trên, lợi làm dưới, khẩu cái cứng và khe liên hàm

Dự phòng bước 1 ung thư khoang miệng bao gồm:

Tránh hút thuốc là hoặc bỏ hút thuốc với những người có thói quen hút thuốc lá

Hạn chế rượu, bia

Không nhai trầu

Một số phương pháp khám phát hiện sớm các tổn thương ung thư khoang miệng như khám bằng mắt thường, nhuộm chất chỉ thị màu, nhuộm huỳnh quang hay chải rửa tổn thương.

Hiện nay, chưa có một chương trình sàng lọc chuẩn nào về ung thư khoang miệng được đưa ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

In: The Health Consequences of Smoking: A Report of the Surgeon General. Atlanta, Ga: U.S. Department of Health and Human Services, CDC, National Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion, Office on Smoking and Health, 2004, pp 35-360.

Huber MA, Tantiwongkosi B: Oral and oropharyngeal cancer. Med Clin North Am 98 (6): 1299-321, 2014.

Blot WJ, McLaughlin JK, Winn DM, et al.: Smoking and drinking in relation to oral and pharyngeal cancer. Cancer Res 48 (11): 3282-7, 1988.

Guha N, Warnakulasuriya S, Vlaanderen J, et al.: Betel quid chewing and the risk of oral and oropharyngeal cancers: a meta-analysis with implications for cancer control. Int J Cancer 135 (6): 1433-43, 2014.

Kreimer AR, Johansson M, Waterboer T, et al.: Evaluation of human papillomavirus antibodies and risk of subsequent head and neck cancer. J Clin Oncol 31 (21): 2708-15, 2013.

Brocklehurst P, Kujan O, Glenny AM, et al.: Screening programmes for the early detection and prevention of oral cancer. Cochrane Database Syst Rev (11): CD004150, 2010.

Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Khoang Miệng

BVK – Ung thư khoang miệng là một bệnh ung thư thường gặp. Theo GLOBOCAN 2012, nam giới có 198.975 ca ung thư khoang miệng mới mắc chiếm 2,7% và 97.940 ca tử vong chiếm 2,1%. Ở nữ, có 101.398 trường hợp mới mắc chiếm 1,5% và 47.413 trường hợp tử vong, chiếm 1,3%.

Ung thư khoang miệng bao gồm các ung thư ở 2/3 trước lưỡi, niêm mạc má, sàn miệng, lợi hàm trên, lợi làm dưới, khẩu cái cứng và khe liên hàm (hình 1).

Ung thư khoang miệng là khối u ác tính trong khoang miệng. Đây là loại ung thư hay gặp ở vùng đầu cổ. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 40-60 nhưng nay đang có xu hướng trẻ dần.

Ung thư khoang miệng là loại ung thư có thể dễ dàng quan sát được và nếu để ý thì người bệnh cũng có thể tự phát hiện ra bệnh ở giai đoạn đầu.

Tuy nhiên, căn bệnh này có những dấu hiệu rất giống với chứng nhiệt miệng, loét miệng thông thường, ít có cảm giác đau rát, khó chịu hoặc bệnh nhân chấp nhận được tình trạng loét và đau nên nhiều người bệnh thường chủ quan bỏ qua.

Hầu hết bệnh nhân ung thư khoang miệng đến viện ở giai đoạn muộn, khi tổn thương ung thư đã lan rộng, phá hủy nhiều cấu trúc lân cận. Do đó, tiên lượng sống của bệnh nhân bị giảm đi nhiều.

Nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm sẽ có tiên lượng tốt hơn và thời gian sống của bệnh nhân khi được điều trị sớm sẽ cao hơn hẳn so với khi phát hiện ra bệnh và điều trị ở giai đoạn muộn.

Dự phòng và sàng lọc ung thư khoang miệng nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư khoang miệng:

Thuốc lá: Tỷ lệ ung thư khoang miệng tăng cùng với số lượng thuốc hút hàng ngày và thời gian hút thuốc. Các hình thức sử dụng thuốc lá đều làm tăng nguy cơ gây ung thư khoang miệng (xì gà, tẩu, thuốc lá nhai …). Những người hút thuốc lá từ 1-19 năm có nguy cơ ung thư đường hô hấp trên cao gấp 4,2 lần những người không hút thuốc. Nếu hút trên 40 năm nguy cơ tăng lên 10 lần.

Rượu: Nguy cơ gây ung thư khoang miệng phụ thuộc vào số lượng và thời gian uống rượu. Người uống rượu nhiều có nguy có mắc ung thư đầu cổ trong đó có ung thư khoang miệng cao hơn người không uống khoảng 5-6 lần.

Hút thuốc và uống rượu: Ở những người vừa hút thuốc lá vừa uống rượu, 2 loại này có tính chất hiệp đồng, nguy cơ mắc ung thư khoang miệng có thể tăng gấp 35 lần.

Nhai trầu: Một hỗn hợp gồm thuốc, vôi, hạt cau, lá trầu gây ung thư khoang miệng, đặc biệt là niêm mạc má, lưỡi di động và vòm khẩu cái. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người ăn trầu có nguy cơ mắc ung thư khoang miệng cao hơn 10 lần so với người không có thói quen này. Hơn nữa nguy cơ càng tăng khi tần suất ăn và thời gian ăn càng dài.

Vệ sinh răng miệng kém, răng bị mẻ sắc nhọn, mang hàm giả không thích hợp, kích thích niêm mạc miệng kéo dài là các yếu tố nguy cơ gây ung thư khoang miệng.

HPV: Nhiễm vi khuẩn HPV (Human papillomavirus) cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư khoang miệng đặc biệt là nhiễm HPV típ 16.

Có nhiều phương pháp sàng lọng ung thư khoang miệng. Ung thư tại khoang miệng là ung thư tại vị trí có thể quan sát được các tổn thương bằng mắt thường. Do vậy việc quan sát kỹ khoang miệng bằng mắt thường bởi chính mỗi người, hoặc bác sĩ ung bướu đều có thể phát hiện sớm các tổn thương nghi ngờ trong khoang miệng. Một số phương pháp khác có thể phát hiện sớm các tổn thương ung thư khoang miệng như nhuộm chất chỉ thị màu, nhuộm huỳnh quang hay chải rửa tổn thương.

Để phòng ngừa ung thư khoang miệng bạn cần:

– Tránh tiếp xúc lâu với ánh nắng mặt trời do có thể làm tăng nguy cơ ung thư môi.

– Chăm sóc và giữ gìn vệ sinh răng miệng.

– Không uống rượu, bia, sử dụng chất kích thích.

– Không hút thuốc lá.

– Chế độ dinh dưỡng hợp lý,ăn nhiều trái cây và rau quả.

– Đi khám bác sĩ chuyên khoa định kỳ 6 tháng/lần kiểm tra vùng răng miệng.

Cách Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Đại Trực Tràng

UTĐTT chủ yếu phát triển từ các tế bào tuyến của niêm mạc đại tràng, xâm lấn vào thành ruột lan ra các tổ chức xung quanh. Di căn theo hai đường: đường bạch huyết tới các nhóm hạch, đường máu tới gan, phổi, xương…

Ung thư sẽ gây các rối loạn bài tiết phân, gây cản trở bít tắc lòng ruột và chảy máu vào trong lòng ruột làm đi ngoài ra máu.

Các u niêm mạc đại tràng (hay còn gọi là polip) từ quá phát lành tính, thoái hóa thành ung thư đặc biệt ở người trên 45 tuổi. Những người có họ hàng cận huyết bị UTĐTT thì có nguy cơ mắc UTĐTT cao hơn những người khác. Polip dạng nhung mao có nguy cơ ung thư cao nhất.

– Hội chứng ỉa lỏng nhầy mũi, bán tắc ruột trướng bụng, đau quặn, khi đánh hơi thì hết hay gặp ở các khối u đại tràng phải.

– Hội chứng táo bón, bán tắc ruột dần dần, rồi đi tới tắc ruột hoàn toàn, hay gặp ở ung thư đại tràng trái.

– Chụp cản quang khung đại tràng.

– Nội soi trực tràng hay đại tràng.

– Siêu âm ổ bụng hoặc siêu âm trong lòng ruột.

– Các test sinh hóa phát hiện kháng nguyên ung thư.

– Ung thư đại tràng lên, đại tràng ngang được cắt đại tràng phải.

– Ung thư đại tràng xuống, đại tràng sigma được cắt đại tràng trái.

– Ung thư trực tràng có thể cắt đoạn hoặc cắt cụt trực tràng thuộc vị trí khối u.

1. Giảm phần calo từ chất béo và tinh bột.

2. Tăng cường chất xơ, hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt vào bữa ăn hàng ngày.

3. Hạn chế thức ăn muối, lên men, xông khói, sấy khô (cá khô, xì dầu, thịt hun khói…).

4. Hạn chế tiêu thụ những gia vị vô bổ có thể gây ung thư như phẩm nhuộm, dầu thơm.

5. Tránh những chất gây đột biến gen trong thức ăn như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trọng.

6. Không lạm dụng rượu, bia và các chất lên men khác.

Ở một số nước trên thế giới tiến hành xét nghiệm máu ẩn trong phân định kỳ ở nhóm người có nguy cơ cao. Sau đó tiến hành soi đại tràng sigma hoặc toàn bộ đại tràng để phát hiện sớm UTĐTT. Ở Việt Nam, việc thăm trực tràng bằng tay khi có hội chứng lỵ dai dẳng giúp cho chẩn đoán sớm ung thư trực tràng với hiệu quả cao. Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đưa ra hướng dẫn sàng lọc UTĐTT:

1. Trong các khám về tiêu hóa thường quy, cần thăm trực tràng.

2. Sau 50 tuổi xét nghiệm máu ẩn trong phân, soi trực tràng, đại tràng sigma 3-5năm/lần.

3. Cần chú ý các đối tượng có nguy cơ cao như có tiền sử gia đình mắc UTĐTT, hoặc polip, hoặc có tiền sử bệnh đại tràng viêm nhiễm.

Ghi nhận ung thư Hà Nội cho thấy UTĐTT đứng hàng thứ 5 trong các ung thư tiêu hóa. Cơ cấu bữa ăn người Việt Nam đang thay đổi theo hướng giàu đạm mỡ động vật hơn. Hiểu biết tốt hơn về bệnh học UTĐTT, đặc biệt về những kinh nghiệm phòng bệnh, phát hiện sớm, chắc chắn sẽ giảm được tỷ lệ tử vong do căn bệnh phổ biến này.

– Ban điều hành chương trình PCUT – Viện NC PCUT

Cây Cà gai leo, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hoàng cầm, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hồng hoa, Rum, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hoàng cầm râu, Bán chi liên, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Mạch môn đông, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Nấm Linh chi, Nấm lim – Ganoderma lucidum, tác dụng chữa bệnh của Nấm

Cây Me rừng, Chùm ruột núi, Phyllanthus emblica L, và tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hà thủ ô trắng, Dây sữa bò, Streptocaulon juventas và tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ, Polygonum multiflorum Thumb và tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Hàm ếch, Trầu nước, Saururus chinensis và tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Cỏ tranh, Bạch mao, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Cây Cỏ xạ hương, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

UTĐTT chủ yếu phát triển từ các tế bào tuyến của niêm mạc đại tràng, xâm lấn vào thành ruột lan ra các tổ chức xung quanh. Di căn theo hai đường: đường bạch huyết tới các nhóm hạch, đường máu tới gan, phổi, xương…

Ung thư sẽ gây các rối loạn bài tiết phân, gây cản trở bít tắc lòng ruột và chảy máu vào trong lòng ruột làm đi ngoài ra máu.

Các u niêm mạc đại tràng (hay còn gọi là polip) từ quá phát lành tính, thoái hóa thành ung thư đặc biệt ở người trên 45 tuổi. Những người có họ hàng cận huyết bị UTĐTT thì có nguy cơ mắc UTĐTT cao hơn những người khác. Polip dạng nhung mao có nguy cơ ung thư cao nhất.

– Hội chứng ỉa lỏng nhầy mũi, bán tắc ruột trướng bụng, đau quặn, khi đánh hơi thì hết hay gặp ở các khối u đại tràng phải.

– Hội chứng táo bón, bán tắc ruột dần dần, rồi đi tới tắc ruột hoàn toàn, hay gặp ở ung thư đại tràng trái.

– Chụp cản quang khung đại tràng.

– Nội soi trực tràng hay đại tràng.

– Siêu âm ổ bụng hoặc siêu âm trong lòng ruột.

– Các test sinh hóa phát hiện kháng nguyên ung thư.

– Ung thư đại tràng lên, đại tràng ngang được cắt đại tràng phải.

– Ung thư đại tràng xuống, đại tràng sigma được cắt đại tràng trái.

– Ung thư trực tràng có thể cắt đoạn hoặc cắt cụt trực tràng thuộc vị trí khối u.

1. Giảm phần calo từ chất béo và tinh bột.

2. Tăng cường chất xơ, hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt vào bữa ăn hàng ngày.

3. Hạn chế thức ăn muối, lên men, xông khói, sấy khô (cá khô, xì dầu, thịt hun khói…).

4. Hạn chế tiêu thụ những gia vị vô bổ có thể gây ung thư như phẩm nhuộm, dầu thơm.

5. Tránh những chất gây đột biến gen trong thức ăn như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trọng.

6. Không lạm dụng rượu, bia và các chất lên men khác.

Ở một số nước trên thế giới tiến hành xét nghiệm máu ẩn trong phân định kỳ ở nhóm người có nguy cơ cao. Sau đó tiến hành soi đại tràng sigma hoặc toàn bộ đại tràng để phát hiện sớm UTĐTT. Ở Việt Nam, việc thăm trực tràng bằng tay khi có hội chứng lỵ dai dẳng giúp cho chẩn đoán sớm ung thư trực tràng với hiệu quả cao. Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đưa ra hướng dẫn sàng lọc UTĐTT:

1. Trong các khám về tiêu hóa thường quy, cần thăm trực tràng.

2. Sau 50 tuổi xét nghiệm máu ẩn trong phân, soi trực tràng, đại tràng sigma 3-5năm/lần.

3. Cần chú ý các đối tượng có nguy cơ cao như có tiền sử gia đình mắc UTĐTT, hoặc polip, hoặc có tiền sử bệnh đại tràng viêm nhiễm.

Ghi nhận ung thư Hà Nội cho thấy UTĐTT đứng hàng thứ 5 trong các ung thư tiêu hóa. Cơ cấu bữa ăn người Việt Nam đang thay đổi theo hướng giàu đạm mỡ động vật hơn. Hiểu biết tốt hơn về bệnh học UTĐTT, đặc biệt về những kinh nghiệm phòng bệnh, phát hiện sớm, chắc chắn sẽ giảm được tỷ lệ tử vong do căn bệnh phổ biến này.

– Ban điều hành chương trình PCUT – Viện NC PCUT

Bạn đang xem bài viết Dự Phòng Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng – Sàng Lọc Ung Thư trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!