Xem Nhiều 2/2023 #️ Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai # Top 6 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kết quả sau 10 năm điều trị u màng não thất bằng dao gamma quay tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Hình 1. Hình ảnh kế hoạch xạ phẫu u màng não thất III  lần 1 (năm 2007)

Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân giảm hẳn các triệu chứng: đỡ chóng mặt, không nôn, không buồn nôn, đau đầu ít. 05 tháng sau điều trị, bệnh nhân đã có thể sinh hoạt bình thường, không còn triệu chứng cơ năng. 

Tháng 3/2018, sau hơn 10 năm điều trị, bệnh nhân lại xuất hiện đau đầu nhiều, đau liên tục, nôn, buồn nôn, nhìn mờ, đi lại mất thăng bằng. Bệnh nhân đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai, chụp cộng hưởng từ sọ não cho thấy hình ảnh u não thất III tái phát. Bệnh nhân được đề nghị nhập viện, vào Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai xét điều trị.Khám lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, thể trạng trung bình.Có hội chứng tăng áp lực nội sọ: đau đầu, buồn nôn, nhìn mờ.Không yếu liệt vận động.Nhịp tim đều, T¬1¬T2 rõ.Phổi: rì rào phế nang rõ, không có rales.Huyết áp: 130/60 mmHg,  Mạch: 83 lần/phút.Cận lâm sàng:Công thức máu: Hồng cầu: 4.56 T/L;       Huyết sắc tố: 136g/L;               Bạch cầu: 6.3G/L;  Tiểu cầu: 237G/LĐông máu: bình thường.Sinh hóa máu: bình thường.Ure: 6.9 mmol/L; Glucose: 3.9 mmol/L; Creatinin: 72 mmol/L; GOT: 13 U/L; GPT: 16 U/LVi sinh:  HCV Ab: âm tính  ;   HBsAg: âm tính  ;   HIV: âm tínhX – Quang tim phổi thẳng: bình thường.Siêu âm ổ bụng: không thấy bất thường.Điện tâm đồ: nhịp xoang đều, 82 lần/phútChụp cộng hưởng từ sọ não ngày 23/03/2018 (trước dẫn lưu não thất): Tổn thương ngoài trục lan theo lỗ bên não thất III – mặt sau cuống đại não – thân não, kích thước 15×27 mm, tăng tín hiệu trên T2W, FLAIR, ngấm thuốc mạnh sau tiêm. Khối chèn ép gây giãn toàn bộ não thất phía trên.

Hình 3. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ: khối u gây giãn não thất trước điều trị xạ phẫu lần 2 (vòng tròn đỏ: hình ảnh u theo 3 mặt phẳng của não)

Chẩn đoán: Giãn não thất / U màng não thất III đã xạ phẫu tái phát.Điều trị: bệnh nhân được hội chẩn hội đồng giáo sư, chỉ định phẫu thuật dẫn lưu não thất ổ bụng sau đó sẽ tiếp tục được điều trị bằng dao Gamma quay.

Ngày 30/3/2018, tiến hành dẫn lưu não thất – ổ bụng tại khoa Ngoại. Sau phẫu thuật bệnh nhân ổn định, đỡ đau đầu, giảm nôn, nhìn rõ hơn.

Hình 4. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não sau phẫu thuật dẫn lưu não thất – ổ bụng.

Sau 1,5 tháng điều trị: Bệnh nhân tỉnh, thỉnh thoảng có cơn đau đầu nhẹ, không mất thăng bằng, không buồn nôn, không nhìn mờ.Hình ảnh chụp cộng hưởng từ sọ não: Nhu mô não không thấy khối ngấm thuốc bất thường, hình ảnh đường dẫn lưu não thất cũ vùng thái dương phải. Đường giữa cân đối. Hệ thống não thất cân đối, không giãn, dịch não tủy trong và đồng nhất, không thấy khối choán chỗ.

Hình 5: Hình ảnh cộng hưởng từ sọ não sau điều trị xạ phẫu dao Gamma quay 1,5 tháng

Như vậy, so với trước xạ phẫu, bệnh nhân đã cải thiện rất nhiều về triệu chứng cơ năng và hình ảnh.

Bệnh Nhân U Não Được Điều Trị Thành Công Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai

MỘT SỐ NÉT TỔNG QUAN VỀ U NGUYÊN BÀO THẦN KINH ĐỆM

U não là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 trong các nguyên nhân ung thư gây tử vong ở lứa tuổi trung niên và là nguyên nhân tử vong thứ 2 ở trẻ em. Khối u não ác tính nguyên phát (không tính tới ung thư di căn não ) chiếm khoảng 2% ung thư các cơ quan khác nhưng tiên lượng thường xấu, tỷ lệ tử vong cao. U nguyên bào thần kinh đệm ác tính (glioblastoma) là một loại u não nguyên phát của hệ thần kinh trung ương, chiếm khoảng 12-15% các loại u nội sọ và 60-75% các loại u sao bào. Glioblastoma được Tổ chức y tế thế giới xếp loại ác tính nhất (độ IV). Tại Mỹ, tần xuất khoảng 2,96 ca mới mắc/100.000 dân/năm. Glioblastoma là những u không đồng nhất xuất phát từ tế bào thần kinh đệm, phát triển chủ yếu từ dòng sao bào đệm (Astrocytoma), tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) và tế bào ống nội tủy (Ependynoma).

Việc điều trị bệnh là sự phối hợp nhiều phương pháp (Đa mô thức) gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Hiện nay: phẫu thuật, xạ trị và hóa trị vẫn là những phương pháp cơ bản. Trong đó phẫu thuật lấy u là phương pháp quan trọng nhất, với mục đích: giải phóng chèn ép, khẳng định chẩn đoán giải phẫu bệnh, loại bỏ tối đa khối u. Xạ trị và hóa trị là hai phương pháp điều trị phối hợp, nhằm tiêu diệt những tế bào u còn lại và hạn chế sự tái phát của u. Điều trị xạ trị gia tốc kết hợp uống hóa chất Temolozomide sau phẫu thuật đã cải thiện thời gian sống còn toàn bộ của bệnh nhân so với xạ trị đơn thuần sau phẫu thuật từ 12,1 tháng lên 14,6 tháng. Như vậy, điều trị kết hợp hóa – xạ trị sau mổ là điều trị chuẩn trong u nguyên bào thần kinh đệm.

Bản thân: Không mắc các bệnh nội ngoại khoa khác.

Bệnh nhân đau đầu nhiều, buồn nôn

Thể trạng trung bình, chiều cao 164cm. cân nặng 59kg.

Nhịp tim: 70 chu kì/ phút, Huyết áp: 110/70mmHg.

Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không rales.

Bụng mềm, gan lách không sờ thấy.

Bệnh nhân tỉnh, hội chứng tăng áp lực nội sọ (+), liệt ½ người phải, cơ lực 4/5, không rối loạn cơ tròn.

– Xét nghiệm công thức máu (trong giới hạn bình thường) .

– Xét nghiệm sinh hóa máu: Chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường.

– Đông máu cơ bản: Bình thường.

– Xét nghiệm vi sinh: Hbs Ag (-), HIV (-).

– Xét nghiệm nước tiểu: bình thường.

Hình ảnh phim chụp cộng hưởng từ sọ não trước mổ cho thấy khối u não vị trí thùy đỉnh – chẩm bên trái, kích thước 45 x 56mm, ngấm thuốc mạnh, phù não rộng xung quanh.

Hình 1: Hình ảnh u não thùy đỉnh – chẩm trái (vòng tròn đỏ)

Sau phẫu thuật lấy u não, bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ sọ não đánh giá lại sau mổ, kết quả cho thấy vùng khuyết não vị trí đỉnh chẩm trái, còn tổ chức u ngấm thuốc và vùng phù não rộng xung quanh.

Hình 2: Hình ảnh còn tổ chức u sau mổ và vùng phù não xung quanh.

Sau mổ, bệnh nhân liệt nửa người bên phải do vậy chúng tôi đã tiến hành điều trị nội khoa chống phù não . Sau khi tình trạng bệnh nhân ổn định, đỡ đau đầu và buồn nôn, tiến hành phương pháp điều trị hóa – xạ trị đồng thời cho bệnh nhân với phác đồ điều trị:

Xạ trị gia tốc vào vị trí khối u liều 60Gy, phân liều 2Gy/ngày. Kết hợp uống hóa chất Temozolomide liều 75mg/m 2 da, uống hàng ngày trong quá trình xạ trị.

Sau khi kết thúc xạ trị, bệnh nhân tiếp tục uống Temozolomide liều 150- 200mg/m 2 da, uống ngày 1-5, chu kì 28 ngày x 6 chu kỳ.

Sau 7 tháng điều trị liên tục, tình trạng bệnh nhân cải thiện tốt, bệnh nhân không còn đau đầu, không liệt, sinh hoạt bình thường.

Chụp phim cộng hưởng từ sọ não đánh giá sau quá trình điều trị cho thấy khối u thu nhỏ kích thước: 1×2 cm, còn phù não nhẹ xung quanh.

Hình 3: khối u kích thước nhỏ còn lại sau điều trị (vòng tròn đỏ)

Tóm lại : Bệnh nhân n am , 54 tuổi. Chẩn đoán lúc vào viện: U não thùy đỉnh – chẩm trái đã phẫu thuật. Giải phẫu bệnh sau mổ : . Đã được xạ trị và uống hóa chất, bệnh đáp ứng một phần. Glioblastoma grade IV

Hướng xử trí tiếp theo: Vì bệnh nhân đã được phẫu thuật lấy u não, và vị trí khối u nằm gần vùng vỏ não vận động, kích thước khối u nhỏ do vậy chúng tôi dự định tiếp tục xạ phẫu bằng dao Gamma quay vào vị trí khối u với mục đích điều trị triệt căn cho bệnh nhân.

http://ungthubachmai.com.vn

Điều Trị Ung Thư Phổi Di Căn Xương Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu Bệnh Viện Bạch Mai

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu bệnh viện Bạch Mai

Bệnh nhânLê Đ. T., nam, 63 tuổi, vào viện ngày 28/5/2015 với lý do: đau vùng cột sống cổ.

Cách ngày vào viện 1 tháng, bệnh nhân xuất hiện đau cột sống cổ tăng dần, đau lan lên đầu, không yếu liệt. Bệnh nhân đi khám tại một bệnh viện ở Hà nội, và được chụp cộng hưởng từ cột sống cổ cho thấycó hình ảnh tiêu gai sau đốt sống cổ C5. Bệnh nhân được sinh thiết tổn thương, kết quả giải phẫu bệnh: ung thư biểu mô tuyến nguồn gốc từ phổi, đột biến gen EGFR dương tính. Bệnh nhân được tiến hành chụp PET/ CT đánh giá, kết quả cho thấy có khối u phổi trái, tổn thương di căn cột sống cổ C5, C1, bệnh nhân được chuyển đến Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai điều trị tiếp.

Tiền sử: Khám vào viện:

– Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, tuy nhiên tâm lý, lo lắng, bi quan.

– Đau cột sống cổ nhiều, điểm đau 9/ 10.

– Bệnh nhân phải mang nẹp cột sống cổ, đi lại hạn chế.

– Thể trạng trung bình, chiều cao 164 cm; cân nặng 60 kg.

– Mạch: 72 chu kỳ/ phút, Huyết áp: 130/70 mmHg.

– Hạch ngoại vi không sờ thấy .

– Nhịp tim đều, tần số 72 lần/phút, không thấy tiếng bệnh lý.

– Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không rales.

– Bụng mềm, gan lách không sờ thấy

– Không liệt vận động, không rối loạn cơ tròn.

Bệnh nhân được tiến hành xét nghiệm đánh giá toàn thân trước điều trị:

– Chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường.

– Chất chỉ điểm ung thư: trong giới hạn bình thường:

Kết quả chụp PET/ CT đánh giá trước điều trị cho thấy:

Thùy dưới phổi trái: khối tổn thương dạng hang kích thước 26 mm, tăng hấp thu FDG, max SUV: 9,1 ; Nhiều hạch rốn phổi hai bên, tăng hấp thu FDG, Max SUV= 6,1. Tổn thương tiêu xương, phá vỡ vỏ xương đốt sống C1, và gai sau của đốt sống C5, xâm lấn phần mềm xung quanh, max SUV tương ứng là 10,0 và 6,2

Hình 1:Hình ảnh khối u thùy dưới phổi trái và nhiều hạch rốn phổi hai bên, tăng hấp thu FDG.

Hình 2. Hình ảnh tổn thương tiêu xương, phá vỡ vỏ xương đốt sống C1 và gai sau của đốt sống C5, xâm lấn phần mềm xung quanh. Chụp cộng hưởng từ sọ não đánh giá, kết quả cho thấy:

Tổn thương gây biến dạng đốt đội và dốc nền, phá vỡ vỏ xương, thâm nhiễm phần mềm xung quanh, thâm nhiễm khoang ngoài màng cứng

Hình 3.Tổn thương xương đốt đội và dốc nền, phá vỡ vỏ xương, thâm nhiễm phần mềm xung quanh và khoang ngoài màng cứng (vòng tròn đỏ)

Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến , đột biến gen EGFR dương tính tại exon 21

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định: Ung thư biểu mô tuyến phổi trái di căn hạch, xương, T2N3M1, giai đoạn IV, đột biến gen EGFR dương tính tại exon 21

Bệnh nhân đã được điều trị:

– Erlotinib (Tarceva) 150mg/ ngày, uống liên tục .

– Điều trị cao huyết áp: duy trì Amlor 5mg uống 1 viên/ ngày.

Trong quá trình điều trị các triệu chứng lâm sàng được cải thiện dần.

LÂM SÀNG:

Bệnh nhân đỡ đau xương cột sống cổ, điểm đau 3/10, không phải dùng thuốc giảm đau, đã tháo được nẹp cột sống cổ, tinh thần vui vẻ, lạc quan. Sau 2 tháng điều trị xuất hiện nổi mụn số lượng ít vùng mặt.

– Công thức máu: Không gặp biến chứng hạ bạch cầu trong quá trình điều trị

– Chức năng gan thận trong giới hạn bình thường.

– Chỉ điểm u: Trong giới hạn bình thường.

– Bệnh nhân được chụp lại cộng hưởng từ cột sống cổ sau 2 tháng cho thấy vẫn còn tổn thương thân đốt sống C1, gai sau đốt sống C5 xâm lấn phần mềm xung quanh, tuy nhiên tổn thương đã thu nhỏ kích thước hơn trước

Hình 4: Hình ảnh tổn thương đốt sống cổ thu nhỏ hơn sau điều trị 2 tháng.

– Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính ngực đánh giá cho thấy: tổn thương u và hạch trung thất đã thu nhỏ kích thước nhiều, chỉ còn dạng tổn thương viêm xơ tại phổi trái

Hình 5: Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ngực sau điều trị: Đám mờ tổn thương kẽ phân thùy đỉnh của thùy dưới phổi trái. Không thấy rõ u phổi và hạch trung thất

Tóm tại, đây là trường hợp b ệnh nhân nam, 6 3 tuổi được c hẩn đoán: Ung thư biểu mô tuyến phổi trái di căn hạch, xương, T2N3M1, đột biến gen EGFR dương tính . Bệnh nhân đã được điều trị phối hợp xạ trị, P 32, điều trị nhắm trúng đích (Tarceva), nội khoa…. Sau điều trị đích 2 tháng, bệnh đáp ứng một phần

Hình ảnh cộng hưởng từ cột sống so sánh trước và sau điều trị 2 tháng

Trước điều trị

Sau điều trị

Hình 6: Hình ảnh cộng hưởng từ cột sống so sánh tổn thương đốt sống cổ trước điều trị (vòng tròn đỏ) và sau điều trị 2 tháng (vòng tròn vàng)

Tổn thương trên phim chụp cộng hưởng từ cột sống cổ sau 2 tháng thay đổi chưa rõ, tuy nhiên về triệu chứng lâm sàng đã được cải thiện rõ rệt. Bệnh nhân giảm đau nhiều, không cần phải dùng thuốc giảm đau, không ho, không khó thở, tinh thần vui vẻ lạc quan.

Nguồn: chúng tôi

Hiện tại bệnh nhân đang tiếp tục được điều trị duy trì bằng Erlotinib (Tarceva) 150mg/ ngày và Amlor 5mg/ngày.

Ung Thư Phổi Biểu Mô Tuyến Của Phổi Di Căn Não Điều Trị Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Điều Trị Ung Bướu Bệnh Viện Bạch Mai

Ung thư phổi (UTP) là loại ung thư phổ biến nhất và cũng là ung thư gây tỷ lệ tử vong cao nhất trên toàn thế giới. Tại Mỹ mỗi năm có khoảng 174.000 người mới mắc và 160.000 người tử vong. Tại Việt Nam tỉ lệ mắc ở nam khoảng 29,6/100.000 người đứng hàng thứ 2 trong ung thư ở nam giới, sau ung thư gan và là một trong bốn loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới với tỷ lệ mắc 7,3/100.000 dân.

Về nguyên nhân, hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây UTP. Có tới 85- 90% UTP là do hút thuốc. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc UTP cao gấp 20 -40 lần không hút thuốc. Tỷ lệ mắc UTP tăng dần theo số lượng thuốc/ngày, thời gian hút thuốc ở cả người hút thuốc chủ động và thụ động. Các yếu tố nguy cơ tiếp theo là khí radon, arsenic, asbetos, khí mustard, nickel, tia bức xạ… UTP lan tràn theo 3 con đường: đường kế cận, đường bạch huyết và đường máu.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, ung thư phổi bao gồm hai nhóm khác nhau về đặc điểm sinh học, điều trị và tiên lượng: ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (UTPKTN) chiếm khoảng 85% và ung thư phổi tế bào nhỏ (UTPTBN) chiếm 15%. UTPTBN thường di căn mạnh và sớm hơn UTPKTBN. Trong UTPKTN, loại UTBM tuyến ngày càng có tỉ lệ gia tăng và nghiên cứu sinh học phân tử nhóm này mở ra nhiều phương thước điều trị phân tử đem lại kết quả cao, Ung thư Biểu mô tế bào lớn (UTBMTBL) chiếm 10% có tỷ lệ di căn xa cao hơn các loại khác nhưng còn ít nghiên cứu đặc tính sinh học của nhóm này

Đặc điểm của ung thư phổi giai đoạn tiến triển là thường di căn vào não, xương, tuyến thượng thận… Khoảng 60-70% các trường hợp ung thư di căn não là từ ung thư phổi.

Việc lựa chọn phương pháp điều trị bệnh tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh, thể mô bệnh học, tình trạng toàn thân. Giai đoạn sớm có thể phẫu thuật và điều trị hóa chất, xạ trị bổ trợ, khi bệnh ở giai đoạn muộn thì điều trị bệnh là sự kết hợp của đa phương pháp (xạ trị, hóa chất, xạ phẫu, điều trị đích, chăm sóc triệu chứng).

Trước đây, điều trị ung thư phổi di căn não gặp nhiều khó khăn do phần lớn các thuốc hoá chất không hoặc ít qua được hàng rào máu não. Di căn não là một trong những yếu tố tiên lượng xấu của ung thư phổi. Theo April F. Eichler, nếu bệnh nhân không được điều trị đặc hiệu (chỉ chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng đơn thuần bằng các thuốc chống phù não, chống co giật,…) thì thời gian sống thêm trung bình là 1-2 tháng.

Phẫu thuật mở thường được chỉ định cho các trường hợp di căn não đơn độc một ổ, ở ngoại vi và thể trạng bệnh nhân tốt. Tuy nhiên phẫu thuật mở thường gây ra nhiều biến chứng, và thời gian nằm viện dài. Rất nhiều trường hợp không thể phẫu thuật được do khối u ở những vị trí rất đặc biệt như thân não…hoặc bệnh nhân không muốn phẫu thuật.

Gần đây, kỹ thuật xạ phẫu bằng dao gamma được sử dụng nhiều cho việc điều trị di căn não do ung thư phổi. Các kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này an toàn và hiệu quả đối với các u di căn não ít ổ (<3 ổ), đặc biệt là các vị trí sâu không thể phẫu thuật được cũng như thể trạng bệnh nhân hạn chế, giúp cải thiện triệu chứng, tăng chất lượng sống, kiểm soát khối u tại chỗ và kéo dài thời gian sống thêm.

Việc điều trị phẫu thuật mở, xạ trị gia tốc, xạ phẫu dao gamma quay cho các tổn thương tại não có thể giải quyết được di căn tại não trong UTPKTBN . Để điều trị các tổn thương ngoài sọ bao gồm u nguyên phát ở phổi và các tổn thương di căn khác ngoài phổi cần phải sử dụng kết hợp với phương pháp điều trị toàn thân đó là hoá trị liệu. Cho tới nay, đã có rất nhiều phác đồ với các tác nhân khác nhau được sử dụng trong điều trị UTPKTBN. Tuy nhiên, các thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra các phác đồ có chứa cisplatin hoặc carboplatin được xem là có tỉ lệ đáp ứng cao nhất. Đặc biệt, khi kết hợp chúng với các thuốc thế hệ mới như: paclitaxel, gemcitabin, vinorelbin, docetaxel,…Theo các tác giả Johnson DH, Edelman MJ, Langer CJ thì hoá chất phác đồ PC (paclitaxel kết hợp carboplatin) trong điều trị UTPKTBN giai đoạn di căn xa có tỉ lệ đáp ứng từ 28-53% và tỉ lệ sống thêm toàn bộ sau 1 năm là 32-54%, đồng thời giúp cải thiện các triệu chứng tại phổi. Do vậy, việc phối hợp các phương pháp để điều trị căn bệnh này đóng vai trò quan trọng giúp kéo dài thời gian sống và cải thiện các triệu chứng cho người bệnh

Mặc dù, ung thư phổi là bệnh lý rất ác tính, nhưng nếu được chẩn đoán đúng giai đoạn bệnh và phối hợp nhiều phương pháp điều trị thích hợp vẫn làm lui được bệnh, bệnh nhân vẫn có cuộc sống bình thường, chất lượng cuộc sống tốt.

Kết luận; Ung thư biểu mô tế bào lớn của phổi rất ác tính, hay di căn xa tại thời điểm chẩn đoán, tuy nhiên phối hợp các phương pháp điều trị hợp lý sẽ có hiệu quả điều trị cao, Cụ thể đối với bệnh nhân đã trình bày ở trên trước hết cần giải quyết các khối u não bằng kỹ thuật xạ phẫu dao gamma quay, sau đó phải tiến hành điều trị toàn thân với việc truyền hóa chất với phác đồ thích hợp để tiêu diệt các tổn thương u tại phổi và di căn ngoài não đồng thời dùng thêm thuốc điều trị trúng đích do bệnh nhân có đột biến gen (EGFR dương tính).Vương Ngọc Dương

Bạn đang xem bài viết Kết Quả Sau 10 Năm Điều Trị U Màng Não Thất Bằng Dao Gamma Quay Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu, Bệnh Viện Bạch Mai trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!