Xem Nhiều 11/2022 #️ Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023 # Top 19 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 11/2022 # Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023 mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai Mở đầu

Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là khối u ác tính xuất phát từ tế bào biểu mô của tuyến tiền liệt. UTTTL thường di căn sang các bộ phận khác của cơ thể, đặc biệt là vào xương và các hạch bạch huyết… UTTTL có thể gây đau đớn và khó khăn trong việc đi tiểu, quan hệ tình dục, hoặc rối loạn chức năng cương dương…

Tỷ lệ phát hiện UTTTL khác nhau đối với các vùng trên toàn thế giới. Theo Globocan 2012 thì tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt cao nhất ở Australia, New Zealand, Bắc Mỹ, Đông âu. Theo dữ liệu của Mạng lưới ung thư quốc gia Mỹ (National Comprehensive Cancer Network, NCCN) năm 2012 có 241.740 trường hợp mới mắc, chiếm 28% tổng số bênh nhân (BN) ung thư mới mắc ở nam giới và 28.170 BN tử vong. Người Châu Á có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn: 1-7 / 100,000. Cụ thể là Hong Kong: 2.6, Nhật Bản: 3.8, Singapore: 4.2, Thụy Điển: 20.4, Thụy Sĩ: 22.5.Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh UTTTL ngày càng tăng và tỷ lệ tử vong cũng rất cao. Theo dữ liệu Globocan 2012, hằng năm ước tính có khoảng 1275 ca mới mắc, nhưng có tới 872 ca tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 3,4/100.000 dân, tỷ lệ chế là 2,4/100.000 dân. UTTTL đứng thứ 10 về tỉ lệ mắc.

Các phương pháp điều trị bệnh UTTTLhiện nay, bao gồm:

– Phẫu thuật (phẫu thuật mở, nội soi), cắt lạnh.

– Nội tiết (cắt bỏ tinh hoàn bằng phẫu thuật hoặc bằng thuốc).

– Xạ trị (xạ chiếu ngoài, xạ áp sát).

Tùy theo phân độ nguy cơ và tình trạng bệnh nhân cụ thể, điều kiện cơ sở vật chất của bệnh viện mà áp dụng một hoặc phối hợp các phương pháp trên.

Phẫu thuật mở là phương pháp kinh điển cho điều trị ung thư TTL giai đoạn khu trú với nhiều loại hình như

Phẫu thuật ( mở) cắt tuyến tiền liệt tận gốc

Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc qua đường đáy chậu

Phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc qua đường phúc mạc

Phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc qua đường sau phúc mạc

Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc có hỗ trợ của Rô bốt

+ Chỉ định Phẫu thuật trong ung thư tuyến tiền liệt

Căn cứ vào giai đoạn tiến triển của ung thư theo hệ thống TNM

Theo độ ác tính của tế bào ung thư là điểm Gleason

Theo thời gian kỳ vọng sống thêm

Theo tình trạng của các bệnh kèm theo của người cao tuổi

Tuy nhiên phẫu thuật ung thư tiền liệt tuyến là kỹ thuật phức tạp và có thể có một số biến chứng trong phẫu thuật ung thư tuyến tiền liệt như

Thủng trực tràng

Viêm phúc mạc do rò phân, rò nước tiểu vào ổ bụng

Tiểu không kiểm soát

Hẹp cổ bàng quang

Tụ dịch bạch huyết, thuyên tắc tĩnh mạch….

Là phương pháp dùng tia bức xạ chiếu từ ngoài vào vùng bệnh hoặc nguy cơ bị bệnh ,xạ trị là biện pháp điều trị tại vùng có thể điều trị với mục đích triệt căn hoặc triệu chứng, áp dụng điều trị tùy thuộc giai đoạn bệnh, nhóm nguy cơ, tình trạng bệnh nhân, bệnh phối hợp, thời gian sống thêm và chức năng tình dục, cũng như nguyện vọng của bệnh nhân. Xạ trị có thể phối hợp với các phương pháp khác như nội tiết….Các kỹ thuật xạ trị hiện nay bao gồm;kỹ thuật xạ trị 3D, xạ trị điều biến liều IMRT, xạ trị dưới hướng dẫn của hình ảnh IGRT, xạ trị điều biến thể tích VMAT góp phần tăng hiệu quả điều trị hơn.

Là phương pháp dùng những thuốc chống lại sự hoạt động của androgen và sự tăng sinh của tuyến tiền liệt, bao gồm nội tiết tố và và những chất không phải nội tiết tố. Ung thư tuyến tiền liệt được cho là phát triển phụ thuộc nội tiết tố nam, do vậy làm giảm hoặc triệt tiêu nội tiết nam sẽ làm các tế bào ung thư phụ thuộc nội tiết chết

Các dạng điều trị nội tiết bao gồm; Cắt tinh hoàn bằng ngoại khoa và bằng nội khoa như các đồng vận LHRH tạo hiện tượng mất hoạt hóa thụ thể LHRH của tuyến yên. Các chất kháng nội tiết tố nam hoặc ức chế tổng hợp nội tiết tố

Điều trị nội tiết được điều trị chính cho ung thư tiền liệt tuyến di căn và phối hợp với các phương pháp khác ( xạ trị, phẫu thuật) cho các trường hợp ung thư khu trú có nguy cơ cao và trung bình

Việc theo dõi nên điều chỉnh cho phù hợp với từng bệnh nhân và đánh giá hiệu quả cũng như tác dụng phụ khi điều trị nội tiết. cũng có thể áp dụng phương pháp điều trị nội tiết ngắt quãng để giảm tác dụng phụ tăng chất lượng sống cho người bệnh

+ Kỹ thuật cấy hạt phóng xạ vào khối u để điều trị ung thư tuyến tiền liệt, là sự cải tiến của xạ trị áp sát kết hợp với xạ trị chiếu trong đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu áp dụng và đem lại nhiều lợi ích to lớn cho bệnh nhân. Hiện nay tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, áp dụng cho u ng thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm, khu trú.

Hình 1: Hệ thống máy cấy hạt phóng xạ điều trị ung thư tuyền tiền liệt tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.

Cấy hạt phóng xạ điều trị ung thư TTL là phương pháp xạ trị đưa các hạt phóng xạ I-125 kích thước nhỏ 4,5×0,8 mm phát tia gamma năng lượng thấp (35 keV), vào trong tổ chức khối u, có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư tại chỗ mà không hoặc ảnh hưởng rất ít tới mô lành xung quanh. Bức xạ gamma mềm của I-125 chỉ phát huy hiệu quả điều trị trong phạm vi vài milimet (mm) của các mô bệnh và không hoặc rất ít gây tổn thương các mô lành xung quanh. Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật này là tạo ra liều hấp thụ bức xạ cao tại khối u, trong khi cơ quan và tế bào lành chỉ phải chịu liều bức xạ rất thấp. Các hạt phóng xạ có thời gian bán rã không quá ngắn và không quá dài (chẳng hạn với I-125 là 60 ngày) nên có thể để lại các hạt phóng xạ trong lòng tuyến tiền liệt mà không cần lấy ra sau khi cấy hạt phóng xạ vào. Dưới hướng dẫn của hình ảnh siêu âm, các kim chứa hạt phóng xạ này sẽ được đâm xuyên qua da ở vùng tầng sinh môn để đưa thẳng vào trong lòng của tuyến tiền liệt. Các hạt I-125 sẽ được lưu lại trong lòng tuyến tiền liệt sau khi kim được rút ra (hình 2).

Hình 2: Cấy hạt phóng xạ I-125 vào tuyến tiền liệt

Ưu điểm của phương pháp cấy hạt phóng xạ là kiểm soát u tại chỗ cao, thời gian và liệu trình điều trị ngắn, ít biến chứng, chức năng sinh lý của nam giới (liệt dương) ít hoặc không bị ảnh hưởng, tăng chất lượng cuộc sống

Cấy hạt phóng xạ là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, tăng thời gian sống thêm, tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm

Ung thư TTL là loại ung thư có xu hướng mắc tăng, bệnh có thể phát hiện sớm qua sàng lọc. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị, khi phát hiện sớm điều trị có thể khỏi với chất lượng sống được duy trì tốt

Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023

Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt triệt căn chỉ định đối với khối u khu trú tại chỗ, có khả năng phẫu thuật lấy toàn bộ tuyến tiền liệt, bệnh nhân không có các bệnh nặng khác phối hợp. Phẫu thuật cũng được áp dụng với trường hợp u tái phát sau xạ trị ngoài, xạ áp sát, không có di căn xa. Một số trường hợp phẫu thuật kèm theo vét hạch chậu. Lợi ích của phẫu thuật bao gồm kiểm soát được ung thư lâu dài, PSA giảm rõ rệt sau phẫu thuật, tiên lượng bệnh chính xác sau mổ.

Điều trị nội tiết nhằm mục đích loại bỏ androgen là yếu tố kích thích sự phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Các phương thức bao gồm cắt bỏ tinh hoàn hai bên và dùng thuốc kháng androgen, có tác dụng kéo dài thời gian sống của bệnh nhân, sau khi đã cắt bỏ tinh hoàn, và có thể điều trị lâu dài.

Điều trị tia xạ bao gồm xạ trị ngoài và xạ trị áp sát. Xạ trị ngoài không chỉ định với những bệnh nhân có tiền sử xạ trị tiểu khung, viêm trực tràng, tiêu chảy mạn tính mức độ vừa và nặng, dung tích bàng quang nhỏ. Xạ trị ngoài có thể phối hợp với điều trị nội tiết, xạ trị thêm hạch chậu nếu bệnh nhân đang ở giai đoạn nặng. Xạ trị ngoài mang lại nhiều lợi ích như kiểm soát lâu dài được ung thư, giảm nguy cơ tiểu tiện không tự chủ, kiểm soát được ung thư tại vùng.

Xạ trị áp sát chỉ định trong trường hợp điều trị đơn thuần nếu bệnh ở giai đoạn đầu. Bệnh nguy cơ cao có thể phối hợp với xạ trị ngoài. Xạ trị áp sát giúp kiểm soát u tại chỗ, đối với điều trị đơn thuần, xạ trị áp sát điều trị nhanh hơn xạ trị ngoài.

Phòng ngừa ung thư Tuyến tiền liệt

Chế độ ăn lành mạnh với các loại thực phẩm đa dạng. Các thực phẩm có trong cà phê, trà xanh, hạt lanh, đậu nành, cá, súp lơ, các loại rau xanh nhiều lá, nước ép lựu… có chứa các chất chống oxy hóa và thuộc tính chống viêm đều có tác dụng rất tốt.

Tập thể dục đều đặn giúp làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu khác đã chứng minh rằng hoạt động thể chất có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt lên đến 19%.

Một số chế phẩm bổ sung như selen có thể giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt song hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ sản phẩm nào.

Nên kiểm tra sức khỏe định kỳ và không nên bỏ qua các xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt.

Ngoài ra, bạn nên có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, tránh tạo ra căng thẳng và stress. Chế độ ăn hạn chế mỡ động vật, hạn chế uống nhiều rượu bia và hút thuốc lá.

Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023

Điều trị phẫu thuật ung thư tiền liệt tuyến thường là phẫu thuật cắt bỏ tận gốc, tức lấy đi toàn bộ tiền liệt tuyến. Phẫu thuật này được làm ở khoảng 36% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú tại chỗ. Tai biến xảy ra khi mỗ ung thư là tai biến lúc gây mê, chảy máu chỗ mổ, liệt dương chiếm tỷ lệ 30% – 70% tiểu không tự chủ chiếm 3% – 10% bệnh nhân.

Điều trị phẫu thuật ung thư tiền liệt tuyến như thế nào?

Những tiến bộ gần đây giúp làm giảm biến chứng của phẫu thuật cắt bỏ tận gốc. Các tiến chứng của phẫu thuật cắt bỏ tận gốc. Các tiến bộ của phẫu thuật xuất phát từ việc hiểu rõ hơn về chìa khóa giải phẫu, sinh lý năng lực tình dục và tiểu tiện. Đặc biệt, các kỹ thuật phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến mới đây giúp làm giảm tỷ lệ liệt dương và tiểu không kiểm soát.

Nếu sau khi mỗ, mà bệnh nhân bị liệt dương thì có thể điều trị bằng sildenafil (Viagra) viên uống (hiện ở Việt Nam chưa có thuốc này), hoặc chích thuốc alprostadil (Caverject) vào dương vật, bằng phương pháp bơm hoặc dùng dụng cụ tác động lên dương vật (dương vật giả). Tiểu không kiếm soát thường hồi phục theo thòi gian, đặc biệt là tập luyện và dùng thuốc để kiểm soát són tiểu.

Tuy nhiên, đôi lúc tiểu không kiểm soát đòi hỏi phải cấy ghép loại cơ vòng nhân tạo quanh niệu đạo. Cơ vòng này được tạo từ loại cơ trong cơ thể hoặc từ vật liệu khác dùng để kiểm soát dòng nước tiểu qua niệu đạo,

Xạ trị trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến được thực hiện như thế nào?

Mục tiêu của xạ trị là nhằm phá hủy các tế bào ung thư và ngăng không cho chúng phát triển hay tiêu diệt chúng. Vì thế bào ung thư phân chia nhanh, cho nên nó dễ bị tổn thương hơn các tế bào bình thường xung quanh. Các thử nghiệm lâm sàng đã hướng tới việc dùng tia xạ để điều trị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú. Thử nghiệm này cho thấy rằng xạ trị mang lại kết quả sống sót sau 10 năm tương đương với phương pháp mỗ. Tiểu không kiểm soát và liệt dương xảy ra do phương pháp mỗ có lẽ cao hơn so với xạ trị. Tuy nhiên, cần phải có thêm dữ kiện nữa để đánh giá nguy cơ và lợi ích của xạ trị trên 10 năm. Đặc biệt, tái phát ung thư đôi lúc có thể xảy ra sau xạ trị.

Việc chọn lựa xạ trị và phẫu thuật để điều trị ung thư tiền liệt tuyến khu trú tại chỗ tùy thuộc vào sự chọn lựa của bệnh nhân, tuổi tác, các bệnh khác phối hợp cũng như mức độ lan rộng của ung thư. Khoảng 30% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến khu trú tại chỗ được điều trị bằng xạ trị. Đôi khi bác sĩ ung thư phải kết hợp xạ trị với mỗ hoặc hormon liệu pháp trong cố gắng tối đa để đạt được hiệu quả điều trị tốt ung thư giai đoạn sớm hoặc muộn.

Xạ trị có thể là xạ trị ngoài thời gian 6 – 7 tuần hoặc cũng có thể là xạ trị trong tức cắm chất phóng xạ trực tiếp vào tiền liệt tuyến. Phương pháp xạ trị loài là dùng tia X có năng lượng cao chiếu thẳng trực tiếp vào khối ung thư, còn xạ trị trong là người ta dùng kim cắm xuyên qua tuyến tiền liệt ung thư dưới hướng dẫn của siêu âm. Về mặt lý thuyết, lợi ích của xạ trị trong hơn xạ trị ngoài ở chỗ tia xạ của xạ trị trong phóng thẳng vào khối ung thư làm giảm tối thiểu thương tổn cho các mô và các cơ quan lân cận. Tuy nhiên, lợi ích và bất lợi của xạ trị trong và xạ trị ngoài đến này vẫn chưa có nghiên cứu.

Hormon điều trị ung thư tiền liệt tuyến là gì?

Hormon nam còn gọi là testosterone, hormon này kích thích tế bào tiền liệt tuyến bị ung thư, làm u to ra thêm. Lý tưởng nhất trong tất cả các hormon điều trị là giảm được sự kích thích tế bào ung thư do testoterone.

Bình thường, testosterone được tinh hoàn sản xuất trong đáp ứng với hormone khác là LH-RH. LH-RH là viết tắt của luteinizing hormone releasing hormone và còn gọi là hormone hướng sinh dục. Hormon này được sản xuất trong não vào máu đến tinh hoàn và nó kích thích tinh hoàn sản xuất và phóng thích testosterone.

Điều trị bằng hormone cũng được kể đến như là biện pháp làm giảm lượng testosterone trong máu, cũng có thể bằng mỗ hoặc bằng thuốc. Điều trị phẫu thuật tinh hoàn (hay còn gọi là thiến) là phương pháp làm giảm hormone. Phẫu thuật này cắt bỏ tận gốc nơi sản xuất ra testosterone của cơ thể. Điều trị bằng hormone bao gồm dùng một hoặc hai loại thuốc. Mội loại thuốc này có tác dụng cạnh tranh với LH-RH. Thuốc này có tác dụng cạnh tranh với LH-RH của cơ thể. Do đó thuốc này ức chế sự phóng thích LH-RH từ não. Một loại thuốc khác cũng được chọn lựa, là loại thuốc khác cũng được chọn lựa, là loại thuốc có tác dụng kháng androgenic, là thuốc kháng nội tiết tố nam. Thuốc này ức chế tác dụng của testosterone tại tiền liệt tuyến.

Ngày nay, đàn ông thường chọn lựa phương pháp điều trị bằng nội tiết tố hơn là phẫu thuật, có lẽ vì thấy rằng thiến tinh hoàn gây mất thẩm mỹ và làm người bệnh bất an hơn. Tuy nhiên, hiệu quả và tác dụng phụ của điều trị bằng hormone cũng ngang như thiến. Cả hai phương pháp điều trị bằng hormone này đều có tác dụng loại bỏ sự kích thích tế bào ung thư của testosterone. Tuy nhiên, một số u tiền liệt tuyến không đáp ứng với các hình thức điều trị này. Đó là những dạng ung thư tiền liệt tuyến không phụ thuộc với androgen (nội tiết tố nam). Tác dụng phụ chủ yếu của các phương pháp điều trị hormone (do mất đi nội tiết tố nam) này là làm vú người đàn ông to ra và bất lực (liệt dương).

Các thuốc kháng LH-RH bao gồm leuprolide (Lupron) hoặc goserelin (Zoladex), được chích mỗi tháng tại phòng mạch bác sĩ. Thuốc tháng androgen bao gồm: flutamide (Eulexin), bicalutamide (Casodex), là những viên thuốc uống thường được dùng phối hợp với thuốc kháng LH-RH. Thuốc kháng LH-RH thường có tác dụng một mình. Tuy nhiên, thuốc kháng androgen được chỉ định dùng phối hợp thêm nếu như ung thư vẫn còn tiến triển mặc dù đang trị bằng thuốc kháng LH-RH. Điều trị bằng hormone có thể có kết quả tốt nếu như phối hợp thêm xạ trị.

Hiện nay, các nghiên cứu đang được thực hiện nhằm xác định xem liệu pháp hormone có làm tăng thêm hiệu quả điều trị của xạ trị hay không.

Thường phương pháp điều trị bằng hormone dành cho những bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến đã tiến triển xa hoặc ung thư đã di căn. Đôi khi, người bệnh chỉ bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú nhưng vẫn điều trị bằng phương pháp hormone vì người bệnh có thêm những bệnh nặng khác phối hợp, hay đơn giản là người bệnh từ chối mỗ hay xạ trị. Điều trị bằng hormone thường áp dụng cho ít hơn 10% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú. Nên nhớ rằng, điều trị bằng hormone chỉ là tạm thời. Mục đích là kiểm soát bệnh ung thư hơn là chữa bệnh ung thư vì bệnh ung thư không thể chữa được.

Liệu pháp “lạnh” trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến là gì?

Liệu pháp “lạnh” là một trong những phương pháp chữa trị mới mẻ đang được thử nghiệm dùng trong chữa trị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn sớm. Với phương pháp này tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt bằng cách bị đông cứng lại. Sự đông cứng sẽ xảy ra khi tiêm trực tiếp vào tuyến tiền liệt một dung dịch lạnh (ví dụ nitơ hay argon ở thể lỏng). Quá trình trên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Thực tế, phương pháp “lạnh” không hẳn là một kĩ thuật mới. Nói cách khác, đó là sự cải tiến từ một kĩ thuật cũ đã sử dụng trước đây, nhưng kĩ thuật này không được chấp nhận bởi có nhiều biến chứng. Trong những năm 60, người ta dùng phương pháp lạnh để làm đông cứng lớp dịch lót bên trong dạ dày trong việc điều trị loét dạ dày, nhưng do phương pháp này gây tổn thương nặng nề lớp dịch này nên không còn được áp dụng nữa.

Hiện nay, phương pháp “lạnh” đang được sử dụng cho bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn còn khu trú mà vì một lí do nào đó không thể thực hiện được bất kì phương pháp chữa trị nào khác. Người ta vẫn còn đang nghiên cứu xem những bênh nhân nào có thể áp dụng biện pháp này có lợi nhất. Ví dụ có vài nghiên cứu đang tiến hành nhằm xác định xem liệu pháp “lạnh” có thực sự có lợi hay không nếu áp dụng nó để điều trị ngay từ đầu cho những trường hợp ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú. Tuy nhiên, hiệu quả của liệu pháp này trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến còn chưa được chứng mình cụ thê. Chúng ta được biết rằng đôi khi dung dịch tiêm vào lại không tiêu diệt được hết tế bào ác tính. Hơn nữa, phương pháp này còn “âm thầm” gây những tổn thương lên bàng quang hay niệu đạo. Những tổn thương này có thể gây tắc nghẽn niệu đạo, rò niệu đạo (rỉ nước tiểu ra từ một đường bất thường), hoặc gây những nhiễm trùng trầm trọng.

Thế nào là hóa trị trong ung thư tiền liệt tuyến?

Hóa trị là phương pháp điều trị bằng thuốc mà ở đây là thuốc chống ung thư. Đây được coi như là một phương pháp điều trị tàm thời dành cho những trường hợp bệnh đã tiến triển xa, không thể điều trị có hiệu quả. Cũng cần ghi nhận rằng những thuốc này làm khối u phát triển chậm hơn và làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân. Thường không áp dụng hóa trị cho ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn còn khu trú bởi còn nhiều phương pháp khác tốt hơn. Hóa trị thường dùng trong trường hợp ung thư tiền liệt tuyến đẫ di căn xa (tế bào ung thư đã xâm nhập đến những nơi khác trong cơ thể) và không đáp ứng với những phương pháp điều trị khác.

Một vài loại thuốc đã được sử dụng có hiệu quả trong việc giảm bớt các triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn di căn, như estramustine (Emcyt). Một thuốc khác là mitroxantrone (Novantrone) cho thấy hiệu quả khi dùng kết hợp với Prednisone trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến – không lệ thuộc androgen (ung thư tiền liệt tuyến – không lệ thuộc androgen là một ung thư không đáp ứng với điều trị bằng liệu pháp hormone).

Những tác dụng khác thường thấy của hóa trị là mệt mỏi, buồn nôn, rụng tóc, và gây suy tủy. Đối với suy tủy, thì lần lượt giảm hồng cầu (gây thiếu máu), giảm bạch cầu (dễ nhiễm trùng), giảm tiểu cầu (dễ chảy máu).

Còn nhiều loại thuốc mới đang được nghiên cứu về tác dụng cũng như mức độ an toàn trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến tại các trung tâm ung bướu ở khắp nước Mỹ và nhiều nơi khác. Chẳng hạn, các nhà ung thư học đã thư nghiệm paclitaxel (Taxol) và docetaxel (Taxotere) trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến đã di căn (hai loại thuốc này cho thấy có hiệu quả trong điều trị ung thư vú đã di căn). Một thuốc mới đang được khảo sát cho điều trị ung thư tiền liệt tuyến – không lệ thuộc androgen là Suramin.

Thế còn những loại thảo dược hay những phương thuốc điều trị thay thế khác?

Những thuốc điều trị thay thế gồm những phương pháp không “chính thống” như dùng thảo dược, chế độ ăn kèm theo, châm cứu. Vấn đề đáng quan tâm là trong phương pháp dùng thảo dược, những thành phần của thuốc không được tiêu chuẩn hóa. Hơn nữa, cơ chế tác dụng của các loại thảo dược cũng như các tác dụng lâu dài của nó chưa được biết rõ.

Một trong những phương pháp chữa trị mới, ít nhất là ở Mỹ, đó là thuốc Pc Spec được chiết từ một loại thảo dược. PC viết rút gọn từ Prostate (tuyến tiền liệt) Cancer (ung thư) và Spec tiếng latin nghĩa là “hi vọng”. Thử nghiệm thuốc cho những bệnh nhân không đáp ứng với hóa trị và liệu pháp hormone cho kết quả rất hứa hẹn. Những nghiên cứu sâu hơn đang được thực hiện nhằm đánh giá đầy đủ hơn các yếu tố nguy cơ cũng như các lợi điểm của phương pháp điều trị mới mẻ này.

Chia sẻ:

Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Phổi / 2023

Ung thư phổi là một căn bệnh nguy hiểm do khi phát hiện ra thường bệnh đã ở giai đoạn muộn, giai đoạn đầu của bệnh không có biểu hiện hay biểu hiện mờ nhạt khiến người bệnh chủ quan. Hiện nay các phương pháp điều trị ung thư phổi chủ yếu vẫn là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị.

Những Nội Dung Cần Lưu Ý

Khi các tế bào trong nhu mô phổi phát triển thành khối u và có khả năng lây lan sang các cơ quan bộ phận khác sẽ hình thành nên ung thư phổi. Các tế bào ác tính có thể bắt nguồn từ phổi (ung thư phổi tiên phát) hoặc từ nơi khác di căn đến (ung thư phổi thứ phát). Ung thư phổi có nhiều loại nhưng được phân vào hai nhóm chính với đặc điểm bệnh và điều trị khác nhau là ung thư biểu mô tế bào nhỏ và ung thư biểu mô không tế bào nhỏ.

Trong số những người phát hiện ung thư phổi thì nam giới trong độ tuổi 40 đến 60 chiếm tỷ lệ nhiều hơn cả (85-90%), và cứ 9 trên 10 trường hợp bị bệnh là có liên tới thuốc lá. Các triệu chứng ban đầu của bệnh thường rất kín đáo nên gặp nhiều khó khăn trong chẩn đoán, và khi phát hiện ra bệnh thường đã ở giai đoạn cuối. Ung thư phổi di căn sẽ gây ung thư ở các cơ quan, bộ phận khác, ngoài ra khối u phát triển tại chỗ có thể gây các biến chứng tại chỗ ở phổi như áp xe phổi thứ phát, bội nhiễm phổi, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, ho ra máu nặng do ung thư xâm lấn các mạch máu lớn.

2. Các phương pháp điều trị ung thư phổi

Hiện nay phẫu thuật, hóa trị, xạ trị vẫn là những phương pháp chủ yếu để điều trị ung thư phổi ở Việt Nam. Tuy nhiên việc điều trị ung thư là đa mô thức, tức là cần phối hợp các phương pháp với nhau. Hiệu quả của các phương pháp trên phụ thuộc vào từng loại ung thư phổi, giai đoạn bệnh và thể trạng của người bệnh.

2.1. Phẫu thuật điều trị ung thư phổi

Phẫu thuật là phương pháp thường áp dụng cho những trường hợp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Ở giai đoạn này, kích thước khối u còn nhỏ và chưa lây lan rộng. Điều đáng tiếc là đa số các trường hợp ung thư phổi ở Việt Nam thường phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn và không thể áp dụng phẫu thuật.

Cắt bỏ một phần phổi được áp dụng khi các khối ung thư có kích thước nhỏ và đang khu trú ở một vị trí nhất định trên phổi. Theo đó các bác sĩ sẽ tiến hành cắt bỏ một vùng của phổi bao gồm một hoặc nhiều thùy.

Cắt bỏ toàn bộ một bên phổi:

Phẫu thuật nội soi phổi

Đây được đánh giá là phương pháp phẫu thuật ung thư hiện đại có nhiều ưu điểm như: phẫu thuật chính xác, ít đau đớn, ít gây tác dụng phụ. Để thực hiện phương pháp này, phẫu thuật viên sẽ luồn một ống nội soi vào một vết mổ nhỏ ở ngực của bệnh nhân, sau đó chèn các công cụ phẫu thuật để cắt bỏ, nạo vét và hút sạch các tế bào ung thư ra ngoài.

Sau phẫu thuật, nếu là ung thư biểu mô không tế bào nhỏ và khối u còn nhỏ chưa lây lan, tỷ lệ sống trên 5 năm là khoảng 49%, còn nếu khối u đã phát triển lớn và di căn thì tỷ lệ này giảm xuống còn 30%.

Phẫu thuật điều trị ung thư phổi ít khi được áp dụng trong trường hợp là ung thư biểu mô tế bào nhỏ do loại ung thư này lan tỏa nhanh và di căn sớm. Ngoài ra phẫu thuật cũng được chống chỉ định trong các trường hợp ung thư giai đoạn muộn, di căn xa, các biến chứng nặng, hay thể trạng bệnh nhân ốm yếu, suy kiệt,…

Hóa trị là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư. Phương pháp này thường dùng kết hợp với xạ trị hay phẫu thuật để giảm kích thước khối u trước phẫu thuật, hoặc tiêu diệt khối u không phẫu thuật được.

Một hoặc nhiều loại thuốc hóa trị có thể được đưa vào cơ thể qua tĩnh mạch hoặc uống. Sự kết hợp các loại thuốc thường được sử dụng trong một loạt các phương pháp điều trị trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng, với tạm ngừng ở giữa lộ trình để cơ thể có thể phục hồi.

Do hóa trị sử dụng các chất độc để phá hủy tế bào, nên bên cạnh tiêu diệt các tế bào ung thư nó còn làm ảnh hưởng tới các tế bào lành khác gây ra các tác dụng phụ như:

Giảm các tế bào máu ngoại biên: Các hóa chất có thể làm chết các tế bào máu ngoại biên: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu; một dòng, hai dòng hay cả ba dòng tế bào máu, gây ra những bệnh lý tương ứng sau: thiếu máu, giảm bạch cầu làm giảm sức đề kháng cơ thể dẫn đến dễ bị nhiễm trùng, giảm tiểu cầu.

Buồn nôn và nôn:

Suy nhược, mệt mỏi: Rất hay gặp sau khi truyền thuốc hóa trị ung thư. Có thể làm bệnh nhân suy nhược, khó thở, chán ăn, hạn chế hoạt động. Ở những bệnh nhân phẫu thuật hay xạ trị trước đó, tình trạng này có thể nặng hơn.

Rụng tóc: tác dụng phụ này có thể hồi phục sau khi kết thúc việc hóa trị.

Viêm niêm mạc miệng: Biểu hiện có thể từ nhẹ đến nặng, làm bệnh nhân đau đớn và hạn chế ăn uống.

Xạ trị sử dụng năng lượng cao tần, như X quang, để tiêu diệt tế bào ung thư. Phương pháp này có thể được hướng vào ung thư phổi từ bên ngoài cơ thể (bức xạ tia bên ngoài) hoặc qua ống thông đặt bên trong cơ thể gần mô ung thư.

Xạ trị có thể gây ra các biến chứng như:

Các biến chứng cấp tính sớm xuất hiện sau vài ngày hay vài tuần của xạ trị như:

Các biến chứng muộn thường ít hồi phục, xuất hiện sau vài tháng hoặc nhiều năm sau xạ trị. Một số biến chứng muộn thường gặp:

BS. Đỗ Thị Gấm Theo Nội khoa Việt Nam

(Visited 124 times, 1 visits today)

Bạn đang xem bài viết Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt / 2023 trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!