Xem Nhiều 1/2023 #️ Phác Đồ Điều Trị Hóa Chất Ung Thư Phổi: Hiệu Quả Và Các Lưu Ý # Top 5 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 1/2023 # Phác Đồ Điều Trị Hóa Chất Ung Thư Phổi: Hiệu Quả Và Các Lưu Ý # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phác Đồ Điều Trị Hóa Chất Ung Thư Phổi: Hiệu Quả Và Các Lưu Ý mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các phác đồ điều trị hóa chất ung thư phổi có hiệu quả như thế nào, có những vấn đề gì cần lưu ý là điều rất nhiều người quan tâm, bởi đây là một trong những phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân ung thư phổi hiện nay.

1. Đại cương về ung thư phổi

Các khối u ác tính phát triển từ các tuyến phế quản, phế nang, biểu mô phế quản hoặc tiểu phế quản tận chính là ung thư phổi. Đây là căn bệnh còn được biết đến với tên ung thư phế quản hoặc ung thư phổi nguyên phát.

Đây là loại ung thư hay gặp nhất, chiếm trên 90% trong các khối u ở phổi. Ở các nước phát triển tỉ lệ mắc bệnh này đang ngày càng gia tăng do số lượng người nghiện thuốc lá rất cao ở cả nữ giới. Hiện ung thư phổi là loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới và đứng thứ 3 ở nữ giới. Ở Việt Nam tỉ lệ mắc mới bệnh này cũng có xu hướng ngày càng tăng.

Căn bệnh ác tính với tỉ lệ mắc cao vào nhóm bậc nhất này có tiên lượng khá xấu với số ca sống thêm 5 năm thấp, năm 1993 là 8% và năm 1997 là 11% ở người da màu và 14% ở người da trắng trên toàn Thế giới.

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư phổi như phẫu thuật, hóa trị (điều trị hóa chất), xạ trị, thuốc nhắm đích, liệu pháp miễn dịch,… Dựa vào loại bệnh, giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe toàn trạng, đột biến gen, các bệnh mắc kèm,… để lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp.

2. Chỉ định điều trị hóa chất trong ung thư phổi và một số lưu ý

2.1. Chỉ định điều trị hoá chất trong ung thư phổi

Đối với bệnh ung thư phổi, chỉ định hóa trị liệu khi:

Trước phẫu thuật để thu nhỏ khối u, tạo điều kiện cho phẫu thuật thuận lợi hơn, gọi là điều trị tân bổ trợ.

Sau phẫu thuật hoặc xạ trị để dọn dẹp hết các tế bào ung thư phổi còn sót lại gọi là điều trị bổ trợ.

Dùng là phương thức điều trị chính đối với trường hợp không thể chữa bằng phẫu thuật hoặc tia xạ khi ung thư đã lan rộng.

Ở những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ từ giai đoạn III, chỉ định điều trị hóa chất phối hợp đồng thời hoặc tuần tự với xạ trị.

Ở giai đoạn 0, I, II đối với những bệnh nhân có điểm toàn trạng (ECOG/WHO):

Giai đoạn 0: Người bệnh khỏe mạnh, không có triệu chứng lâm sàng.

Giai đoạn I: Có ít triệu chứng, giảm khả năng lao động.

Giai đoạn II: Có triệu chứng, thời gian nằm của người bệnh nhỏ hơn 50% thời gian thức.

2.2. Lập phác đồ và kế hoạch điều trị ung thư phổi

Trước tiên, cần dựa vào thăm khám lâm sàng và chụp chiếu, xét nghiệm đánh giá loại bệnh, giai đoạn bệnh và tình trạng của bệnh nhân để đưa ra mục đích điều trị hoá chất trong ung thư phổi là chữa khỏi hay là điều trị triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Phác đồ và kế hoạch điều trị hóa chất ung thư phổi sẽ khác nhau trên từng bệnh nhân cụ thể:

– Theo diện tích bề mặt cơ thể của người bệnh để bác sĩ tính liều lượng thuốc hóa trị.

– Thường thì phác đồ điều trị ung thư phổi sẽ kết hợp nhiều hóa chất với nhau, phác đồ dạng kết hợp thuốc đã được chứng minh hiệu quả hơn dùng một thuốc. Quy tắc cần kết hợp thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau và không gây ra độc tính giống nhau trên cùng một cơ quan.

2.3. Các vấn đề gặp phải khi điều trị hoá chất ung thư phổi

Điều trị hóa chất trong ung thư nói chung và ung thư phổi nói riêng đều làm nhiều bệnh nhân lo lắng bởi những vấn đề nó gây ra. Một số vấn đề người bệnh có thể gặp khi hóa trị ung thư phổi như sau:

Kháng thuốc: đây là tình trạng gặp phải khiến người bệnh có thể phải đổi phác đồ với hóa chất khác hoặc cần đổi cả biện pháp điều trị khác. Kháng thuốc có thể gặp ngay từ đầu hoặc sau khi điều trị mắc phải.

Tác dụng phụ trên hệ tiêu hoá: khó nuốt, buồn nôn và nôn, đau dạ dày, tiêu chảy hoặc táo bón.

Tác dụng phụ trên da: da dễ bị khô nhăn, nhạy cảm dẫn đến bỏng khi gặp ánh nắng mặt trời.

Tác dụng phụ gây độc với tế bào nang tóc: gây rụng tóc, tóc dễ gãy.

Tác dụng phụ ức chế tủy xương: Do tủy xương là nơi sản xuất các tế bào máu nên hóa chất trị liệu ức chế tủy xương sẽ gây ra tình trạng thiếu máu do thiếu hồng cầu, dễ nhiễm trùng do giảm bạch cầu, dễ chảy máu do giảm tiểu cầu.

Tác dụng phụ trên hệ sinh dục: nam giới bị giảm số lượng tinh trùng, nữ giới bị giảm kinh nguyệt.

3. Hiệu quả và các lưu ý khi sử dụng phác đồ điều trị hóa chất ung thư phổi

3.1. Đánh giá hiệu quả điều trị ung thư phổi bằng hóa chất

Muốn biết hiệu quả của quá trình điều trị ung thư phổi bằng hóa chất, cần so sánh với mục tiêu điều trị ban đầu. Thường sau 2-3 chu kỳ điều trị hóa chất, hiệu quả điều trị của phác đồ sẽ được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 như sau:

+ Phác đồ đáp ứng toàn bộ: Sau điều trị không còn khối u.

+ Phác đồ đáp ứng 1 phần: Khối u có đường kính giảm từ 30% trở lên.

+ Phác đồ giúp bệnh ổn định: Khối u giữ nguyên kích thước, không thu nhỏ cũng không tăng lên.

+ Phác đồ làm bệnh tiến triển: Khối u bị tăng kích thước từ 20% hoặc có tổn thương mới xuất hiện.

3.2. Các lưu ý khi điều trị ung thư phổi bằng hóa chất

Như đã nói ở trên, hóa trị ung thư phổi là cần thiết nhất là trong trường hợp bệnh đã di căn xa, song phương pháp này cũng mang lại nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Những tác dụng không mong muốn này có thể là độc tính cấp, nghĩa là xảy ra trong hoặc sau vài ngày điều trị, thường khi kết thúc quá trình điều trị sẽ hồi phục và không để lại biến chứng. Tuy nhiên, các tác dụng không mong muốn này cũng có thể là độc tính muộn, có thể sau vài tháng, thậm chí vài năm, thường gây ảnh hưởng nặng đến cơ thể hoặc nguy hiểm hơn có thể gây tử vong như viêm phổi, suy tim,…

Việc sử dụng các thuốc để giảm triệu chứng đối với các tác dụng không mong muốn sẽ được các bác sĩ cân nhắc ngay khi có phác đồ điều trị với các thuốc nguy cơ cao, hoặc khi xuất hiện trên cơ thể người bệnh được báo cáo. Biện pháp đi kèm quan trọng trong đó là chế độ dinh dưỡng khoa học, tránh ăn kiêng, ăn đầy đủ các nhóm chất dinh dưỡng; tập thể dục, vận động cơ thể nhẹ nhàng, phù hợp sức khỏe và tham khảo ý kiến bác sĩ nếu cần; tránh tiếp xúc trực tiếp với hóa chất hoặc ánh sáng mặt trời, dùng kem dưỡng ẩm với vùng da bị nhạy cảm.

Nhìn chung, các lưu ý để giảm thiểu tác dụng phụ và biến chứng nguy hiểm sau hóa trị liệu, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ trực tiếp điều trị và người bệnh, người chăm sóc, kể cả trong công tác quản lý, điều trị và theo dõi sau điều trị, chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư phổi.

Các phác đồ điều trị hóa chất ung thư phổi đang được điều chỉnh và cải tiến dần theo tiến bộ của y học hiện đại, hi vọng có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh.

Truyền Hóa Chất Ung Thư Phổi Là Gì? Phác Đồ Hóa Trị Ung Thư Phổi

Truyền hóa chất ung thư phổi là phương pháp hóa trị liệu được chỉ định trong điều trị ung thư. Phương pháp này chủ yếu sử dụng các loại thuốc chống ung thư để tiêu diệt hoặc kiểm soát sự phát triển của các tế bào ung thư. Vậy truyền hóa chất ung thư phổi là gì? Phác đồ hóa trị ung thư phổi diễn ra như thế nào?

Truyền hóa chất ung thư phổi là gì?

Truyền hóa chất ung thư phổi là phương pháp hóa trị toàn thân. Được sử dụng khi các tế bào ung thư phổi tăng sinh mất kiểm soát. Các loại thuốc chống ung thư sẽ được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch. Hoặc đưa vào cơ thể qua đường uống. Để tiêu diệt hoặc ngăn chặn sự phân chia của các tế bào ung thư. Giúp người bệnh kiểm soát được tốt hơn tình trạng bệnh tình của mình.

Phương pháp hóa trị liệu thường được các bác sĩ ưu tiên áp dụng trong điều trị ung thư phổi. Bởi đặc tính của loại ung thư này đáp ứng rất tốt với hóa trị liệu. Các tế bào ung thư phổi cũng có xu hướng đã lan rộng ra các cơ quan lân cận khác. Khi đó, thuốc hóa trị sẽ di chuyển qua đường mạch máu và đi khắp cơ thể. Vì vậy, việc truyền hóa chất ung thư phối có thể điều trị các tế bào đã bị vỡ ra từ khối u phổi và lan ra các phần khác của cơ thể. Ngay cả khi các khối u vẫn còn quá nhỏ để có thể nhìn thấy trên hình ảnh.

Đối với bệnh ung thư phổi, bệnh nhân có thể hóa trị đơn thuần. Hoặc kết hợp với phương pháp xạ trị để làm tăng hiệu quả. Trong trường hợp người bệnh phát hiện ung thư phổi ở giai đoạn sớm. Các bác sĩ có thể tư vấn nên tiến hành hóa trị cùng với phẫu thuật để loại bỏ triệt để tế bào ung thư. Các loại thuốc hóa trị cũng sẽ được kết hợp với nhau để tăng hiệu quả điều trị.

Các loại hóa chất được sử dụng trong điều trị ung thư phổi

Thuốc chữa ung thư akyl hoá tổng hợp: Altretamine, Busulfan, Carboplatin, Carmustine, Chlorambucil, Cisplatin, Cyclophosphamide… Loại thuốc này có tác dụng ngăn chặn tế bào không tái tạo bằng cách làm hỏng DNA.

Các chất chống chuyển hóa: 5-fluorouracil (5-FU), 6-mercaptopurine (6-MP), Capecitabine…

Kháng sinh chống ung thư: Daunorubicin, Doxorubicin, Epirubicin… Giúp làm thay đổi và đứt gãy các ADN bên trong các tế bào ung thư.

Chất ức chế topoisomerase: Topotecan, Irinotecan (CPT-11)…Có tác dụng can thiệp vào các enzyme để tách các sợi ADN nhằm sao chép các ADN thuận lợi.

Chất ức chế mitroza: Docetaxel, Estramustine, Ixabepilone… Loại thuốc này giúp ngăn chặn các tế bào phân chia thành các tế bào mới.

Corticosteroid: Prednisone; Methylprednisolone…

Phác đồ hóa trị ung thư phổi

Phác đồ hóa trị ung thư phổi thường áp dụng cho những bệnh nhân mắc ung thư phổi ở giai đoạn đầu. Tuân thủ thực hiện đúng theo phác đồ hóa trì sẽ giúp bệnh nhân kéo dài thời gian sống của mình. Còn với bệnh nhân ở giai đoạn cuối thì khả năng chữa trị thành công với phương pháp này sẽ thấp hơn rất nhiều.

Tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư.

Kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Giảm đau và giảm các triệu chứng khó chịu cho người bệnh.

Chỉ định điều trị hoá trị ung thư phổi

Khi các tế bào ung thư phổi lan rộng và không thể chữa khỏi bằng phương pháp phẫu thuật.

Áp dụng điều trị khi các tế bào đã di căn.

Các tế bào ung thư phân chia quá mức và nhạy cảm hơn với điều trị hoá chất.

Khi các khối u phát triển nhanh sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Vì vậy, tăng nhạy cảm với hoá chất.

Liều lượng thuốc được sử dụng dựa vào độ tuổi, sức khỏe và cân nặng của từng người.

Các loại thuốc hóa trị sẽ được kết hợp với nhau để tăng hiệu quả điều trị. Rất hiếm khi các loại thuốc được dùng một cách đơn lẻ.

Các thuốc kết hợp có độc tính và cơ chế tác dụng khác nhau. Do đó khả năng gây ra tác dụng phụ cũng sẽ tăng lên.

Thuốc ức chế thụ cảm thể phát triển biểu mô được chỉ định cho bệnh nhân bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Các thuốc được sử dụng là Tarceva 100 hoặc 150 mg với liều lượng 1 viên/ngày.

Thuốc ức chế yếu tố phát triển nội mô mạch máu: Bevacizumab. Chống chỉ định cho UTP tế bào gai, ho ra máu, viêm cần thận..

Các loại thuốc thường được kết hợp với nhau trong điều trị hóa trị mà các bác sĩ thường dùng đó là: Carboplatin với Etoposide; Carboplatin với Paclitaxel; Carboplatin với Docetaxel

Nếu bệnh nhân bị ung thư tế bào tuyến thì việc thăm khám cần xem xét cẩn trọng hơn. Người bệnh sẽ được làm xét nghiệm biến đổi gen EGFR. Nếu kết quả dương tính thì dùng thêm một số loại thuốc điều trị khác.

Kháng thuốc gây ra hiện tượng sốc phản vệ.

Gây loét miệng họng, rụng tóc, mệt mỏi.

Thiếu máu, nhiễm trùng máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.

Buồn nôn và nôn, đau dạ dày, khó nuốt, táo bón, tiêu chảy.

Khô da, bỏng do ánh nắng mặt trời.

Giảm số lượng tinh trùng, rối loạn chu kì kinh nguyệt, vô sinh, đột biến di truyền cho con cái.

Suy tim, xơ bên phổi còn lại.

Truyền hóa chất ung thư phổi là một bước quan trọng trong điều trị ung thư phổi. Khi phát hiện ở giai đoạn đầu thì quá trình điều trị sẽ đơn giản và tỉ lệ thành công sẽ cao hơn. Tuy nhiên, phương pháp này cũng gây ảnh hưởng tới các tế bào bình thường và gây ra nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng tới sức khỏe của người bệnh. Vì vậy, người bệnh cần được bác sĩ tư vấn trước khi tiến hành áp dụng phương pháp truyền hóa chất ung thư phổi này.

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Màng Phổi

UNG THƯ MÀNG PHỔI

1. LỊCH SỬ Từ buổi đầu của thời đại Cơ đốc giáo đã có một vài cuộc hội thảo vể những đồ vật và vật liệu có bản chất chịu lửa và cả hai thứ đều được coi là loại vật chất kỳ diệu gần với siêu tự nhiên, vải mặc bằng sợi amiant được biết như sợi len đá, đã được mô tả lại trong văn học cổ xưa như một thứ ma thuật vì nó có thể ném vào lửa mà sau đó khi lấy ra vẫn còn giữ được hoàn toàn nguyên vẹn.

6.4. Tần suất Tần suất mắc ung thư màng phổi phụ thuộc vào cường độ và thời gian tiêp xúc với amiant. Điều này được minh chứng trong thực tế như các công nhân có nghề nghiệp phải tiếp xúc nhiều và lâu dài với amiant có tỷ lệ mắc ung thư màng phổi cao hơn. Những công nhân sản xuất các vật liệu cách nhiệt, làm nồi hơi to bằng vật liệu cách nhiệt, các công nhân làm ống nước, thợ lắp ráp sửa chữa ống nước tính và những người làm việc trong các tàu thuỷ chứa nhiều vật liệu có chứa amiant kết hợp với điều kiện thông khí kém, các thợ trát vữa tiếp xúc với những dung dịch phun giảm nhiệt trên các dàn thép, công nhân xưởng đóng tàu, thợ điện, thợ cơ khí, thợ nề, thợ máy xay, công nhân dệt thảm, luyện thép, các công nhân trong công nghiệp tinh chế. Ngoài ra, cũng không ít trường hợp có nghề nghiệp tiếp xúc rất ít đối với amiant hoặc các vật dụng trong gia đình cũng có biểu hiện của ung thư màng phổi. Một số trường hợp ung thư màng phổi xuất hiện 30 hoặc 40 năm sau một mùa hè có tham gia công việc xây dựng, nội trợ hoặc các trẻ em có tiếp xúc với quần áo bảo hộ lao động của người thân trong gia đình có nghề nghiệp tiếp xúc với amiant.6.5. Triệu chứng lâm sàng – Trong ung thư màng phổi các triệu chứng sớm thường mơ hồ và chung chung làm bệnh nhân cũng như thầy thuốc không để ý đến nên hay dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Một số trường hợp bệnh thể hiện giống như viêm phổi do virus- Biểu hiện sớm và thường gặp nhất của bệnh là khó thở. Nguyên nhân của khó thở trong ung thư màng phổi chủ yếu là do tràn dịch màng phổi nhiều gây chèn ép làm hạn chế thể tích thông khí. Trong ung thư màng phổi có hơn một nửa số bệnh nhân có biểu hiện đau lưng ở phần thấp và hay đau một bên ngực. Nguyên nhân đau thường do hậu quả của tình trạng xâm lấn của khối u màng phổi cũng như sự đè ép của nó đối với các cấu trúc sống kế cận. Đau sẽ trở nên đặc biệt dữ dội nếu khối u màng phổi xâm lấn vào thành ngực và xương sườn. Theo Gìesen LLvàCS (1988), chứng tăng số lượng tiểu cầu (thrombocytosis) ở các bệnh nhân ung thư màng phổi là một biểu hiện tương đối hay gặp và kết hợp với tiên lượng rất xấu. Khi bệnh tiến triển có một số biểu hiện bất thường của hội chứng cận ung thư có thể kết hợp kèm theo như hạ đường huyết, tăng calci máu, tăng tiểu cầu, tắc mạch phổi, thiếu máu tan máu tự miễn, hiện tượng tăng đông (hypercoagulability) và hội chứng tiết hormone bài niệu không thích ứng (syndrome of inapproriate secretion of antidiuretic hormone – SIADH). Tuy nhiên, những biểu hiện nay là cực kỳ hiếm gặp. Ngoài ra, còn có một số triệu chứng ít gặp với tỷ lệ khá thấp như rối loạn nuốt, ho, sốt, ra mồ hôi, mệt mỏi và sút cân. Cá biệt một số bệnh nhân còn có các triệu chứng như nói khàn, ho ra máu, sưng mặt, sưng cánh tay, yếu cơ và mất cảm giác. Chính vì các biểu hiện không đặc trưng này nên ung thư biểu mô màng phổi rất khó phát hiện được sớm. Đại đa số bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng trước khi được chẩn đoán trong khoảng thời gian từ 2 – 3 tháng. Có đến 1/4 số trường hợp có triệu chứng lâm sàng trong ít nhất 6 tháng trước tính khi được chẩn đoán. Trong thực tế khi phát hiện được thì thường bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Ở một vài trường hợp cá biệt người bệnh hầu như không có bất kỳ một biểu hiện bệnh lý nào. Một số tác giả khi nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng của ung thư màng phổi đã thu được một số kết quả như: khởi đầu gần đây khó thở (31%), tình trạng khó thở gần đây tăng lên (30%), đau ngực (43%), tràn dịch màng phổi là biểu hiện thường gặp nhất (79%). Trong TDMP bệnh nhân có thể có các triệu chứng như đau ngực và hoặc ho dai dẳng; trong khi ở một số bệnh nhân khác lại không có bất kỳ một loại triệu chứng nào. Tràn dịch bên phải hay gặp hơn bên trái (60%) và TDMP cả 2 bên với tỷ lệ khoảng 5%. Một số triệu chứng khác: ho (35%), sút cân (23%), yếu (18%), số lượng đạm tăng (18%). Ngoài ra, còn có một số triệu chứng do hậu quả của hiện tượng xâm lấn phúc mạc của ung thư màng phổi: người bệnh thường có những triệu chứng như đau bụng (60%), chán ăn (27%), yếu (12%), nôn (11%). Những triệu chứng thường gặp nhất ở các bệnh nhân ung thư màng phổi phúc mạc như: bụng căng (56%), cổ trướng (37%), sút cân (38%), khối u ở bụng (11%), một số triệu chứng khác có thể gặp (tắc ruột, thiếu máu, phù chân). Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân bị ung thư màng phổi phúc mạc rất thấp chỉ chiếm 5,1%. Trường hợp hiếm gặp nhất là thể ung thư màng phổi, màng ngoài tim (0,4%). – Đối với thể u trung biểu mô màng phổi phúc mạc (peritoneal mesothelioma). Đây là một thể đặc biệt của ung thư màng phổi. Sở dĩ được gọi là ung thư màng phổi phúc mạc do khối u xuất phát từ phúc mạc. Thể ung thư này gặp tương đối hiếm với tần-suất chỉ bằng 1/4 số trường hợp ung thư màng phổi. Tỷ lệ ung thư màng phổi phúc mạc ở những người có tiếp xúc với amiant là 12:1. Cũng như ung thư màng phổi, các triệu chứng của bệnh thường xuất hiện sau 20 – 40 năm tiếp xúc với amiant. Các triệu chứng không đặc trưng như đau bụng, chán ăn, gầy sút, nôn, buồn nôn và bụng to dần ra là những biểu hiện thường gặp. Một vài biếu hiện khác như tắc ruột, khó thở do khối u chèn ép. Cá biệt có trường hợp bệnh có triệu chứng giống viêm phổi do virus. – Đối với ung thư màng phổi thể màng ngoài tim (pericardial mesothelioma) là một thể bệnh rất hiếm gặp của ung thư màng phổi. Cũng như ung thư màng phổi hoặc ung thư màng phổi phúc mạc bệnh xảy ra do có tiền sử tiếp xúc với amiant và thường các triệu chứng lâm sàng biểu hiện rất chậm sau 15-40 năm tiếp xúc. Các triệu chứng có thể gặp như cảm giác khó chịu ở vùng ngực, khó thở, ho và một số biểu hiện khác (gầy sút, kém ăn, mệt mỏi). Trên thực tế lâm sàng phát hiện được ung thư màng phổi thể màng ngoài tim thường bệnh đã ở giai đoạn rất muộn.7. TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG 7.1. Xquang Có thể phát hiện thấy một số hình ảnh như: – Tràn dịch màng phổi từ mức độ vừa đến rất nhiều là biểu hiện thường thấy ở bên phía màng phổi bị bệnh. Có thể phát hiện TDMP chỉ trên phim nghiêng với hình ảnh góc sườn hoành ở phía sau bị tù. – Hình ảnh màng phổi rất dày, dạng nốt, một khối màng phổi có bề mặt nhất (79%). Trong TDMP bệnh nhân có thể có các triệu chứng như đau ngực và hoặc ho dai dẳng; trong khi ở một số bệnh nhân khác lại không có bất kỳ một loại triệu chứng nào. Tràn dịch bên phải hay gặp hơn bên trái (60%) và TDMP cả 2 bên với tỷ lệ khoảng 5%. Một số triệu chứng khác: ho (35%), sút cân (23%), yếu (18%), số lượng đờm tăng (18%). Ngoài ra, còn có một số triệu chứng do hậu quả của hiện tượng xâm lấn phúc mạc của ung thư màng phổi: người bệnh thường có những triệu chứng như đau bụng (60%), chán ăn (27%), yếu (12%), nôn (11%). Những triệu chứng thường gặp nhất ở các bệnh nhân ung thư màng phổi phúc mạc như: bụng căng (56%), cổ trướng (37%), sút cân (38%), khối u ở bụng (11%), một số triệu chứng khác có thể gặp (tắc ruột, thiếu máu, phù chân). Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân bị ung thư màng phổi phúc mạc rất thấp chỉ chiếm 5,1%. Trường hợp hiếm gặp nhất là thể ung thư màng phổi, màng ngoài tim (0,4%). – Đối với thể u trung biểu mô màng phổi phức mạc (peritoneal mesothelioma). Đây là một thể đặc biệt của ung thư màng phổi. Sỡ dĩ được gọi là ung thư màng phổi phúc mạc do khối u xuất phát từ phúc mạc. Thể ung thư này gặp tương đối hiếm với tần suất chỉ bằng 1/4 số trường hợp ung thư màng phổi. Tỷ lệ ung thư màng phổi phúc mạc ở những người có tiếp xúc với amiant là 12:1. Cũng như ung thư màng phổi, các triệu chứng của bệnh thường xuất hiện sau 20 – 40 năm tiếp xúc vói amiant. Các triệu chứng không đặc trưng như đau bụng, chán ăn, gầy sút, nôn, buồn nôn và bụng to dần ra là những biểu hiện thường gặp. Một vài biểu hiện khác như tắc ruột, khó thở do khối u chèn ép. Cá biệt có trường hợp bệnh có triệu chứng giống viêm phổi do virus. – Đối với ung thư màng phổi thể màng ngoài tim (pericardial mesothelioma) là một thể bệnh rất hiếm gặp của ung thư màng phổi. Cũng như ung thư màng phổi hoặc ung thư màng phổi phúc mạc bệnh xảy ra do có tiền sử tiếp xúc với amiant và thường các triệu chứng lâm sàng biểu hiện rất chậm sau 15 – 40 năm tiếp xúc. Các triệu chứng có thể gặp như cảm giác khó chịu ở vùng ngực, khó thở, ho và một số biểu hiện khác (gầy sút, kém ăn, mệt mỏi). Trên thực tế lâm sàng phát hiện được ung thư màng phổi thể màng ngoài tim thường bệnh đã ở giai đoạn rất muộn.7.2. Siêu âm Khó phát hiện do hình ảnh TDMP không có đặc điểm gì khác biệt với những nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi khác. Thường thì siêu âm giúp phát hiện TDMP và hướng dẫn cho việc lấy dịch màng phổi. Trường hợp phát hiện thấy dày màng phổi thì bệnh đã ở giai đoạn khá muộn. Tuy nhiên, siêu âm lại tỏ ra rất ưu việt trong phát hiện dấu hiệu tràn dịch màng ngoài tim và sự xâm lấn của ung thư màng phổi vào ngroại tâm mạc. Ngoài ra, siêu âm còn giúp đánh giá áp lực động mạch phổi cũng như chức năng tim để có chỉ định can thiệp điều trị ngoại khoa trong những trường hợp cần phải cắt bỏ một vùng rộng.7.3. Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) Chụp cắt lớp vi tính cung cấp nhiều thông tin hơn và có độ chính xác cao hơn chụp phim phổi thông thường. Đó là hình ảnh của TDMP, mảng màng phổi, các hạch, mạch máu, nhu mô có thể bị dịch màng phổi che khuất. Hình ảnh màng phổi dày trên lcm có thể xác định trong 90% trường hợp, hình ảnh dày các rãnh liên thuỳ có thể gặp trong 85% trường hợp. Sự thiếu vắng hình ảnh dày màng phổi không được phép loại trừ u màng phổi vì nhiều khi dấu hiệu chủ yếu chỉ có tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, có thể thấy hình ảnh xâm lấn vào thành ngực. Mặc dù vậy, chụp CLVT ngực không thể giúp ta phân biệt được giữa những thay đổi kết hợp với bệnh màng phổi do amiant lành tính và/hoặc giữa adenocarcinoma của phổi với sự lan tràn của ung thư màng phổi. Cũng như siêu âm chụp CLVT ngực giúp định vị chính xác khi lấy dịch màng phổi để làm xét nghiệm. Một nghiên cứu gần đây nhất về giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong ung thư màng phổi của Okten và cs (2006) đã nhận thấy rằng kỹ thuật này đã giúp phát hiện TDMP trong 80,3% trường hợp, dày màng phổi (77,2%), hạn chế thể tích (37,9%), có dính dáng đến màng phổi trung thất (31,8%) và rãnh liên thuỳ (28,8%). Ngoài ra, chụp CLVT ngực là một phương tiện giúp cho chúng ta có thể tiến hành sinh thiết xuyên thành ngực chính xác hơn.

– Cộng hưởng từ (MRI): Chụp cộng hưởng từ thường được sử dụng rộng rãi hơn để xác định phạm vi của khối u trước khi can thiệp điều trị. Nhờ việc có thể cung cấp được những hình ảnh nhiều bình diện và có thể phân biệt dễ dàng hơn giữa khối u với các cấu trúc bình thường. Kỹ thuật này rất có hữu ích trong chẩn đoán phân biệt giữa thành ngực, màng phổi và các tổn thương nhu mô phổi ở ngoại vi (Muller N và cs., 1993). Cộng hưởng từ cho phép đánh giá chính xác hơn sự to ra của các hạch trung thất cũng như bề mặt của cơ hoành. Chính những hình ảnh do cộng hưởng từ cung cấp là những thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong phẫu thuật căn bản. – Chụp cắt lớp cưỡng bức (Positron Emission Tomography – PET): hiện nay hình ảnh PET đã trở thành một bộ phận rất quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá ung thư màng phổi. PET quét có giá trị hơn nhiều so với các loại chẩn đoán hình ảnh khác. Chụp cắt lớp cưỡng bức có thể có hữu ích trong chẩn đoán phân biệt giữa khối u lành tính với ác tính và xác định nốt hoặc các loại di căn khác. PET quét hiện tại được xem là kỹ thuật chẩn đoán tốt nhất về vị trí cũng như xác định giai đoạn của ung thư màng phổi, – Nội soi màng phổi (Thoracoscopy): Lợi ích của kỹ thuật này là giúp thầy thuốc có thể quan sát được bên trong khoang lồng ngực thông qua hệ thống ống soi quang học. Nội soi màng phổi ống cứng có thể phát hiện được 90% trường hợp TDMP (Wilsher ML và cs., 1998). Phẫu thuật nội soi dưới hướng dẫn của vidéo là một phương tiện chẩn đoán tốt nhất vì nó vừa có khả năng chẩn đoán cao và lại vừa đánh giá được giai đoạn của khối u. Hạn chế của kỹ thuật là tỷ lệ tổ chức ung thư xâm lấn đến đường đưa kim vào và tại vị trí nội soi màng phổi xấp xỉ 20% trường hợp (Boutin c và cs., 1998), nhưng nếu tiến hành xạ trị trước hoặc sau tiến hành sinh thiết sẽ chế ngự được tốt hơn loại biến chứng này. Sinh thiết màng phổi sẽ được tiến hành rất thuận lợi nhờ ống soi này và đặc biệt có thể lấy được bệnh phẩm ở những vùng nghi ngờ bệnh lý. Bên cạnh đó, thông qua nội soi màng phổi cũng có thể tiến hành hút dịch màng phổi nếu trong khoang có dịch. – Nội soi phúc mạc: Kỹ thuật được áp dụng cho các trường hợp nghi ngờ có tổn thương phúc mạc (ung thư màng phổi phúc mạc). Nhờ phương pháp này thầy thuốc có thể tận mắt quan sát được bên trong ổ bụng thông qua soi ổ bụng (peritoneoscope). Cũng như nội soi màng phổi kỹ thuật này cũng cho phép sinh thiết những vùng nghi ngờ có tổn thương, cho nên giúp chẩn đoán xác định rất nhanh chóng giúp cho can thiệp điều trị căn bản sớm cho người bệnh. – Nội soi trung thất: Khi có nghi ngờ tổn thương đã xâm lấn đến các hạch của trung thất. – Tế bào học: Tìm tế bào ung thư trong dịch màng phổi là một xét nghiệm khá thường quy do khá đơn giản và rẻ tiền, tuy nhiên giá trị chẩn đoán không cao, do tỷ lệ không tìm thấy loại tế bào này trong dịch màng phổi rất cao (85%) kể cả khi bệnh nhân đã có các triệu chứng của ung thư màng phổi. Chính vì vậy, thậm chí trong nhiều trường hợp tế bào trong dịch màng phổi dương tính, nhưng một số thầy thuốc vẫn ưa làm thêm sinh thiết màng phổi. – Sinh thiết màng phổi kín: Do mẫu bệnh phẩm có kích thước tính bé nên chỉ có từ 25 – 60% trường hợp chẩn đoán được ung thư màng phổi. – Sinh thiết màng phổi mở: Là phương pháp hữu hiệu nhất giúp chẩn đoán ung thư màng phổi do mảnh sinh thiết có kích cỡ đủ lớn và đặc biệt lấy được bệnh phẩm tại ngay vùng bị Tổn thương của màng phổi. Việc sinh thiết màng phổi lấy bệnh phẩm được tiến hành trong quá trình nội soi màng phổi. Theo Boutin c và cs (1993), đôi với chẩn đoán các bệnh lý ác tính có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu là 96%.8. CHẨN ĐOÁN – Chẩn đoán xác định: Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng đặc biệt liền su liếp xúc với amiant. – Chẩn đoán phân biệt.Bảng 8.3. Phân biệt ung thư màng phổi với ung thư biếu mô tuyến

9. PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN Hiện nay trên thế giới có 2 hệ thống phân loại ung thư màng phổi được sử dụng rộng rãi nhất, đó là phân loại theo hệ thống của Butchart và phân loại theo hệ thống TNM (Bảng phân loại do Nhóm ung thư màng phổi quốc tế giới thiệu – International Mesothelioma Interest Group). Hệ thống phân loại Butchart -Giai đoạn I: khối u chỉ- khu trú ở màng phổi một bên, phổi hoặc ngoại tâm mạc. – Giai đoạn II: khối u đã xâm lấn đến thành ngực hoặc các cấu trúc của trung thất hoặc di căn đến các hạch bạch huyết của ngực. – Giai đoạn III: khối u đã vượt qua cơ hoành xâm lấn đến phúc mạc hoặc có di căn đến các hạch ở ngoài lồng ngực. – Giai đoạn IV: di căn đường máu xa – di căn vào tuỷ xương (distant blood – bone metastases.)Bảng 8.4. Phân loại ung thư TNM

Bề mặt của màng phổi một bên có ít nhất một biểu hiện sau: Xâm lấn cơ hoành Sự dính líu của khối u màng phổi lá tạng tại điểm hội lưu (kể cả các rãnh). Lan tràn từ lá tạng vào nhu mô phổi

Khối u tại chỗ tiến triển không thể cắt được về mặt kỹ thuật; mỗi bên bề mặt của màng phổi có ít nhất một biểu hiện sau: Tổn thương lan toả hoặc có nhiều khối trên thành ngực có hoặc có huỷ xương sườn. Lan tràn của khối u trực tiếp qua cơ hoành đến phủc mạc Lan tràn trực tiếp của khối u sang màng phổi đối diện Lan tràn trực tiếp của khối u đến một hoặc nhiều cơ quan trung thất Lan tràn đến cột sống Lan tràn đến mặt trong của màng ngoài tim với có hoặc không có tràn dịch màng ngoài tim hoặc có dính líu đến cơ tim

Gần đây nhất có phân loại giai đoạn của Brigham: – Giai đoạn I: khối ung thư màng phổi có thể cắt bỏ được và không có xâm lấn hạch. – Giai đoạn II: khối u màng phổi có thể cắt bỏ được, nhưng đã có xâm lấn hạch. – Giai đoạn III: khối u màng phổi không thể cắt bỏ được do đã xâm lấn thành ngực, tim hoặc phúc mạc hoành; có hoặc không có xâm lấn đến các hạch ở ngoài lồng ngực. – Giai đoạn IV: có di căn xa.

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Gan Hiệu Quả Nhất

Ung thư gan là bệnh đứng ở hàng thứ ba sau ung thư phổi, ung thư dạ dày, đây là căn bệnh ác tính khó chữa cần có phác đồ điều trị ung thư gan kịp thời.

Bệnh ung thư gan do các tế bào biểu mô gan bệnh do nhiễm siêu vi viêm gan B, C, thường có xơ gan đi kèm có đến 60% trường hợp như vậy, bệnh có tỷ lệ tử vong cao.

Theo tin tức y tế cho biết các triệu chứng bệnh ung thư gan: Những người có tiền sử viêm gan, virus B, C là các yếu tố quan trọng để bác sĩ chẩn đoán bệnh. Đặc biệt những người có tiền sử bị viêm gan virus B sẽ có HBsAg dương tính thì thường xuyên phải khám định kỳ 3-6 tháng/ 1 lần. Người bệnh sẽ có các triệu chứng bệnh như: mệt mỏi, chán nă, gầy,sút cân nhanh, đau hạ sườn bên phải, bệnh ở giai đoạn muộn có thể sờ thấy khối u ở vùng hạ sườn, cổ trướng, vàng da, tắc mật. Để điều trị bệnh gan cần có phác đồ điều trị ung thư gan sẽ giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân.

Bệnh ung thư gan do các virus viêm gan gây nên

Được sử dụng chủ đạo trong quá trình điều trị ung thư gan bên cạnh việc ghép gan. Phác đồ điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật bác sĩ sẽ cắt thùy gan đối với khối u gan trú tại chỗ. Đồng thời độ rộng của phẫu thuật sẽ phụ thuộc vào tình trạng xơ gan, nhu mô còn lại và kích thước u.

Bên cạnh đó bệnh nhân sẽ được chẩn đoán trước về độ tương ứng của phương pháp này bởi tỉ lệ tử vong trong quá trình phẫu thuật ở người bệnh xơ gan so với không xơ gan.

Phác đồ điều trị ung thư gan bằng cách ghép gan

Với trường hợp bệnh nhân không thể cắt gan do mức độ của bệnh thì chỉ định ghép gan sẽ là cách tốt nhất. Bác sĩ điều trị bằng các phương pháp tại chỗ như nút mạch hoặc đốt sóng cao tần (RFA), hoặc phẫu thuật ghép gan cho bệnh nhân.

Cắt bỏ khối u gan bằng sóng cao tần (RFA)

Nhờ sử dụng năng lượng nhiệt tần số cao đến các ung thư biểu mô tế bào gan gây hoại tử, phá vỡ khối u. Phương pháp này có thể được thực hiện bằng cách nội soi qua ổ bụng hoặc mổ bụng và áp dụng cho các khối y có kích thước nhỏ hơn 4cm.

Cung cấp các hóa chất vào khối u trực tiếp thông qua động mạch gan. Các chất kết hợp như cellulose, lipoidal, vi cầu và các hạt bọt gelatin để cung cấp hoá trị liệu động mạch (mitomycin, doxorubicin, cisplatin). Đối với trường hợp bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch cửa, bệnh não, tắc nghẽn đường mật sẽ không được chỉ định phác đồ điều trị ung thư gan này.

Phác đồ điều trị ung thư gan giúp kéo dài thời gian sống của bệnh nhân

Dành cho các trường hợp bệnh tiến triển không có chỉ định ghép gan, phẫu thuật, hoặc cắt bỏ khối u cần sử dụng hóa trị để điều trị bệnh.

Đơn hoá trị như cisplatin doxorubicin, hoặc 5-fluorouracil được sử dụng nhưng tỷ lệ đáp ứng khoảng 10%.

Kết hợp sử dụng cisplatin với gemcitabine và oxaliplatin sẽ cho thấy tỉ lệ cải thiện đáp ứng khoảng 20%.

Điều trị hoá chất miễn dịch (chemoimmunotherapy): Sử dụng hoá trị liệu và điều hòa miễn dịch như interferon-alpha sẽ có kết quả tốt hơn.

Áp dụng phác đồ điều trị ung thư gan Piaf (cisplatin, interferon-alpha, doxorubicin, và infusional 5-fluorouracil) có tỷ lệ đáp ứng 26% nhưng độc tính sẽ cao hơn bình thường. Phác đồ này được chỉ định cho những người bị ung thư gan ở độ tuổi còn trẻ, không bị xơ gan và bilirubin mức bình thường.

Điều trị ung thư gan bằng kháng thể đơn dòng (bevacizumab)

Phương pháp này chứng minh được lợi ích trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Có sự kết hợp của bevacizumab với gemcitabine và oxaliplatin với tỷ lệ đáp ứng 20% và 27%.

Sorafenib: Chất ức chế kinase sẽ giúp kéo dài thời gian sống thêm trung bình cho bệnh nhân trong một thử nghiệm lâm sàng pha III. Thuốc đã được FDA phê duyệt được sử dụng chống ung thư đối với ung thư biểu mô tế bào gan.

Nguồn: chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Phác Đồ Điều Trị Hóa Chất Ung Thư Phổi: Hiệu Quả Và Các Lưu Ý trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!