Xem Nhiều 2/2023 #️ Nhận Biết Và Xử Trí Bệnh Chốc Lở Ngoài Da Ở Trẻ Em # Top 6 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Nhận Biết Và Xử Trí Bệnh Chốc Lở Ngoài Da Ở Trẻ Em # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhận Biết Và Xử Trí Bệnh Chốc Lở Ngoài Da Ở Trẻ Em mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

13/10/2014

Bé Lan (ở Ba Đình, Hà Nội) cũng có các biểu hiện ban đầu tương tự như bé Nam, nhưng gia đình nghĩ con bị hăm, bị rôm sảy vì thời tiết nóng bức nên đã tự mua lá đun nước tắm cho bé và dùng thuốc mỡ bôi lên vùng da tổn thương. Tuy nhiên, sau hơn 3 tuần bé vẫn không đỡ, mặt phù, bàn chân sưng tấy, có mụn mủ, bóng mủ và kèm theo sốt. Lúc ấy gia đình mới vội vàng đưa con đi khám thì được chẩn đoán bé bị chốc có bội nhiễm, đã biến chứng thành viêm cầu thận cấp.

Ths.Bs Phạm Thị Mai Hương – chuyên khoa Da liễu, bệnh viện Nhi Trung ương – cho biết mỗi ngày phòng khám Da liễu thuộc khoa Khám bệnh của bệnh viện tiếp nhận hơn 100 trẻ đến khám, trong đó khoảng 10% là chốc (tỉ lệ này thay đổi theo mùa).

Chốc là bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất ở trẻ em

Chốc là tình trạng nhiễm trùng nông ở da do vi khuẩn gây ra. Bệnh rất dễ lây lan và thường lây trực tiếp từ vùng da bệnh đến vùng da lành trên cùng một trẻ, hoặc từ trẻ này sang trẻ khác, vì vậy bệnh còn được gọi là “chốc lây”.

Chốc có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng 90% là các bé tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Trên thực tế các bậc phụ huynh rất hay nhầm lẫn giữa bệnh chốc và bệnh thủy đậu. Nếu được chẩn đoán sớm và xử trí đúng, bệnh chốc lở cải thiện nhanh, khỏi và không để lại sẹo; trường hợp ngược lại bệnh có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng.

1. Biểu hiện

Chốc được phân loại theo hình thái thương tổn: chốc có bọng nước và chốc không có bọng nước.

A. Chốc có bọng nước điển hình

– Nguyên nhân: thường do tụ cầu gây ra.

– Thương tổn cơ bản:

• Khởi đầu là dát đỏ kích thước từ 0,5-1cm, nhanh chóng tạo thành bọng nước trên đó. • Bọng nước nhăn nheo, xung quanh có quầng đỏ, sau vài giờ thành bọng mủ đục từ thấp lên cao. • Vài giờ hoặc vài ngày sau các bọng nước dập vỡ, đóng vảy tiết màu vàng nâu hoặc màu nâu nhạt giống màu mật ong. • Thương tổn khỏi không để lại sẹo.

– Vị trí thường gặp: ở mặt, vùng da hở, hoặc bất kì chỗ nào kể cả lòng bàn tay, bàn chân, không bao giờ xuất hiện ở niêm mạc. Tại vùng da đầu, vảy tiết có thể làm tóc bết lại.

– Biểu hiện toàn thân: viêm hạch lân cận, sốt rất hiếm gặp trừ khi chốc lan tỏa hoặc có biến chứng.

– Bệnh nhân có thể ngứa – gãi làm thương tổn lan rộng chàm hóa, lan sang vùng da khác.

B. Chốc không có bọng nuớc điển hình

– Nguyên nhân: thường do liên cầu tan huyết nhóm A.

– Thương tổn ban đầu: mụn nước, mụn mủ nhưng dập trợt rất nhanh trên nền da đỏ, tiết dịch ẩm ướt nên không có bọng nước điển hình. Bờ thương tổn thường có ít vảy da trông giống như bệnh nấm da. Vảy tiết phía trên có màu vàng mật ong hoặc nâu sáng, với một quầng đỏ nhỏ bao quanh. Một số trường hợp có thể thấy các thương tổn vệ tinh ở xung quanh.

– Vị trí: hay gặp ở mặt, xung quanh hốc mũi, miệng hoặc tứ chi.

– Hình thái này thường gặp trên những trẻ bị viêm da cơ địa, ghẻ, hoặc một bệnh da nào đó kèm theo bội nhiễm, hầu như không gặp thương tổn ở niêm mạc.

– Bệnh thường khỏi sau 2-3 tuần, nhưng cũng có thể kéo dài, nhất là khi cơ thể có nhiễm ký sinh trùng, bị chàm hay thời tiết nóng, ẩm ướt.

2. Xử trí trước khi đưa trẻ đến bệnh viện

– Tắm rửa sạch sẽ cho trẻ, có thể dùng nước thuốc tím pha loãng 1/10.000, hoặc sử dụng một số loại nước tắm trong dân gian như nước chè xanh làm khô se thương tổn.

– Cha mẹ có thể sử dụng một số thuốc sát trùng như betadine hoặc dung dịch thuốc màu như xanh methylen…Dùng một vài ngày không thấy cải thiện hoặc bệnh có xu hướng nặng lên thì nên gặp bác sĩ đế được tư vấn, tránh các biến chứng đáng tiếc xảy ra .

– Chốc lở dễ lây lan do thương tổn thường gây ngứa, trẻ sờ gãi vào những thương tổn ở chỗ này, rồi lại làm lây lan ra chỗ khác ngay trên cơ thể. Bởi vậy, khi trẻ bị chốc, các bậc phụ huynh nên cho trẻ tạm nghỉ ở nhà để kiểm soát tốt hơn sự lan rộng của bệnh trên cơ thể trẻ và ngăn ngừa biến chứng. Bên cạnh đó, động thái này cũng giúp hạn chế bệnh lây sang các bạn khác.

3. Điều trị

– Trường hợp nhẹ hoặc thương tổn khu trú: làm sạch tổn thương bằng dung dịch NaCl 0, 9% hay thuốc tím 1/10.000.

– Dùng mỡ/kem kháng sinh như axit fusidic ngày 2 lần (Fucidin, Foban) hoặc mupirocin (Bactroban).

– Khi thương tổn lan rộng, nặng, dai dẳng và có nguy cơ biến chứng viêm cầu thận cấp: Dùng kháng sinh toàn thân. Có thể dùng kháng sinh nhóm β-lactam, cephalosporin, macrolid, penicillin bán tổng hợp (ví dụ Augmentin, Erythromycin, Cefixim…)

– Dùng kháng Histamin nếu có ngứa: Phenergan, Loratadin…

– Nếu chốc kháng thuốc phải điều trị theo kháng sinh đồ.

– Nếu có biến chứng phải chú trọng điều trị các biến chứng.

4. Biến chứng

Chốc lở thông thường không nguy hiểm, nhưng đôi khi có thể dẫn đến biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng:

1. Biến chứng tại chỗ:

– Chàm hóa: chốc tái đi tái lại xuất hiện nhiều mụn nước mới, ngứa.

– Chốc loét: thường gặp trên trẻ em, người già bị suy dinh dưỡng nặng hay người suy giảm miễn dịch, thương tổn ăn sâu, khi khỏi để lại sẹo ảnh hưởng thẩm mỹ (chốc thông thường không để lại sẹo).

2. Biến chứng toàn thân:

– Nhiễm trùng huyết: thường gặp trên cơ thể có sức đề kháng yếu, chủ yếu do tụ cầu. – Viêm cầu thận cấp: thời gian từ chốc đến viêm cầu thận cấp thường là 3 tuần. – Ngoài ra có thể gặp: viêm quầng, viêm mô bào sâu, viêm phổi, viêm hạch, viêm xương…

5. Phòng ngừa và hạn chế bệnh lan rộng

– Biện pháp tốt nhất là luôn để cơ thể trẻ được thoáng mát: nơi ở rộng rãi, quần áo vải bông mỏng thoáng, thấm mồ hôi, tránh để hở da nhiều làm phát sinh bệnh và lây lan.

– Bảo vệ da không bị xây xát. Cha mẹ nên dạy trẻ chơi ở chỗ sạch, tránh bụi, tránh chơi gần các vật cứng nhọn, hạn chế chơi gần vật nuôi, tránh côn trùng.

– Giữ cho da trẻ sạch sẽ, tắm rửa thường xuyên, tắm cho trẻ bằng nước sạch, tránh làm xây xát. Thay và giặt sạch quần áo mỗi ngày, cắt tóc, cắt móng tay.

– Uống đủ nước, nước trái cây và ăn rau xanh.

– Tránh ở lâu những nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng, để côn trùng đốt.

– Điều trị sớm và tích cực, tránh chà xát, gãi nhiều gây biến chứng.

*Tên bệnh nhi đã được thay đổi

Ths.Bs Mai Hương – Khánh Chi

Bệnh Chốc Lở Ở Trẻ Em

Bệnh chốc lở ở trẻ em – Nguyên nhân và cách phòng ngừa

13 Dec 2019

Bệnh chốc lở ở trẻ em là gì? các triệu chứng, nguyên nhân và các cách phòng ngừa cũng như điều trị như thế nào… Đó là câu hỏi mà rất nhiều phụ huynh vẫn còn đang thắc mắc và tìm kiếm hiện nay….

Ở bài viết sau đây phòng khám đa khoa Pasteur xin gửi đến các bạn đầy đủ thông tin chi tiết về “bệnh chốc ở trẻ” để mọi người có thêm kiến thức cũng như thăm khám bác sĩ kịp thời

1/ Bệnh chốc ở trẻ là gì

Bệnh chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da phổ biến và rất dễ lây lan, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và trẻ em. Bệnh chốc lở thường xuất hiện dưới dạng vết loét đỏ trên mặt, đặc biệt là quanh mũi và miệng của trẻ và trên tay và chân. Các vết loét vỡ ra và phát triển lớp vỏ màu mật ong.

2/ Các triệu chứng

Một dạng rối loạn ít phổ biến hơn, được gọi là bệnh chốc lở, có thể xuất hiện mụn nước lớn hơn trên thân của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Một dạng bệnh chốc lở nghiêm trọng hơn, được gọi là ecthyma, xâm nhập sâu hơn vào da – gây ra các vết loét chứa đầy chất lỏng hoặc mủ biến thành vết loét sâu.

3/ Nguyên nhân gây bệnh

Tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh chốc lở khi bạn tiếp xúc với vết loét của người bị nhiễm bệnh hoặc với những vật dụng họ đã chạm vào – chẳng hạn như quần áo, khăn trải giường, khăn tắm và thậm chí cả đồ chơi.

Bệnh chốc thường xảy ra ở trẻ từ 2 – 5 tuổi

Dễ lây lan trong các trường học và cơ sở chăm sóc trẻ em

Thời tiết ấm áp, ẩm ướt

Da nứt nẻ

4/ Các biến chứng

Bệnh chốc lở thường không nguy hiểm. Và các vết loét ở dạng nhiễm trùng nhẹ thường lành mà không để lại sẹo.

Hiếm khi, các biến chứng của bệnh chốc lở bao gồm:

Viêm mô tế bào. Nhiễm trùng nghiêm trọng này ảnh hưởng đến các mô bên dưới da của bạn và cuối cùng có thể lan đến các hạch bạch huyết và máu của bạn. Viêm mô tế bào không được điều trị có thể nhanh chóng đe dọa tính mạng.

Vấn đề về thận. Một trong những loại vi khuẩn gây bệnh chốc lở cũng có thể làm hỏng thận của bạn.

5/ Khi nào đi khám bác sĩ?

Nếu bạn nghi ngờ rằng con bạn bị bệnh chốc lở, hãy tham khảo ý kiến ​​bác sĩ gia đình, bác sĩ nhi khoa của con bạn hoặc bác sĩ da liễu.

6/ Các cách phòng ngừa

Giữ cho làn da sạch sẽ là cách tốt nhất để giữ cho nó khỏe mạnh. Điều quan trọng là phải rửa vết cắt, vết trầy xước, vết côn trùng cắn và các vết thương khác ngay lập tức.

Kiểm tra và sạch sẽ mỗi ngày.

Nhẹ nhàng rửa các vết loét bằng nước ấm hay dung dịch sát trùng và gạc . Rửa vết loét cho đến khi lớp vỏ bong ra và rửa sạch mủ và máu. Xong bôi milian hay betadin

Kiểm tra các trẻ em khác cho bệnh chốc lở

Có thể dùng băng keo cá nhân sau khi bôi thuốc

Cắt móng tay của con bạn ngắn và sạch sẽ.

Rửa tay trước và sau khi chạm vào da hoặc lở loét .

Trẻ cần rửa tay thường xuyên, đặc biệt là nếu họ chạm vào các vết loét .

7/ Điều trị chốc lở

Thuốc kháng sinh có hiệu quả chống bệnh chốc lở. Những loại kháng sinh bạn nhận được phụ thuộc vào mức độ lan rộng hoặc nghiêm trọng của mụn nước.

8/ Bệnh chốc lở có lây không

Bệnh chốc có lây lan, chúng lây từ người này sang người khác khi có tiếp xúc với chất dịch rỉ ra từ các nốt lở loét. Bệnh thường lây truyền trong các trường học và cơ sở chăm sóc trẻ em do tình trạng đông đúc.

Dùng chung khăn lau, khăn trải giường, đồ chơi hoặc các vật dụng khác với người nhiễm bệnh cũng có thể làm lây truyền chốc lở. Ngoài ra, gãi cũng có thể làm các nốt lở loét lan ra các phần khác của cơ thể.

….

Mẹo Trị Bệnh Chốc Lở Ở Trẻ Em An Toàn Và Hiệu Quả

Triệu chứng bệnh chốc lở ở trẻ em

Dạng truyền nhiễm: Xuất hiện mụn đỏ trên mặt, miệng, quanh mũi, các mụn nước rất nhanh sẽ bị vỡ ra đóng vảy và có màu nâu. Có biểu hiện sưng hạch ở quanh vùng chốc lở và rất dễ lây lan sang vùng da khác.

Dạng phỏng: Trẻ thường xuất nốt phỏng nước chứa nhiều dịch không đau nhưng gây ngứa. Khi vết phỏng vỡ ra sẽ đóng vảy vàng và lâu lành.

Dạng thể mủ: Chốc lở ăn sâu vào lớp biểu bì gây ra các triệu chứng: đau, nốt mụn có mủ, chứa nhiều dịch, vết loét sâu, có vảy dầy, sưng hạch quanh chỗ chốc lở.

+ Do hai loại vi khuẩn gây ra – Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes.

+ Bình thường chúng vô hại cho da đến khi da bé bị một vết xước nào đó thì chúng sẽ xâm nhập vào và gây ra chốc lở.

+ Do trẻ còn quá nhỏ và hệ thống miễn dịch còn yếu

+ Trẻ thường xuyên tiếp xúc với các môi trường nhiễm khuẩn khi ở trường học tập, vui chơi

+ Thời tiết nóng ẩm, đặc biệt vào mùa hè tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.

Cách điều trị bệnh chốc lở ở trẻ em an toàn tại nhà

Dùng phương pháp dân gian trị chốc lở cho trẻ em an toàn

Phương pháp dân gian thường không gây hại gì cho trẻ, nhưng bạn cũng phải tham khảo bác sĩ kĩ trước khi dùng, vì do từng cơ địa của bé nên cách chữa trị cũng nhau, vì vậy để đảm bảo an toàn tuyệt đối thì vẫn phải tham khảo trước khi thực hiện.

Dùng 30g hành hoa giã nát trộn với ít mật ong đắp lên vùng da bị chốc lở 15 phút rồi rửa sạch. Ngày đắp từ 2 đến 3 lần, nên dùng nước nấu trầu không để vệ sinh hàng ngày, như vậy sẽ có kết quả tốt hơn.

Dùng 100g sài đất rửa sạch, cho vào nồi đun sôi, hàng ngày dùng nước đó để gội đầu, tắm. Tắm liên tục trong 5 ngày sẽ thuyên giảm. Sau khi tắm có thể giã nát quả mướp đắng đắp lên vùng da bị chốc lở.

Trị chốc lở ở trẻ em bằng cây thuốc giải cảm – Tía tô

Dùng 100g lá tía tô giã nát lấy nước cốt tắm cho trẻ, Ngoài ra có thể thêm sài đất 50 g đem nấu với nước sôi tắm hàng ngày. Cũng tắm liên tục trong 5 ngày.

Dùng dung dịch Nacl 0,9% và giấm trị chốc lở ở trẻ em an toàn

Hoặc có thể pha 1 lít nước với 1 muỗng canh giấm trắng rồi ngâm vùng da bị chốc lở 20 phút giúp nhẹ nhàng loại bỏ các vảy da.

Chảy Máu Cam Ở Trẻ Em Và Cách Xử Trí

Cập nhật: 15/03/2016 – 6:59 am

Cảnh máu chảy nhoe nhoét ở mũi và hương vị khó chịu của máu trong miệng có thể làm trẻ hoảng sợ và liên tưởng tới chuyện gì đó hết sức nghiêm trọng.

1. Phân loại

Chảy máu mũi được chia thành 2 loại, chảy máu mũi trước và chảy máu mũi sau.

Chiếm khoảng 90% trường hợp. Xuất phát từ phía trước mũi. Vị trí hay bị chảy máu nhất là đám rối Kieselbach ở phần dưới của vách ngăn mũi. Khu vực này chứa nhiều mạch máu nhỏ rất dễ vỡ khi xì mũi hay khi có chấn thương cục bộ (ngoáy mũi, day mũi).

Rất phổ biến ở những vùng khí hậu hanh khô hay môi trường khô (dùng lò sưởi, máy điều hòa kéo dài). Tình trạng khô niêm mạc khiến vách ngăn mũi có vảy, nứt nẻ và chảy máu.

Thường chảy máu một bên. Máu mũi chủ yếu chảy ra phía trước (nếu có chảy xuống họng thì số lượng cũng ít). Chảy máu dai dẳng, khối lượng không nhiều. Thường ngừng chảy máu sau khi áp dụng các biện pháp sơ cứu. Trường hợp nặng cần ‘đốt’ điểm mạch bằng nitrat bạc hoặc hóa chất khác.

Tuy không phổ biến ở trẻ em nhưng chảy máu mũi sau nguy hiểm hơn và khó kiểm soát hơn và thường cần được chăm sóc y tế. Thường xuất hiện ở người cao tuổi, người huyết áp cao hay trong chấn thương vùng mũi mặt.

2. Nguyên nhân Chảy máu mũi có thể xuất hiện vì nhiều lý do:

Mạch máu quá nhạy cảm và có thể vỡ khi thời tiết hanh khô, hoặc khi sử dụng lò sưởi, máy điều hòa trong một thời gian dài.

Dị ứng, nhiễm trùng ở mũi họng và xoang.

Ngoáy mũi hay các loại chấn thương cục bộ khác.

Xì mũi quá mạnh.

Rặn mạnh khi đi ngoài phân bị táo bón.

Vách ngăn mũi bị vẹo.

Thở oxy qua ống thông mũi.

Một số loại thuốc như thuốc chống viêm, các loại thuốc xịt mũi.

Gãy xương mũi hay vỡ nền sọ (cần đặc biệt cẩn thận nếu chảy máu mũi xuất hiện sau chấn thương đầu).

Bệnh chảy máu hay rối loạn đông máu.

Rất hiếm khi, các khối u (lành tính và ác tính) có thể là thủ phạm gây chảy máu mũi.

3. Sơ cứu

Nếu chăm sóc đúng cách, phần lớn các trường hợp chảy máu mũi trước sẽ tự ngừng. Sau khi trẻ đã bình tĩnh, hãy thực hiện các bước sau:

Yêu cầu trẻ xì mũi nhẹ nhàng để loại bỏ các cục máu đống đã hình thành bên trong mũi. Điều này có thể khiến máu chảy nhiều hơn trong chốc lát nhưng sau đó mọi việc sẽ ổn. Bỏ qua giai đoạn này nếu trẻ quá nhỏ.

Đặt trẻ ngồi thẳng, đầu và cổ hơi ngả về trước. Tư thế này giúp máu không chảy xuống họng, tránh gây nôn và tiêu chảy. Không đặt trẻ nằm hay ngả đầu ra sau hoặc kẹp đầu giữa hai đầu gối.

Dùng ngón trỏ và ngón cái của bạn bóp chặt hai bên cánh mũi (phần chóp mũi mềm) của trẻ. Không bóp phần xương sống mũi vì làm vậy không thể giúp cầm máu, cũng đừng ấn một bên cánh mũi, kể cả nếu chỉ chảy máu ở một phía.

Bóp chặt cánh mũi trong 10 phút, dùng đồng hồ để xem giờ cho chính xác. Trong khi chờ đợi, cho trẻ đọc sách hay xem tivi. Đừng thả tay quá thường xuyên để kiểm tra xem máu ngừng chảy chưa. Máu cần thời gian để tạo cục máu đông. Thả tay quá sớm hoặc quá thường xuyên có thể khiến máu chảy kéo dài.

Nếu muốn, có thể chườm lạnh hay đặt khăn mát lên vùng gốc mũi và má của trẻ hoặc cho trẻ ngậm một viên đá. Điều này giúp mạch máu ở mũi co lại, làm chậm quá trình chảy máu. Chỉ nên áp dụng biện pháp này nếu trẻ đồng ý phối hợp.

Hướng dẫn trẻ nhổ máu tích tụ trong miệng vì nuốt máu có thể gây nôn.

Cho trẻ uống chút nước mát để đỡ căng thẳng và tẩy bớt mùi máu trong miệng.

Sau 10 phút, thả tay xem máu ngừng chảy chưa.

Nếu máu vẫn tiếp tục chảy thì nhắc lại các bước trên một lần nữa. Có thể dùng thuốc co mạch tại chỗ (Afrin hoặc Rhinex) nhỏ vào mũi để làm ngưng chảy máu.

4. Khi nào cần đi khám bác sĩ?

Đưa trẻ đến các cơ sở tai mũi họng để được khám và xử trí kịp thời nếu:

Không cầm máu sau khi áp dụng các biện pháp sơ cứu trong vòng 20 phút.

Chảy máu mũi tái đi tái lại nhiều lần.

Máu chảy nhanh hoặc mất nhiều máu (hơn một cốc đầy).

Chảy máu do chấn thương, ví vụ ngã hay bị đấm vào mặt.

Cảm thấy người yếu, chóng mặt.

Máu chảy xuống phần sau họng chứ không chảy ra phần trước mũi kể cả khi trẻ đã ngồi ngả đầu về phía trước. Trường hợp chảy máu sau này luôn cần đến sự trợ giúp của bác sĩ.

Chảy máu mũi khi dùng một loại thuốc mới.

Cháy máu mũi đi kèm các vết tím bầm dập trên khắp cơ thể hoặc đi kèm chảy máu ở khu vực khác như xuất hiện máu trong phân, nước tiểu.

Đang dùng thuốc chống đông máu.

Trẻ có bệnh toàn thân khác ảnh hưởng tới đông máu như bệnh gan, bệnh thận, bệnh hemophilia.

Mới trải qua hóa trị liệu.

5. Điều trị tại cơ sở y tế

Việc điều trị cấp cứu cũng dựa trên nguyên tắc sơ cứu ban đầu như trên. Nhân viên y tế sẽ hướng dẫn cha mẹ cách ấn mũi cho máu ngừng chảy. Nếu các biện pháp sơ cứu này không mang lại hiệu quả, máu mũi tiếp tục chảy, bác sĩ sẽ kiểm tra tìm điểm mạch chảy máu.

Sau đó, bác sĩ có thể:

Bôi thuốc mỡ cầm máu vào bên trong mũi của trẻ.

Dùng nitrat bạc hoặc các hóa chất khác để ‘đốt’ các mạch máu.

Kê đơn kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn.

Với các trường hợp chảy máu nặng, trẻ có thể cần làm xét nghiệm máu để xác định lượng máu bị mất.

Chăm sóc sau điều trị

Trường hợp không cần đặt bấc mũi, bác sĩ có thể yêu cầu bôi thuốc mỡ kháng sinh vào bên trong mũi trong vòng 1 tuần để ngăn ngừa nhiễm trùng.

Nếu mũi của trẻ khô và nứt nẻ, cha mẹ có thể dùng đầu tăm bông nhẹ nhàng bôi chút mỡ vaseline vào bên trong mũi. Có thể làm vậy 2 lần mỗi tuần. Không thực hiện động tác này ở trẻ dưới 4 tuổi vì trẻ thường ngọ nguậy và có thể gây chấn thương.

Nếu được điều trị đúng, phần lớn bệnh nhân sẽ hồi phục và không bị ảnh hưởng lâu dài.

6. Các biện pháp phòng ngừa chảy máu mũi trở lại:

Trẻ cần được nghỉ ngơi ít nhất trong vòng 2 giờ (hoạt động nhẹ nhàng như đọc sách, vẽ tranh hay xem tivi).

Không cho trẻ uống đồ nóng, thức ăn nóng hay tắm nước nóng trong vòng ít nhất 24 giờ sau khi chảy máu cam.

Động viên trẻ không ngoáy mũi hay xì mũi trong vòng 24 giờ (1 tuần nếu trẻ đã được ‘đốt’ điểm mạch).

Trong vòng 1 tuần, trẻ cần tránh các hoạt động mạnh hay các môn thể dục như chạy, tránh nhấc vật nặng.

Nếu trẻ bị táo bón thì cho uống nhiều nước và tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn. Nếu cần thì yêu cầu bác sĩ cho thuốc làm mềm phân để trẻ không phải rặn.

Có thể làm ẩm niêm mạc mũi bằng kem làm ẩm hoặc nước muối sinh lý.

Nếu chảy máu trở lại:

Xì mũi để tống hết các khối máu đông ra ngoài.

Dùng thuốc co mạch tại chỗ (Afrin hoặc Rhinex) nhỏ vào lỗ mũi bị chảy máu.

Nhắc lại các bước sơ cứu nêu ở phần trên. Thực hiện động tác bóp hai cánh mũi trong vòng 10 phút.

7. Diễn biến

Phần lớn chảy máu mũi chỉ gây khó chịu chút ít. Trẻ có thể bị vài đợt chảy máu mũi trong vài tuần. Rất hiếm khi trẻ mất máu tới mức gây thiếu máu. Hiện tượng này có thể xảy ra nếu trẻ mất máu nặng nhiều lần trong vòng vài tuần.

8. Dự phòng

Một khi đã xuất hiện tình trạng chảy máu mũi trước, khu vực này sẽ nhạy cảm hơn nhiều và rất dễ chảy máu trở lại nếu niêm mạc mũi chưa bình phục hoàn toàn. Lúc này vòng xoắn luẩn quẩn sẽ tiếp tục. Từ chỗ vài tuần mới có một lần chảy máu cam, khi niêm mạc mũi bị tổn thương nặng dần, trẻ có thể bị 4-5 lần chảy máu liên tục. Hiện tượng chảy máu cam chỉ ngừng lại khi niêm mạc mũi bình phục. Vì vậy việc áp dụng các biện pháp ngăn ngừa chảy máu mũi trước là hết sức quan trọng.

Giữ cho niêm mạc mũi được ẩm. Có thể bôi một chút kem vaseline vào phần trước của vách ngăn mũi. Số lần bôi tùy vào từng trẻ. Nếu bé thường xuyên chảy máu mũi thì cần bôi 2 lần mỗi ngày cho tới khi không còn chảy máu cam trong vài ngày liên tục. Các trường hợp khác có thể bôi khi thấy có nhu cầu.

Cho trẻ uống đủ nước.

Tránh chấn thương vùng vách ngăn mũi.

Dùng máy phun sương làm ẩm không khí. Chú ý làm vệ sinh máy thường xuyên.

Dùng nước muối sinh lý nhỏ hoặc xịt mũi giúp làm ẩm niêm mạc. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ thường xuyên bị cảm, ngạt mũi hay dị ứng mũi.

Nếu chảy máu cam dai dẳng, nên đưa trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

BS Trần Thu Thủy

Bạn đang xem bài viết Nhận Biết Và Xử Trí Bệnh Chốc Lở Ngoài Da Ở Trẻ Em trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!