Top #10 Bệnh Ung Thư Biểu Mô Phổi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Phổi Biểu Mô Tuyến

--- Bài mới hơn ---

  • Các Loại U Ác Tính Vùng Hàm Mặt
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Quanh Bóng Vater
  • Carcinoma Tụy Và Vùng Quanh Bóng Vater: Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư
  • Ung Thư Thanh Quản: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Tổng Quan Bệnh Học Ung Thư Thanh Quản
  • Giai đoạn 1: Tế bào ung thư còn “trú ngụ” trong phổi, chưa lây lan đến hạch bạch huyết.

    Giai đoạn 2: Tế bào ung thư lan sang hạch bạch huyết, màng phổi và một số khu vực khác thuộc phế quản chính.

    Giai đoạn 3: Tế bào ung thư lan sang các mô gần phổi.

    Giai đoạn 4: Tế bào ung thư di căn tới các cơ quan khác trong cơ thể.

    Ung thư phổi biểu mô tuyến là gì?

    Nguyên nhân gây ung thư phổi biểu mô tuyến là gì?

    Sự hình thành ung thư biểu mô tuyến được kết hợp bởi nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể như:

    Những người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi biểu mô tuyến cao bởi trong khói thuốc lá chứa nhiều chất độc hại, đặc biệt là nicotine. Chúng làm tổn thương các mô trong phổi, lâu ngày dẫn tới xơ sẹo và phát triển thành khối u.

    Các chuyên gia nhận định rằng, nguy cơ mắc ung thư phổi biểu mô tuyến sẽ tăng theo số lượng điếu thuốc lá hút mỗi ngày. Nếu bạn là người nghiện thuốc lá nặng nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn khoảng 30 đến 40 lần so với người không hút thuốc.

    Trên thực tế, ngay cả khi không hút thuốc, bạn vẫn có thể hít phải chất gây ung thư từ khói thuốc lá. Đây gọi là hút thuốc lá thụ động. Nguy cơ mắc bệnh ở trường hợp này cũng tương tự như người hút thuốc chủ động.

    Radon là một loại khí phóng xạ không mùi, không vị, được giải phóng từ uranium, thori và radium phân hủy trong đá, đất. Mức radon vượt quá ngưỡng quy định có thể là “thủ phạm” gây bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến tồn tại trong chính ngôi nhà của bạn.

    Amiăng là một trong những vật liệu phổ biến được sử dụng trong tấm cách nhiệt của tòa nhà. Theo các chuyên gia, tiếp xúc với amiăng trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư, trong đó có ung thư phổi biểu mô tuyến.

    Các phương pháp điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến hiện nay là gì?

    Việc điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe chung của người mắc. Hiện nay, một số phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều trị các loại ung thư nói chung và ung thư phổi biểu mô tuyến nói riêng là:

    Khi phát hiện bệnh vào giai đoạn đầu, phẫu thuật là biện pháp được ưu tiên áp dụng. Bởi lúc này kích thước khối u nhỏ, chưa lây lan nên sau khi phẫu thuật khả năng chữa lành bệnh là rất cao. Theo chuyên gia, trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến có tỷ lệ sống trên 5 năm là khoảng 50%. Tuy nhiên, ở Việt Nam số người phát hiện bệnh sớm là rất ít nên hiệu quả của phương pháp này còn nhiều mặt hạn chế, làm giảm thiểu thời gian sống thêm của người mắc.

    Phẫu thuật điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến

    Đây là phương pháp sử dụng các máy chiếu tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị có thể gây ra nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe của người mắc như chán ăn, buồn nôn, rụng tóc, đỏ vùng da chiếu xạ, đau rát, viêm, sưng tấy, lở loét, khô da, viêm gan,…

    Hóa trị là một phương pháp điều trị bằng thuốc toàn thân, thường được tiêm qua đường tĩnh mạch. Tác dụng của thuốc là giết chết các tế bào ung thư ở mọi nơi trong cơ thể. Tuy nhiên, nó cũng giết chết những tế bào khỏe mạnh gây ra nhiều tác dụng phụ như: Buồn nôn, nôn, thiếu máu, cơ thể suy kiệt, suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, rụng tóc,…

    Đây là phương pháp sử dụng thuốc điều trị để khóa gen đột biến của tế bào ung thư, từ đó giúp ngăn chặn sự phát triển và thu gọn kích thước khối u. Phương pháp trị liệu này có thể giúp những bệnh nhân điều trị bằng hóa trị, xạ trị không hiệu quả sống thêm từ 5 tới 10 năm. Tuy nhiên, phương pháp này gây ra một số tác dụng phụ như nổi mẩn trên da, tiêu chảy, dạ dày khó chịu, huyết áp tăng cao,…

    Khối u phổi cần lấy chất dinh dưỡng và oxy từ mạch máu để sinh trưởng và di căn. Đây là những loại thuốc có thể ngăn cản sự hình thành mạch máu mới, nhằm “cắt đứt” dinh dưỡng và oxy đến khối u. Đây chính là chiến lược “bỏ đói” khối u. Tuy nhiên, sự hình thành mạch máu lại rất quan trọng trong nhiều quá trình bình thường của cơ thể. Chính vì thế, những thuốc ức chế sự hình thành mạch máu có thể gây ra nhiều tác dụng phụ như: Cao huyết áp, khô và ngứa da, giảm số lượng tế bào máu, khó lành vết thương,…

    Điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến bằng thuốc ức chế hình thành mạch máu

    Phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến bằng sản phẩm thảo dược

    Có thể thấy, ung thư phổi biểu mô tuyến là bệnh lý nguy hiểm đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Mặc dù các phương pháp Tây y có nhiều ưu điểm song vẫn tồn tại nhiều nhược điểm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người mắc. Do đó, các nhà khoa học đã không ngừng tìm kiếm những hướng đi mới giúp hỗ trợ điều trị bệnh ngày càng hiệu quả. Một trong những phát hiện mang tính đột phá trong việc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các loại ung thư, bao gồm ung thư phổi biểu mô tuyến, đó là hoạt chất Lunasin từ chiết xuất đậu tương.

    + Lunasin là hoạt chất sinh học tự nhiên ĐẦU TIÊN có khả năng ức chế sự nhân lên và phân chia vô độ của tế bào ung thư. Trước đây chỉ có thuốc hóa trị ung thư mới có tác dụng này.

    + Lunasin có thể dùng đường uống, rất tiện lợi. Mặc dù là protein nhưng lunasin bền vững với các enzyme đường tiêu hóa nên có mặt ở các mô đích dưới dạng có hoạt tính. Đây là một trong những ưu điểm nổi bật của lunasin, so với các thuốc hóa trị. Như chúng ta đã biết thì thuốc hóa trị thường phải sử dụng đường tiêm truyền, phải có sự tham gia của các nhân viên y tế, tại cơ sở khám chữa bệnh uy tín, gây phiền phức không nhỏ cho người bệnh.

    + Lunasin có tính CHỌN LỌC cao, chỉ tác động vào tế bào ung thư, không ảnh hưởng đến tế bào lành. Chính tác dụng này khiến cho lunasin trở thành hoạt chất ưu việt hơn hẳn so với các thuốc hóa trị, xạ trị bởi chúng có tính chọn lọc kém, bên cạnh tác dụng lên tế bào ung thư thì cũng ảnh hưởng lên những tế bào lành trong cơ thể (như tế bào hồng cầu, tế bào tóc, tế bào tủy xương,…).

    + Lunasin làm tăng cường quá trình apoptosis (chết tế bào theo chương trình).

    + Lunasin có tính AN TOÀN cao, có thể sử dụng lâu dài trong phác đồ điều trị ung thư phổi, không gây ra tác dụng phụ cho người bệnh. Còn các phương pháp điều trị hiện đại chỉ được sử dụng theo từng đợt giới hạn do có độc tính cao và tiềm ẩn tác dụng phụ. Nhiều người bệnh không thể theo hết liệu trình điều trị, phải bỏ thuốc vì gặp các tác dụng phụ như nôn, cơ thể mệt mỏi, thiếu máu, đau đầu, chán ăn,… Do đó, tế bào ung thư càng phát triển mạnh mẽ hơn, bệnh trở nên trầm trọng hơn.

    + Hoạt chất lunasin sau khi được đưa vào cơ thể đã nằm sẵn trong nhân tế bào dưới dạng có hoạt tính và giữ vai trò như một “vệ sĩ” tham gia ức chế ngay lập tức nếu tế bào có dấu hiệu tăng sinh bất thường. Nhờ vậy, lunasin đã làm gián đoạn các bước trong giai đoạn sớm của quá trình hình thành khối u, từ đó giúp phòng ngừa và giảm tái phát hiệu quả. Đó là lý do vì sao lunasin vừa có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư đã hình thành, vừa phòng ngừa và giảm tái phát, trong khi các phương pháp hiện đại thì không làm được điều này.

    + Lunasin có chi phí hợp lý, phù hợp với kinh tế của nhiều người mắc. Bởi phương pháp hỗ trợ từ chế phẩm chứa lunasin có chi phí chỉ khoảng gần 3 triệu đồng/tháng, trong khi, các phương pháp điều trị ung thư phổi hiện nay khá tốn kém, ví dụ như một số thuốc hóa trị có thể lên tới 1 tỷ đồng/năm.

    Như vậy, với tác dụng hữu hiệu trên nhiều phương diện, vừa ức chế nhân lên tế bào ung thư, vừa tăng cường đào thải tế bào già, lỗi trong cơ thể, hoạt chất sinh học lunasin có khả năng làm giảm kích thước khối u, ức chế di căn và giảm nguy cơ tái phát ung thư phổi hiệu quả.

    Ngoài ra, lunasin còn được biết đến với nhiều tác dụng trong hỗ trợ điều trị ung thư phổi như chống viêm, chống oxy hóa, chống đột biến gen,…

    Như vậy, sản phẩm Tumolung có thể tác động toàn diện lên các nguyên nhân “sâu xa” hình thành bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến và có nhiều đặc điểm ưu việt cụ thể như:

    – Sản phẩm dùng đường uống, thành phần hoạt chất lunasin có khả năng xâm nhập vào nhân tế bào ở dạng còn hoạt tính, do đó có thể dễ dàng tiện lợi sử dụng tại nhà.

    – Sản phẩm tác động chọn lọc trên tế bào ung thư, không ảnh hưởng đến tế bào lành nên có thể sử dụng lâu dài.

    – Giá thành hợp lý, do đó phù hợp cho nhiều đối tượng sử dụng.

    – Sản phẩm có tác dụng chủ yếu là ức chế sự nhân lên và phân chia của tế bào ung thư. Do đó có thể sử dụng để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị cho ung thư phổi ở nhiều giai đoạn khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Phổi: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Chẩn Đoán Điều Trị Ngoại Khoa
  • 【Giải Đáp】Ung Thư Phần Mềm Là Gì? Sarcoma Sống Được Bao Lâu?
  • Tìm Hiểu Về Triển Vọng Cho Người Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2 * Hello Bacsi
  • Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2
  • Bạn Có Biết Ung Thư Phổi Di Căn Lên Não Như Thế Nào? * Hello Bacsi
  • Luận Án: Nghiên Cứu Phân Loại Mô Bệnh Học Ung Thư Biểu Mô Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Chiếu Mô Bệnh Học Trước
  • Hiểu Tường Tận Về Bệnh Học Ung Thư Thực Quản
  • Bệnh Học Ngoại Ung Thư Bàng Quang
  • Hiểu Toàn Vẹn Về Bệnh Học Ung Thư Tuyến Tụy
  • Gói Khám Sức Khỏe Tổng Quát Và Tầm Soát Ung Thư
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành y học với đề tài: Nghiên cứu phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô phổi theo WHO 2004 và IASLC/ATS/ERS 2011 có sử dụng dấu ấn hóa mô miễn dịch, cho các bạn làm luận án tham khảo

    1. 1. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư trên thế giới, với khoảng 1,3 triệu ca mới mắc trong năm 2003. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Bá Đức và cộng sự, năm 2006, ung thư phế quản – phổi chiếm 20% trong tổng số các ung thư, là ung thư phổ biến nhất ở nam giới và đứng hàng thứ ba trong số các ung thư ở nữ giới sau ung thư vú và ung thư dạ dày . Như vậy, ung thư phế quản – phổi nguyên phát là một vấn đế lớn trong y tế và tiên lượng bệnh thường rất dè dặt. Chẩn đoán ban đầu của ung thư phế quản – phổi hay nhầm với các bệnh phổi phế quản khác. Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, ảnh hưởng nhiều đến khả năng điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân. Chẩn đoán ung thư phổi dựa trên các triệu chứng lâm sàng, X quang phổi chỉ có vai trò định hướng cho chẩn đoán. Chẩn đoán mô bệnh học giúp chẩn đoán xác định, phân loại được một số typ mô bệnh học của ung thư phế quản – phổi, tuy nhiên trong một số trường hợp chưa phân biệt được typ và dưới typ mô học, chưa đánh giá được sự tiến triển và tiên lượng của bệnh. Mặc khác, do hình ảnh vi thể trong ung thư phổi rất đa dạng, nên cần thiết có sự nghiên cứu sâu hơn về hình thái học tế bào ung thư và các tính chất của chúng trên sự hỗ trợ của các kỹ thuật hiện đại cũng như hiểu biết của chúng ta để có thể đưa ra các chẩn đoán chính xác hơn về bệnh học ung thư nói chung và ung thư phổi nói riêng, cũng như phản ánh được tiên lượng bệnh. Song song với việc chẩn đoán bệnh học ở mức độ tế bào, việc điều trị
    2. 3. 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Dịch tễ học ung thư phổi 1.1.1. Trên thế giới Vào cuối thế kỷ XX, ung thư phế quản – phổi đã là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Đó là một bệnh hiếm vào đầu thế kỷ, nhưng sự phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh mới cùng với sự tăng tuổi thọ đã làm cho ung thư phế quản – phổi trở thành một tai họa của thế kỷ . Ung thư phế quản – phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong các bệnh ung thư ở nam giới ở các nước công nghiệp hoá. Do tiên lượng xấu của nó, tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ chết gần bằng nhau. Số trường hợp mới mắc hàng năm trên thế giới tăng lên đều đặn, 660.000 trường hợp vào năm 1980, gần 900.000 trường hợp vào năm 1985. Tỷ lệ mắc cao ở các nước công nghiệp hoá, thấp ở châu Phi và trung gian ở châu Á và Nam Mỹ. Từ năm 1985, tỷ lệ mắc giảm xuống ở các nước giảm tiêu thụ thuốc lá (Mỹ, Anh). Ở Pháp, tỷ lệ mắc mới hiện nay gần 25.000 trường hợp/năm, ổn định ở nam giới và tiếp tục tăng ở nữ giới, nhưng nam vẫn trội hơn nữ với tỷ lệ 9/1, trong khi là 2/1 ở Mỹ, nơi mà ở một số bang, ung thư phế quản – phổi ở nữ còn hay gặp hơn cả ung thư vú. Năm 1990, tử vong do ung thư phế quản – phổi ở Pháp là 77,9/100.000 dân ở nam giới và 6/100.000 dân ở nữ giới. Ở Anh năm 1991, ung thư phế quản – phổi là nguyên nhân tử vong của 22.000 nam và 10.000 nữ . 1.1.2. Ở Việt Nam Theo thống kê của Bộ Y tế, ung thư phổi đứng hàng thứ 2 về tỷ lệ tử vong của các loại ung thư hàng năm với cả hai giới nam và nữ. Mỗi năm cả nước có hơn 20.000 bệnh nhân ung thư phổi mới được phát hiện và có tới 17.000 trường hợp tử vong. Riêng tại Bệnh viện Phổi Trung ương, tính đến năm 2012, số người mắc bệnh này đến khám và điều trị lên tới 16.677 người. Theo số liệu của ghi nhận ung thư Hà Nội giai đoạn 2001-2004, ước tính hàng năm có 17.073 trường hợp mới mắc ung thư phế quản – phổi, trong đó 12.958 nam và 4.115 nữ và là ung thư đứng hàng đầu ở nam giới. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 40,2/100.000 dân ở nam và 10,6/100.000 dân ở nữ , , . Mục đích phân loại mô bệnh học trong ung thư biểu mô phổi là đem lại sự thống nhất trong chẩn đoán bệnh học, thuận tiện cho việc ghi nhận ung thư và nghiên cứu khoa học cũng như phục vụ các bác sĩ lâm sàng trong việc lập kế hoạch điều trị. 1.3. Hóa mô miễn dịch 1.3.1. Kỹ thuật hóa mô miễn dịch Hóa mô miễn dịch (HMMD) là sự kết hợp giữa mô học và miễn dịch học nhằm xác định sự biểu hiện của một kháng nguyên riêng biệt của một mô và tình trạng kháng nguyên khác nhau của các tế bào trong cùng một mô, dựa vào tính chất đặc hiệu cao của các kháng thể để xác định các kháng nguyên riêng biệt. Từ đó nhận dạng đặc hiệu dòng các quần thể tế bào, xác định được các đặc tính sinh học và chức năng các tế bào trong cùng một dòng. Trong lĩnh vực giải phẫu bệnh ngoại khoa, HMMD góp phần quan trọng nâng cao chất lượng chẩn đoán. Kỹ thuật HMMD có thể áp dụng trên các tiêu bản cắt từ bệnh phẩm đúc paraffin, tiêu bản tế bào học và tiêu bản cắt lạnh từ các bệnh phẩm mô và dịch cơ thể. Có thể nói việc thực hiện thành công kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch trên các mảnh vùi trong paraffin là một cuộc cách mạng trong bệnh học phân tử. Có nhiều kháng nguyên rất bền vững, nhưng cũng có những kháng nguyên rất nhanh bị phân hủy, một số kháng nguyên chỉ tồn tại trên tiêu bản
    3. 8. 8 cắt lạnh nhưng lại bị mất tính kháng nguyên trong quá trình chuyển đúc. Do vậy công tác kỹ thuật sau khi lấy bệnh phẩm là hết sức quan trọng. HMMD đang được ứng dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực chẩn đoán các bệnh ung thư, trong đó có bệnh ung thư phổi, một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất hiện nay. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu bộc lộ các sản phẩm gen và các dấu ấn miễn dịch bằng nhuộm HMMD trong ung thư biểu mô phổi còn chưa được nghiên cứu nhiều. Tìm hiểu nguyên lý của phương pháp HMMD và các dấu ấn miễn dịch là cơ sở cho các nhà giải phẫu bệnh trong việc góp phần chẩn đoán chính xác bệnh ung thư phổi. 1.3.2. Các nguyên lý của phương pháp hóa mô miễn dịch HMMD là một kỹ thuật nhuộm đặc biệt, sử dụng kháng thể (KT) đặc hiệu để xác định sự hiện diện của các kháng nguyên (KN) tương ứng trên các lát cắt mô học hoặc trên các loại tế bào có trong mô. Nguyên tắc là cho KT đặc hiệu lên mô, nếu trong mô có KN sẽ có phản ứng kết hợp KN – KT. Có 2 cách quan sát phức hợp này: + Miễn dịch huỳnh quang: KT được gắn với một chất phát huỳnh quang (quan sát kết quả dưới kính hiển vi huỳnh quang). + Miễn dịch enzym: KT được gắn với một loại enzym, enzym này xúc tác cho một phản ứng hóa học để chuyển một chất không màu thành một chất có màu (quan sát được dưới kính hiển vi quang học). – Kháng nguyên: các KN thường là các protein, một số khác là carbohydrat, có thể từ ngoài cơ thể vào (vi khuẩn, độc tố, virus,…) hoặc từ trong cơ thể (các tơ trung gian, các thụ thể hormon, các protein là sản phẩm của đột biến gen…, có thể hiện diện ở bào tương, màng tế bào hoặc nhân). Quyết định KN (epitop) là một phần nhỏ của KN, nơi tiếp xúc với KT. Một KN có thể có vài epitop, mỗi epitop được nhận biết bởi một KT riêng biệt. Trong qui trình nhuộm HMMD, cần bộc lộ epitop trước khi cho tiếp xúc
    4. 9. 9 với KT. – Kháng thể: là các protein nhận biết và kết nối với KN đặc hiệu, mỗi KT có ít nhất hai vị trí kết nối KN. KT chủ yếu là IgG, tiếp đến là IgM. KT kết hợp trực tiếp với KN gọi là KT thứ nhất. Tuỳ theo cách sản xuất, có 2 loại KT: + KT đa dòng: được sản xuất bằng cách gây miễn dịch ở động vật với KN đặc hiệu. Động vật đáp ứng miễn dịch và tạo ra kháng huyết thanh bao gồm nhiều loại KT đặc hiệu và không đặc hiệu. Sau đó KT được làm tinh khiết (loại bỏ các KT không cần thiết). KT đa dòng có thể kết hợp với nhiều vị trí của một KN nên độ nhạy cao, tăng khả năng phát hiện. Tuy nhiên, KT đa dòng có thể chứa các KT phản ứng không đặc hiệu với các KN nên có khuynh hướng nhuộm nền cao. + KT đơn dòng: được sản xuất bằng kỹ thuật u lai, phối hợp khả năng tạo KT đặc hiệu từ tương bào với lympho bào B ở lách động vật được gây miễn dịch, hình thành nhiều dòng tế bào u lai sản xuất ra KT đặc hiệu. Các tế bào này được lựa chọn và nhân giống trong môi trường nuôi cấy tế bào. KT đơn dòng được sản xuất ra từ một dòng của tế bào u lai nên rất tinh khiết, chỉ phản ứng với một loại quyết định KN. Tuy nhiên, vì KT đơn dòng chỉ phản ứng với một vị trí đặc hiệu chứ không phải toàn bộ KN nên ít nhậy hơn so với KT đa dòng. Hơn nữa, một số KT đơn dòng chỉ phản ứng được trên tiêu bản cắt lạnh. Cấu trúc của KT có hình chữ Y với 4 chuỗi protein, gồm 2 chuỗi nhẹ và 2 chuỗi nặng. KT có hai vùng: + Vùng thay đổi (Fab): hai phần đầu của nhánh chữ Y chứa vị trí kết nối KN. + Vùng ổn định (Fc): phần gốc của chữ Y, đây là vùng rất quan trọng vì có thể kết nối với bổ thể hay các tế bào. – Hệ thống nhận biết: vì các phức hợp KN – KT không quan sát thấy được dưới kính hiển vi quang học nên cần một hệ thống để hiển thị vị trí có phản ứng KN-KT. Hệ thống này gồm 2 phần: KT thứ 2 (KT bắc cầu) và hệ
    5. 10. 10 thống phóng đại dấu hiệu nhận biết (gồm enzym, các phân tử phát hiện, chất kết nối và chất màu). + Kháng thể thứ hai (KT bắc cầu, KT kết nối): là KT phản ứng đặc hiệu với KT thứ nhất sau khi KT này đã gắn với KN. Nó phản ứng với phân tử globulin miễn dịch huyết thanh của động vật đã sản xuất KT thứ nhất. KT thứ hai thường được gắn biotin và được coi như kít phát hiện chung. + Các enzym: enzym là một protein gây ra sự thay đổi hoá học của các chất khác nhưng bản thân nó không thay đổi, enzym đóng vai trò như chất chỉ điểm. Trong kỹ thuật HMMD, enzym cần phải đảm bảo được các điều kiện sau: – Phải tạo ra một sản phẩm phản ứng mà không thể hoà tan, màu rõ ràng, kết tủa trực tiếp tại sản phẩm đó. – Phải được bền vững ở nhiệt độ phòng, có thể sản xuất được nhiều và có thể duy trì hầu hết các hoạt động của nó sau khi đã kết nối. Chỉ có một vài loại enzym đáp ứng được những nhu cầu trên, hai loại enzym được sử dụng rộng rãi do sản xuất dễ và giá thành thấp là peroxydase, được chiết xuất từ rễ cây cải ngựa và phosphatase kiềm (Alkaline phosphatase), chiết xuất từ chúng tôi hoặc từ đại tràng. + Các phân tử phát hiện: protein A, biotin và avidin là những phân tử phát hiện. Các IgG hoặc những đoạn của nó phải ở dạng đã được tinh chế. Sự kết nối tốt chỉ có thể đạt được khi đoạn phân tử IgG lấy từ huyết thanh được sử dụng như một chất khởi động. Cần lưu ý, các KT không được lẫn với các protein, các peptid hoặc những chất khác có chứa nhóm amino. Chất kết nối: những chất này phải có hai chức năng: – Có thể phản ứng với enzym. – Phản ứng đồng thời hoặc tiếp theo với phân tử phát hiện để hình thành cầu nối giữa các kháng thể.
    6. 11. 11 Sự kết nối hoá học gây nên bởi cầu nối này phải không bị thay đổi và không bị phá huỷ bởi các hoạt động của enzym và của kháng thể. Càng giữ cho hoạt động sinh học của các thành phần này tốt thì quá trình kết nối càng được thực hiện tốt. + Chất tạo hợp chất màu: dùng để tạo ra một sản phẩm màu tại vị trí kết hợp KN-KT mà có thể quan sát được trên kính hiển vi quang học. Phản ứng này cũng để chứng minh sự có mặt của enzym. Hiện nay, các phòng xét nghiệm HMMD thường sử dụng diaminobenzidine (DAB), loại này tạo ra một sản phẩm màu nâu, bền vững trong nhiều năm. Ngoài ra, người ta còn sử dụng 3-amino-9-ethylcarbazole (AEC), tạo ra sản phẩm màu đỏ mà không bị nhầm với sắc tố melanin, vì vậy AEC hay được dùng trong các bệnh của da. AEC hay bị hoà tan trong các dung môi của mô, vì thế phải cần một số vật liệu đặc biệt cho việc gắn. Mặt khác, sản phẩm màu của AEC không bền vững, dễ bị phai màu theo thời gian và nó cũng là một chất có thể gây ung thư nên AEC ít được sử dụng hơn DAB. Hiện nay cũng có một số chất tạo màu tạo ra những sản phẩm phản ứng màu khác như chloronaphthol để tạo ra sản phẩm màu xanh. Các kỹ thuật nhuộm miễn dịch enzym + Miễn dịch enzym trực tiếp: KN mô kết hợp với KT thứ nhất có gắn enzym, phương pháp này đơn giản, nhanh, có tính đặc hiệu nhưng ít nhạy do thiếu hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết. + Miễn dịch enzym gián tiếp (phương pháp cầu nối): gồm KN mô + KT thứ nhất + KT thứ hai (kháng Ig loài của KT thứ nhất) gắn với hệ thống phóng đại dấu hiệu nhận biết. Hiện nay có nhiều phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch tùy thuộc vào điều kiện của các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh và sự quen dùng của các kỹ thuật viên, trong đó phương pháp miễn dịch men gián tiếp tỏ ra có nhiều
    7. 12. 12 ưu điểm hơn so với phương pháp gắn trực tiếp: + Có thể dùng nhiều loại KT thứ nhất khác nhau. + Hệ thóng phóng đại dấu hiệu nhận biết chỉ gắn với KT thứ hai và có thể tạo ra nhiều vị trí gắn phức hợp nhận biết trên KT thứ hai. + KT thứ nhất thường được pha loãng hơn, do đó giảm nhuộm nền hơn. Các phương pháp thường dùng là: + Phương pháp enzym chống enzym (Peroxydase-antiperoxydase): KN mô + KT thứ nhất + KT thứ hai gắn phức hợp enzym chống enzym (peroxydase-antiperoxydase). + Phương pháp cầu nối Avidin-Biotin (Avidin-Biotin conjugate), (phương pháp ABC): KN mô + KT thứ nhất + KT thứ hai gắn phức hợp Avidin, Biotin và peroxydase. + Phương pháp cầu nối Biotin-streptavidin: KN mô + KT thứ nhất + KT thứ hai gắn phức hợp Biotin, Streptavidin và peroxydase. + Phương pháp phosphatase kiềm – kháng phosphatase kiềm (Alkaline phosphatase – antialkaline phosphatase) (phương pháp APAAP). 1.3.3. Yêu cầu kỹ thuật Một chất được định vị trong mô trên HMMD phải có các tiêu chuẩn sau: – Chất đó đã tinh chế sẵn dưới dạng kháng nguyên tương đối thuần khiết (để sản xuất kháng thể đặc hiệu). – Sự bảo toàn (ít nhất một phần) của chất kháng nguyên muốn định vị trong quá trình thao tác kỹ thuật mô học và HMMD. Khi hai điều trên được tôn trọng, kỹ thuật HMMD có thể được thực hiện có hiệu quả. 1.3.4. Phương pháp
    8. 13. 13 – Vật liệu kháng nguyên (KN) có mặt trong một mô và đặc biệt hơn trong một lát cắt mô phản ứng đặc hiệu với một kháng thể (KT) chống lại nó. Phản ứng miễn dịch này gây một lắng đọng của một KT đặc hiệu trên vùng mô có KN. Kháng thể này được gắn với một enzym, ban đầu người ta gắn với phosphatase acid, nhưng sự kết gắn này khó và không ổn định. Hiện nay người ta gắn với peroxydase ổn định hơn và có thể bảo quản lâu hơn ở 40 C. – Trong kỹ thuật miễn dịch men avidin – biotin, ái lực cao giữa avidin với biotin được sử dụng để ghép cặp peroxidase đánh dấu với kháng thể thứ nhất. Có các phương pháp khác nhau được sử dụng để làm tăng độ nhạy của kỹ thuật. Mục đích của nó là bộc lộ vị trí KN, nó có thể bị che đậy, vì vậy người ta gọi bước này là “bộc lộ KN” hoặc “phục hồi KN”. Kỹ thuật này có thể là làm tiêu với nhiều loại enzym tiêu protein, xử lý bằng lò vi sóng hoặc cho tiếp xúc với tác động kết hợp của nhiệt và áp suất trong nồi áp suất.
    9. 14. 14 HMMD đã thay thế nhiều KT thường qui và ở chừng mực nhất định, đã có nhiều áp dụng chẩn đoán trên hiển vi điện tử. Tuy thế, giống như các kỹ thuật khác, cũng có nhiều cạm bẫy, đó là hoạt động của peroxydase nội sinh và nhuộm nền. Để loại bỏ các yếu tố này, có hai điều quan trọng là khử hoạt động của peroxydase nội sinh bằng hydrogen peoxide (H2O2) và pha loãng KT ở nồng độ loãng tối ưu nhất. Cần tiến hành các kỹ thuật một cách tỷ mỉ, kiểm tra thường xuyên hoạt động kháng thể, chứng âm và chứng dương. Sự kết hợp Kháng nguyên – Kháng thể Kh¸i niÖm HMMD – KhuyÕch ®¹i KhKh¸¸ngng ththÓÓ ththøø 22 gg¾¾n biotinn biotin KhKh¸¸ngng ththÓÓ ththøø 11 KhKh¸¸ngng nguynguyªªnn BiotinBiotin AvidinAvidin EnzymEnzym CCèè ®®ÞnhÞnh formalinformalin Quan niÖm HMMD – Ph¸t hiÖn CC¬¬ chÊtchÊt Hình 1.1: Phương pháp HMMD
    10. 15. 15 Các bước tiến hành – Chuẩn bị tiêu bản – Cắt tiêu bản – Chuẩn bị dung dịch Tris-Bufer-Saline (TBS) – Phục hồi nhóm quyết định kháng nguyên (Epitop Retrieval Techniques) – Khử hoạt động men nội sinh – Pha loãng kháng thể – Nhuộm tiêu bản: Phương pháp ABC được thực hiện theo các bước: 1. Tiêu bản sau khi tẩy paraffin được nhúng nước cất 2 lần x 5 phút 2. Khử peroxydase nội sinh bằng dung dịch H2O2 x 5 phút 3. Rửa tiêu bản bằng nước cất 2 lần x 2 phút 4. Bộc lộ KN bằng protein K hoặc nồi áp suất hoặc lò vi sóng 5. Rửa nước cất 2 lần x 2 phút 6. Rửa tiêu bản bằng dung dịch TBS 2 lần x 2 phút 7. Khử các protein không đặc hiệu với huyết thanh ngựa thường 1% x 5 phút (không được rửa) 8. Phủ KT thứ nhất x 60 phút 9. Rửa tiêu bản TBS 2 lần x 5 phút 10. Phủ KT thứ hai x 30 phút 11. Rửa tiêu bản TBS 2 lần x 5 phút 12. Phủ phức hợp Avidin-Biotin Conjugate (ABC) x 30 phút 13. Rửa tiêu bản TBS 2 lần x 5 phút
    11. 16. 16 14. Phủ dung dịch Diaminno Benzidine (DAB) x 10 phút 15. Rửa nước chảy x 5 phút 16. Nhuộm nhân bằng hematoxyline hoặc xanh methyl x 20-30 giây Khử nước, làm sạch tiêu bản rồi đọc kết quả trên kính hiển vi quang học Đánh giá kết quả nhuộm Điều kiện đọc kết quả: + Phải có tiêu bản chứng âm (trong quá trình nhuộm bỏ qua giai đoạn KT thứ nhất) và chứng dương (nhuộm kèm với tiêu bản mô đã biết chắc chắn là dương tính), có thể dùng chứng dương ngay trong tiêu bản nhuộm, được gọi là nội chứng. + Phải đối chiếu với tiêu bản nhuộm HE để biết vùng cần đọc kết quả là vùng nào. + Biết rõ vị trí KN cần xác định ở nhân, bào tương hay màng tế bào. Đọc kết quả: + Âm tính: chỉ có màu xanh của nhân. + Dương tính: màu vàng nâu (nếu dùng màu DAB), màu đỏ (nếu dùng màu AEC), màu xanh (nếu dùng màu chloronaphthol). 1.3.5. Ý nghĩa HMMD có thể xác định những đặc tính sau của mô: – Các tế bào có hình thái kém biệt hóa hoặc không biệt hóa, quá sản hoặc tân sản. Việc xác định nguồn gốc mô học thay đổi tùy loại tế bào và mô.
    12. 17. 17 – Số lượng các thành phần tế bào trong quá trình phát triển của bệnh. Mối tương quan giữa tỷ lệ các tế bào mang một loại kháng nguyên nào đó có thể có quan hệ với sự tiến triển của bệnh. Tỷ lệ các tế bào u mang các kháng nguyên nhất định có thể dự báo các bệnh khác nhau, đồng thời cho phép chẩn đoán chính xác bệnh và các tác nhân nhiễm khuẩn. – Nồng độ thực tế của các kháng nguyên trong tế bào u có thể dự đoán độ ác tính của u đó cũng như dự đoán sự đáp ứng của tế bào u với điều trị. – Xác định vị trí của các kháng nguyên và sự phân bố của nó trong tế bào và tổ chức, từ đó cung cấp các tiêu chuẩn mới cho chẩn đoán và đánh giá bệnh một cách chính xác hơn. 1.4. Một số dấu ấn hóa mô miễn dịch trong ung thư biểu mô phổi 1.4.1. p53 p53 là một protein quan trọng trong điều hòa chu kỳ tế bào – gọi là gen áp chế khối u p53. Khi có tổn thương ở DNA, p53 làm ngừng chu trình tế bào cho đến khi DNA bị tổn thương được sửa chữa hoặc p53 có thể làm cho tế bào chết theo chương trình nếu không còn khả năng sửa chữa DNA. Những đột biến mất chức năng p53 làm tăng tính bất ổn định di truyền và làm giảm chết tế bào theo chương trình. Người ta phát hiện thấy trên 50% người mắc các bệnh về ung thư (như ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi, ung thư gan…) đều có những điểm khác biệt trên gen mã hoá p53 so với người bình thường , , . 1.4.2. p63 Một thành phần khác của họ p53 là p63, nó có ý nghĩa trong sự phát triển của mô biểu mô và những ung thư biểu mô tế bào vảy . Phần lớn những ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi bộc lộ p63, cũng như một số lượng lớn ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn và ung thư biểu mô tế bào nhỏ. Sự bộc lộ của p63 được nhận biết là có ý nghĩa tiên lượng trong ung thư biểu mô thần kinh nội tiết độ cao. Trên quan điểm thực hành, các tác giả này sử dụng sự bộc lộ p63 như một dấu ấn của biệt hóa tế bào vảy. Một số tác giả đã đánh giá sự bộc lộ p63 của nhân bằng hóa mô miễn dịch của 33 trường hợp ung thư biểu mô tuyến, 43 trường hợp phổi lành tính với xơ hóa và dị sản, 5 trường hợp ung thư biểu mô tuyến vảy và 3 trường hợp ung thư biểu mô vảy. Những bệnh lành tính của phổi bao gồm phế viêm kẽ thông thường, sẹo nhu mô, phế viêm tổ chức hóa và tổn thương phế nang lan tỏa. Trong phổi bình thường, p63 bộc lộ trong những tế bào ngẫu nhiên của đơn vị tiểu thùy xa. Trong quá trình phản ứng xơ, nhuộm nhân được quan sát thấy ở tế bào đáy của đường thở và trong biểu mô tiểu phế quản và dị sản vảy. Phản ứng miễn dịch của p63 được nhận xét là bộc lộ kém đồng đều trong tổn thương phổi cấp. Phản ứng mạnh được phát hiện ở 1 trong 33 ung thư biểu mô của 2 trong 5 quá sản u tuyến không điển hình. Ba trường hợp ung thư biểu mô tuyến của phổi chỉ dương tính ở rất hiếm các tế bào u. Các tác giả đi đến kết luận là kết quả của họ chứng minh sự bộc lộ p63 khác nhau qua những tổn thương tiểu phế quản phế nang khác nhau và p63 có thể có lợi trong phân biệt những tăng sinh phản ứng
    13. 20. 20 Chu và CS (2000), đã đánh giá 435 u biểu mô từ những cơ quan khác nhau sử dụng hóa mô miễn dịch với những kháng thể CK7 và CK20 . Trong một nghiên cứu về UTBMTG và UTBM phổi, Kaufmann và Dietel đã chứng minh rằng, phản ứng dương tính với protein hoạt tính bề mặt A ở 3 trong số 7 UTBMTG dưới dạng ổ. 1.4.5. Ki-67 Trong số các dấu ấn sinh học trong ung thư phổi, Ki67 là một yếu tố hữu ích dự báo ung thư phổi. Ki-67 là một kháng nguyên ung thư, được tìm thấy trong sự tăng sinh và phân chia của tế bào và nhân, hiện diện ở kỳ hoạt động của tế bào (G1, S, G2 và phân bào), và vắng mặt trong kỳ nghỉ
    14. 25. 25 ung thư biểu mô vảy . Nghiên cứu lớn của Bradley M và cộng sự cho thấy Napsin A phân biệt ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát với ung thư phổi tế bào nhỏ nguyên phát có độ đặc hiệu là 100% (200/200) , . Lisa và CS (2010) nghiên cứu bệnh chứng với nhóm bệnh là 75 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến và nhóm chứng là 95 mẫu tế bào học của các ung thư khác. Kết quả: TTF-1 và napsin A dương tính lần lượt trong 61/75 trường hợp (81,3%) và 49/75 trường hợp (65,3%). Độ nhạy và độ đặc hiệu của TTF-1 đều là 81%. Napsin có độ đặc hiệu cao hơn (96% so với 81%), nhưng độ nhạy thấp hơn (65% so với 81%). Napsin A hoàn toàn không cho phản ứng dương tính với ung thư biểu mô tế bào nhỏ hay trong các ung thư biểu mô khác không có nguồn gốc từ phổi ngoài trừ ung thư biểu mô tế bào thận. Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy Napsin A có độ nhạy cao hơn TTF-1 trong chẩn đoán các trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến biệt hóa cao hoặc biệt hóa vừa. Độ nhạy của Napsin A là 96% trong những mẫu ung thư biểu mô tuyến có dạng nhú, trong khi TTF-1 chỉ có độ nhạy là 78%. Độ nhạy của Napsin A và TTF-1 tương đối bằng nhau đối với những mẫu ung thư biểu mô tuyến phế quản phế nang tiết nhầy hay không tiết nhầy . Gần đây, một số nghiên cứu cũng cho thấy vai trò phối hợp của Napsin với một số dấu ấn miễn dịch khác trong quá trình chẩn đoán như: Tác giả Bishop và CS thực hiện hóa mô miễn dịch với Napsin A và TTF- 1 trên: 95 mẫu ung thư phổi biểu mô tuyến, 48 mẫu ung thư phổi biểu mô vảy, 6 ung thư phổi nội mô thần kinh, 5 ung thư biểu mô tuyến đại tràng, 31 ung thư biểu mô tuyến của tuyến tụy, 17 ung thư biểu mô tuyến của tuyến vú, 38 ung thư trung mô ác tính, 118 ung thư biểu mô thận và 81 khối u tuyến giáp, đồng thời làm hóa mô miễn dịch với 15 mẫu mô bình thường khác. Kết quả cho thấy: trong ung thư phổi biểu mô tuyến dương tính với Napsin A 79/95 trường hợp (chiếm 83%) cao hơn so kết quả dương tính với TTF-1: 69/95 trường hợp (chiếm 73%). Có 13 trường hợp dương tính với Napsin A nhưng âm tính với TTF-1 và 2 trường hợp dương tính với TTF-1 nhưng âm tính với Napsin A, như vậy: khi phối hợp làm hóa mô miễn dịch với cả Napsin A và TTF-1 sẽ làm tăng tỉ lệ dương tính tổng cộng lên là 81/95 trường hợp (chiếm 85%).Tất cả các trường hợp ung thư phổi biểu mô vảy và các ung thư biểu mô tuyến của đại tràng, tụy, vú và u trung mô đều âm tính với cả Napsin A và TTF-1 . Zhang và
    15. 29. 29 cộng sự nghiên cứu 351 mẫu mô ung thư phổi bao gồm cả 27 trường hợp là u phổi (trong đó có 19/27 mẫu là ung thư biểu mô tuyến di căn) do di căn cho kết quả: Napsin A bộc lộ trong 180/212 (84,9%) ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát, trong khi không có trường hợp u phổi do di căn nào cho kết quả bộc lộ với dấu ấn này. Trong khi đó, TTF-1 không những bộc lộ trong 179/212 trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát (84,4%) mà còn dương tính với 12/18 trường hợp ung thư biểu mô tế bào nhỏ (66,7%) và một số ung thư biểu mô vảy, cũng như 1 trường hợp ung thư biểu mô tuyến di căn từ tuyến giáp. Độ nhạy và độ đặc hiệu của Napsin A cho chẩn đoán ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát là 84,9% và 93,8% cao hơn so với TTF-1 chỉ có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là: 84,4% và 83,9%. Khi kết hợp cả hai dấu ấn này (napsin A và TTF-1) làm tăng độ nhạy lên 91,0% . Ye và CS thực hiện hóa mô miễn dịch bằng Napsin A, TTF-1 và PAX8 cho 103 trường hợp ung thư biểu mô phổi do di căn và 120 trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát đã cho kết quả: 100% (103/103 trường hợp) ung thư biểu mô phổi do di căn đều âm tính với Napsin A, trong khi đó có 14 trường hợp (13,6%) dương tính yếu với TTF-1. Tất cả các trường hợp ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát cũng cho kết quả hoàn toàn âm tính với PAX8, trong khi đó có 44 trường hợp (44,7%) ung thư biểu mô do di căn đến phổi cho kết quả dươngt ính với PAX8. Nghiên cứu đã kết luận: Khi sử
    16. 30. 30 dụng kết hợp cả 3 dấu ấn trên có khả năng phân biệt được ung thư phổi nguyên phát với ung thư phổi do di căn . Ueno và cộng sự nghiên cứu 118 mẫu lấy từ u phổi gồm: 39 trường hợp ung thư biểu mô tuyến gồm cả 7 trường hợp ung thư biểu mô phế quản phế nang, 11 ung thư biểu mô tế bào lớn, 31 ung thư biểu mô vảy, 15 ung thư biểu mô tế bào nhỏ, 6 carcinoid và 16 trường hợp là u di căn đến phổi. Kết quả sau là 33/39 ung thư biểu mô tuyến (84,6%) bộc lộ với napsin mRNA, 2/11 ung thư tế bào lớn bộc lộ với napsin mRNA. Một trường hợp ung thư biểu mô thận di căn đến phổi cũng bộc lộ với napsin mRNA, phù hợp với hình ảnh mô học dương tính với napsin A của u này trong các nghiên cứu trước đây trong những tế bào biểu mô của những ống thận . Như vậy, trong những nghiên cứu trước đây về Napsin A đều cho thấy rằng độ nhạy cũng như độ đặc hiệu của nó đối với ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát và giúp phân biệt ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát với các ung thư biểu mô di căn đến phổi rất cao đặc biệt khi thực hiện đồng thời nhuộm hóa mô miễn dịch với Napsin A và TTF-1 . Như vậy, Napsin A cũng đặc hiệu hơn TTF-1 trong việc phân biệt ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát với tất cả các loại u khác (ngoại trừ u thận) (p<0,001), đặc biệt là đối với ung thư biểu mô phổi tế bào nhỏ nguyên phát và ung thư biểu mô tuyến giáp nguyên phát. Ngoài ra,khi kết hợp Napsin A và TTF-1 rất hữu ích trong việc phân biệt ung thư phổi biểu mô tuyến nguyên phát (Napsin A (+), TTF-1 (+)) với ung thư phổi biểu mô vảy nguyên phát (Napsin A (-), TTF-1 (-)) và ung thư phổi tế bào nhỏ nguyên phát (Napsin A (-), TTF-1 (+)) . Tuy nhiên, Napsin A có giá trị hạn chế trong việc phân biệt các ung thư biểu mô tiết nhày nguyên phát hay di căn đến phổi . CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Các bệnh nhân được chẩn đoán là ung thư phổi đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện K. Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân – Các bệnh nhân có hồ sơ bệnh án, được sinh thiết hoặc điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện K và còn khối nến lưu trữ. – Tất cả các trường hợp được chẩn đoán ung thư biểu mô phổi dựa trên chẩn đoán mô bệnh học bằng Hematoxylin – Eosin. Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh nhân không thỏa mãn hai điều kiện chọn mẫu nêu trên. Kết quả: chúng tôi đã lựa chọn được 185 trường hợp ung thư biểu mô không tế bào nhỏ và 73 trường hợp ung thư biểu mô tế bào nhỏ. 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. 2.2.2. Cách tiến hành 2.2.2.1. Lập phiếu nghiên cứu Lập phiếu nghiên cứu dựa trên bệnh án bệnh nhân được chẩn đoán ung
    17. 33. 33 thư phổi đến khám và nhập viện tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện K từ năm 2010 đến năm 2013.
    18. 34. 34 2.2.2.2. Nghiên cứu mô bệnh học Các khối nến sau thu thập, đủ tiêu chuẩn được cắt tiêu bản và nhuộm bằng phương pháp nhuộm Hematoxylin và Eosin (H&E), sau đó đọc và phân tích kết quả trên kính hiển vi quang học. Phân loại mô học: tất cả các tiêu bản ung thư phổi được phân loại theo bảng phân loại của WHO 2004 và bảng phân loại ung thư biểu mô tuyến theo IASLC/ATS/ERS 2011. Các tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại của các typ mô học theo WHO 2004 Ung thư biểu mô vảy + Chẩn đoán ác tính dựa trên sự không điển hình về tế bào và tính chất xâm nhập. + Chẩn đoán typ tế bào vảy dựa trên việc xác định trên các lát cắt Hematoxylin-Eosin sự sừng hóa và/hoặc các cầu nối gian bào. + Sự hình thành keratin có thể thấy trong các tế bào riêng lẻ hoặc phổ biến hơn dưới các thể “cầu sừng”. + Các tế bào hoại tử bị cô lập được phân biẹt với các tế bào sừng hóa. + Sự hình thành vòng xoắn và sự lát tầng rõ rệt của các tế bào u được sử dụng như một bằng chứng của biệt hóa vảy khi không có những đặc điểm đã liệt kê. Ung thư biểu mô tuyến + Hai dấu hiệu hình thái học của biệt hóa tuyến, thường được tìm thấy cùng với nhau là sự hình thành các ống hoặc nhú và sự chế tiết chất nhầy.
    19. 35. 35 + Phụ thuộc vào sự ưu thế tương đối của những hình ảnh này, những ung thư biểu mô tuyến được chia thành ung thư biểu mô tuyến nang, nhú và đặc có sản xuất chất nhầy, nhưng có sự trùng lặp lớn giữa các nhóm này. Ung thư biểu mô tuyến vảy Thuật ngữ ung thư biểu mô tuyến vảy được sử dụng cho các u phổi, trong đó bằng chứng chắc chắn của biệt hóa vảy và tuyến được tìm thấy trong cùng một u với khối lượng gần như bằng nhau. Ung thư biểu mô tế bào lớn (không biệt hóa) + Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào lớn (không biệt hóa) là những u biểu mô ác tính đa hình thái không có bằng chứng chắc chắn của biệt hóa vảy hoặc biệt hóa tuyến. + Các tế bào u lớn, ít nhất khi so sánh với các tế bào của ung thư biểu mô tế bào nhỏ. Ung thư biểu mô dạng sacom và carcinosacom Các ung thư có các hình ảnh giống sacom bao gồm chủ yếu là những tế bào thoi nhưng còn xác định được như biểu mô trên cơ sở hình thái học hoặc hóa mô miễn dịch, chúng được gọi là ung thư biểu mô tế bào thoi hoặc dạng sacom. Ung thư biểu mô tế bào sáng + Ung thư biểu mô tế bào sáng được định nghĩa như một typ của ung thư biểu mô phổi, chủ yếu hoặc chỉ gồm những tế bào với bào tương sáng. + Những tế bào sáng này thường chứa nhiều glycogen và cũng có thể chứa chất nhầy.
    20. 36. 36 Ung thư biểu mô tiểu phế quản phế nang + Ung thư biểu mô tiểu phế quản phế nang được chia thành các typ nhầy và không nhầy. Typ nhầy được hình thành bởi những tế bào hình trụ chứa nhầy biệt hóa cao lót các khoang hô hấp, không xâm nhập vào mô đệm. Sự liên tục giữa các tế bào u lót các phế nang và biểu mô của các tiểu phế quản hô hấp hoặc các ống phế nang có thể được chứng minh. Typ không nhầy có hình thái phát triển là “dạng vảy” không có xâm nhập mô đệm. Các tế bào u có hình khối vuông hơn là hình trụ và thường có bào tương ưa eosin sáng. Mức độ không điển hình của nhân và sự nổi trội của hạt nhân thường lớn hơn so với trong biến thể nhầy. Ung thư biểu mô tế bào nhỏ Hình thái phát triển thường là đặc, nhưng có thể thành hàng và dải, hoa hồng và giả hoa hồng, hoặc ống và ống nhỏ. Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết U carcinoid điển hình của WHO là “một u với hình thái học của carcinoid và dưới 2 nhân chia/ 10 vi trường phóng đại cao (2mm2 ) không có hoại tử và 0,5cm hoặc lớn hơn “. U carcinoid không điển hình là một u với hình thái học thần kinh nội tiết có giữa 2 và 10 nhân chia/ 10 vi trường phóng đại cao (2mm2 ) và / hoặc với những ổ hoại tử chấm hoặc cả hai. Ung thư biểu mô thần kinh nôi tiết tế bào lớn là “một ung thư biểu mô tế bào lớn có những hình ảnh mô học như các hình thái dạng cơ quan, bè, giống hoa hồng và dậu gợi ý biệt hóa thần kinh nội tiết. Phân loại ung thư biểu mô tuyến phổi theo IASLC/ATS/ERS 2011
    21. 37. 37 Loại Tiêu chuẩn chẩn đoán Vảy cá Các tế bào u phát triển dọc theo các cấu trúc phế nang có sẵn Mở rộng vách phế nang cùng với xơ hóa phổ biến Không có các hình thái nhú hoặc vi nhú và các tế bào u trong lòng phế nang Tuyến nang Các tuyến hình tròn hoặc hình trái xoan với lòng ở trung tâm được vây quanh bởi các tế bao u Sắp xếp kiểu mắt sàng Nhú Sự phát triển của các tế bào hình trụ dọc theo các lõi xơ huyết quản ở trung tâm Các cấu trúc nhú lấp đầy các khoang phế nang, kể cả u có hình thái phát triển dạng vảy cá. Đặc Các tế bao u đa diện tạo thành các dải không có các hình thái khác của ung thư biểu mô tuyến có thể nhận biết được Áp dụng bảng phân loại mô bệnh học ung thư phổi năm 2004 của WHO, ung thư biểu mô phổi được chia thành các loại và được mã hóa các mã số sau đây: UTBM tế bào vảy 8070/3 Nhú 8052/3 Tế bào sáng 8084/3 Tế bào nhỏ 8073/3 Dạng đáy 8083/3 UTBM tế bào nhỏ 8041/3 UTBM tế bào nhỏ tổ hợp 8045/3 UTBM tuyến 8140/3 UTBM tuyến, týp hỗn hợp 8255/3
    22. 38. 38 UTBM tuyến nang 8550/3 UTBM tuyến nhú 8260/3 UTBM tuyến tiểu PQ-PN 8250/3 Không chế nhầy 8252/3 Chế nhầy 8253/3 Chế nhầy và không chế nhầy hỗn hợp hoặc không xác định 8254/3 UTBM tuyến đặc có chế nhầy 8230/3 UTBM tuyến phôi 8333/3 UTBM nhầy (” dạng keo”) 8480/3 UTBM tuyến nang nhầy 8470/3 UTBM tuyến tế bào nhẫn 8490/3 UTBM tuyến tế bào sáng 8310/3 UTBM tế bào lớn 8012/3 UTBM thần kinh nội tiết tế bào lớn 8013/3 UTBM thần kinh nội tiết tế bào lớn tổ hợp 8013/3 UTBM dạng đáy 8123/3 UTBM dạng lympho – biểu mô 8082/3 UTBM tế bào sáng 8310/3 UTBM tế bào lớn có phenotype dạng cơ vân 8014/3 UTBM tuyến vảy 8560/3 UTBM dạng sarcoma 8033/3 UTBM đa hình 8022/3 UTBM tế bào hình thoi 8032/3
    23. 40. 40 Quy trình kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch Các bước tiến hành – Bước 1: Cắt tiêu bản Kỹ thuật viên sử dụng khối nến có chứa bệnh phẩm cắt thành tiêu bản có độ dày 4 µm (tương tự như làm tiêu bản trong mô bệnh học thông thường) – Bước 2: Tẩy parafin: Ủ tiêu bản trong tủ ấm qua đêm ở nhiệt độ 56 Nhúng tiêu bản qua lần lượt các bể: Xylen 1, Xylen 2, Xylen 3; mỗi bể 03 phút. Nhúng tiếp tiêu bản qua các bể: Cồn 700, 900, Cồn tuyệt đối; mỗi bể 03 phút. Nhúng tiêu bản qua bể nước cất 2 lần; mỗi lần 5 phút. – Bước 3: Bộc lộ kháng nguyên: Cho tiêu bản vào bể đun bộc lộ KN có chứa dung dịch pH6, pH9 đặt vào trong nồi áp suất bộc lộ kháng nguyên đun, trong 15 phút. Lấy ra để nguội tại nhiệt độ phòng – Bước 4: Rửa tiêu bản bằng nước cất trong 5 phút – Bước 5: Khử men nội sinh Ủ tiêu bản bằng H2O2 3%, 10 phút – Bước 6: Rửa tiêu bản bằng dung dịch TBS trong 3 bể, mỗi bể 3 phút – Bước 7: Phủ kháng thể I: 60 phút – Bước 8: Rửa tiêu bản bằng dung dịch TBS trong 3 bể, mỗi bể 3 phút – Bước 9: Phủ kháng thể II, 30 phút – Bước 10: Rửa tiêu bản bằng dd TBS trong 3 bể, mỗi bể 3 phút
    24. 41. 41 – Bước 11: Nhỏ dd màu DAB, 10 phút – Bước 12: Rửa bằng nước cất, 5 phút – Bước 13: Nhuộm nhân bằng Hematoxylin 30s-1 phút – Bước 14: Rửa bằng nước chảy, 5 phút – Bước 15: Nhúng qua các bể cồn 70, 90, 100, mỗi bể 3 phút – Bước 16: Nhúng qua 3 bể xylen, mỗi bể 3 phút – Bước 17: Gắn lamen lên lam kính. Đọc tiêu bản Kiểm soát chất lượng – Kiểm tra chất lượng hóa chất, thuốc nhuộm thường xuyên, đảm bảo đậm độ hợp lý với thời gian nhuộm. – Sử dụng chứng âm, chứng dương và tiêu bản mô bệnh học thông thường để so sánh, đối chiếu. – Hạn chế âm tính giả, dương tính giả và nhầm lẫn tiêu bản: Đọc kết quả: – CK7: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – CK5/6: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở màng tế bào – P53: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở nhân tế bào – P63: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở nhân tế bào – TTF-1: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở nhân tế bào – Ki67: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở nhân tế bào – Napsin: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào Claudin-1: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – Claudin-5: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào
    25. 42. 42 – NSE: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – Chromogranin: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – Synaptophysin: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – CEA: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – HepPar-1: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào – Beta-HCG: Phản ứng dương tính có màu nâu đỏ ở bào tương tế bào Điểm ngưỡng dương tính chung cho moi dáu ấn là 10% số tế ào dương tính. 2.2.2.3. Biến số nghiên cứu Biến số nền: – Giới tính (định tính) – Độ tuổi (định lượng) – Giới: phân thành 2 nhóm nam, nữ Phân loại ung thư phổi WHO 2004: Ung thư biểu mô không tế bào nhỏ: Ba nhóm lớn – UTBM tế bào vảy – UTBM tuyến – Các typ khác Ung thư biểu mô không tế bào nhỏ Dấu ấn hóa mô miễn dịch: – CK7: tỷ lệ dương tính – CK5/6: tỷ lệ dương tính – P53: tỷ lệ dương tính
    26. 43. 43 – P63: tỷ lệ dương tính – TTF-1 tỷ lệ dương tính – Ki67: tỷ lệ dương tính – Napsin: tỷ lệ dương tính – Claudin-1: tỷ lệ dương tính – Claudin-5: tỷ lệ dương tính – NSE: tỷ lệ dương tính – Chromogranin: tỷ lệ dương tính – CEA: tỷ lệ dương tính 2.2.2.4. Thu thập số liệu vào phiếu điều tra 2.2.3. Xử lý số liệu Chúng tôi xử lý số liệu sau khi thu thập bằng phương pháp thống kê y học sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2003. – Sử dụng phép kiểm Chi-square để phân tích sự khác biệt giữa các biến định tính, nếu trong các nhóm định lượng có bất kỳ giá trị nào < 5 thì chúng tôi sẽ chọn phép kiểm Fisher để kiểm định với tiêu chí p < 0,05 là có ý nghĩa về mặt thống kê.
    27. 45. 45 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Tuổi và giới 3.1.1. Ung thư phổi không tế bào nhỏ 3.1.1.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi Nhóm tuổi Số ca Tỉ lệ % ≤ 19 4 2,2 20 – 29 1 0,5 30 – 39 19 10,3 40 – 49 92 49,7 50 – 59 55 29,7 60 – 69 14 7,6 ≥ 70 4 2,2 Tổng 185 100 Nhận xét: Nhóm 40 – 49 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (49,7%), đứng hàng thứ hai là nhóm 50 -59, tuổi chiếm tỉ lệ 29,7%. Nếu tính chung nhóm tuổi từ 40-59 tuổi là 79,4%.
    28. 46. 46 3.1.1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo giới Giới Số ca Tỉ lệ % Nam 141 76,2 Nữ 44 23,8 Tổng 185 100 Nhận xét: Trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn nữ giới. Tỷ lệ nam/nữ là 3,2/1. 3.1.2. Ung thư phổi tế bào nhỏ 3.1.2.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi Nhóm tuổi Số ca Tỉ lệ % ≤19 0 0 20 – 29 0 0 30 – 39 1 1,4 40 – 49 8 11,0 50 – 59 34 46,6 60 – 69 22 30,1 ≥ 70 8 11,0 Tổng 73 100,0 Nhận xét: Nhóm 50 – 59 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (46,6%), đứng hàng thứ hai là nhóm 60 – 69, tuổi chiếm tỉ lệ 30,1%. Nếu tính chung nhóm tuổi từ 50-69 tuổi là 76,7%.
    29. 47. 47 Biểu đồ 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi của UTBM phổi tế bào nhỏ 3.1.2.3. Phân bố bệnh nhân theo giới Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo giới Giới Số ca Tỉ lệ % Nam 65 89 Nữ 8 11 Tổng 73 100 Nhận xét: Tỷ lệ nam/nữ của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào nhỏ là 8,1/1. 3.2. MÔ HỌC Nghiên cứu của chúng tôi gồm 185 bệnh nhân ung thư biểu mô phổi không tế bào nhỏ và 73 bệnh nhân ung thư biểu mô phổi tế bào nhỏ.
    30. 48. 48 3.2.1. Ung thư biểu mô phổi không tế bào nhỏ 3.2.1.1. Phân typ mô học theo WHO 2004 Bảng 3.5. Phân typ mô học theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Đã xếp loại bởi WHO Tổng số ca Tỷ lệ % UTBM VẢY Có 21 11,4 UTBM TUYẾN Có 124 67,1 UTBM tuyến vảy Có 6 3,2 UTBM dạng sarcom Có 2 1,1 UTBM tế bào khổng lồ Có 4 2,1 UTBM thần kinh nội tiết Có 5 2,7 UTBM biểu bì nhầy Có 2 1,1 UTBM dạng gan Không 2 1,1 UTBM màng đệm Không 1 0,5 UTBM kém biệt hóa Không 12 6,4 U biểu mô ác tính Không 6 3,2 Tổng 185 100 Nhận xét: Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ cao nhất (67,1%), ung thư biểu mô vảy chiếm 11,4%, ung thư biểu mô kém biệt hóa chiếm 6,4%, các loại khác chiếm tỷ lệ thấp. Các loại hiếm gặp chưa có trong phân loại WHO 2004 là ung thư biểu mô dạng gan (1,1%) và ung thư biểu mô màng đệm (0,5%).
    31. 49. 49 Ảnh 3.1: Đặng Ngọc Đ., 1958, số tiêu bản: 3740: UTBM vảy, HE x 400 3.2.1.2. Phân typ mô học UTBM tuyến theo WHO 2004 Bảng 3.6. Phân typ mô học UTBM tuyến theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Tỷ lệ % UTBM tuyến hỗn hợp 49 39,5 UTBM typ chùm nang 19 15,3 UTBM thể nhú 18 14,5 UTBM tuyến đặc 13 10,5 UTBM TPQPN 12 9,7 UTBM thể nhầy 8 6,5 UTBM tuyến tế bào sáng 5 4,0 Tổng 124 100 Nhận xét: Ung thư biểu tuyến hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao nhất (39,5%), sau đó theo thứ tự giảm dần là typ chùm nang (15,3%), typ nhú (14,5%), typ đặc (10,5%), typ tiểu phế quản phế nang (9,7%), hai typ còn lại chiếm tỷ lệ thấp.
    32. 50. 50 Ảnh 3.2: Nguyễn Văn Ph., 51 tuổi, số tiêu bản: 4417: UTBM tuyến hỗn hợp, HE x 400. 3.2.1.3. Phân typ mô học UTBM tuyến theo IASLC/ATS/ERS 2011 Bảng 3.7. Phân typ mô học UTBM tuyến theo IASLC/ATS/ERS 2011 Typ mô học theo IASLC/ATS/ERS 2011 Tổng số ca Tỷ lệ % UTBM typ chùm nang 52 41,9 UTBM thể nhú 19 15,3 UTBM thể vi nhú 5 4,0 UTBM tuyến đặc 18 14,5 UTBM dạng vảy cá 17 13,7 UTBM thể nhầy 8 6,5 UTBM tuyến tế bào sáng 5 4,0 Tổng 124 100 Nhận xét: Typ chùm nang chiếm 41,9%, typ nhú chiếm 19,3%, typ đặc chiếm 14,5%, dạng vảy cá chiếm 13,7%, các biến thể nhầy, vi nhú và tế bào sáng chiếm tỷ lệ thấp (6,5%, 4% và 4% theo thứ tự).
    33. 51. 51 Ảnh 3.3: Bùi Hữu T., 61 tuổi, Số tiêu bản: 307: UTBM tế bào sáng, HE x 400. 3.2.1.4. Phân typ mô học của các nhóm lớn của UTBM theo WHO 2004 Bảng 3.8. Phân typ mô học của các nhóm lớn của UTBM theo WHO 2004 Nhóm chính theo WHO 2004 Tổng số ca Tỷ lệ % UTBM vảy 21 11,4 UTBM tuyến 124 67,1 Các typ khác 40 32,2 Tổng 185 100 Nhận xét: Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ cao nhất (67,1%), các typ khác đứng hàng thứ hai (32,2%), ung thư biểu mô vảy chiếm tỷ lệ thấp nhất (11,4%).
    34. 52. 52 3.2.2. Ung thư biểu mô phổi tế bào nhỏ Có 73 bệnh nhân ung thư biểu mô phổi được chẩn đoán là ung thư biểu mô tế bào nhỏ. Không có trường hợp nào thuộc typ hỗn hợp. Tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán qua sinh thiết. Ảnh 3.4: Đỗ Văn S., 65 tuổi, Số tiêu bản: 81871: UTBM tế bào nhỏ, HE x 400.
    35. 53. 53 3.3. HOÁ MÔ MIỄN DỊCH 3.3.1. Hoá mô miễn dịch ung thư phổi không tế bào nhỏ 3.3.1.1. CK7 Bảng 3.9. Bộc lộ CK7 trong các typ mô học theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính với CK7 Tỷ lệ % UTBM vảy 21 17 81,0 UTBM tuyến 124 119 96,0 UTBM tuyến vảy 6 6 100,0 UTBM dạng sarcom 2 2 100,0 UTBM tế bào khổng lồ 4 3 75,0 UTBM thần kinh nội tiết 5 2 40,0 UTBM kém biệt hóa 12 11 91,7 UTBM dạng gan 2 2 100,0 UTBM màng đệm 1 1 100,0 UTBM biểu bì nhầy 2 2 100,0 U biểu mô ác tính 6 3 50,0 Tổng 185 168 90,8 Nhận xét: Có 90,8% các trường hợp ung thư biểu mô phổi bộc lộ CK7, trong đó có 96% ung thư tuyến và 81% ung thư biểu mô vảy. Các typ hiếm gặp cũng có tỷ lệ bộc lộ CK7 cao.
    36. 54. 54 Ảnh 3.5: Hà Thị C., 59 tuổi, Số tiêu bản:3985: UTBM dạng sarcom, CK7 x 400. Bảng 3.10. Bộc lộ CK7 trong các typ mô học UTBM tuyến theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính với CK7 Tỷ lệ % UTBM tuyến hỗn hợp 49 48 98,0 UTBM typ chùm nang 19 19 100,0 UTBM typ nhú 18 18 100,0 UTBM tuyến đặc 13 10 76,9 UTBM TPQPN 12 12 100,0 UTBM typ nhầy 8 8 100,0 UTBM tuyến tế bào sáng 5 4 80,0 Tổng 124 119 96,0 Nhận xét: Các ung thư biểu mô tuyến typ chùm nang, typ nhú, typ đặc và typ nhầy đều có tỷ lệ bộc lộ CK7 rất cao (100%), sau đó là ung thư biểu mô tuyến hỗn hợp (98%), ung thư biểu mô tuyến tế bào sáng và ung thư biểu mô tuyến đặc có tỷ lệ bộc lộ CK7 thấp hơn (80% và 76,9% theo thứ tự).
    37. 55. 55 Ảnh 3.6: Nguyễn Văn Ph., 1963, Số tiêu bản: 4417: UTBM tuyến hỗn hợp, CK7 x 400. Bảng 3.11. Bộc lộ CK7 của các typ UTBM tuyến theo IASLC/ATS/ERS 2011 Typ mô học theo IASLC/ATS/ERS 2011 Tổng số ca Số ca dương tính với CK7 Tỷ lệ % UTBM typ chùm nang 52 51 98,1 UTBM thể nhú 19 19 100,0 UTBM thể vi nhú 5 5 100,0 UTBM tuyến đặc 18 15 83,3 UTBM dạng vảy cá 17 17 100,0 UTBM thể nhầy 8 8 100,0 UTBM tuyến tế bào sáng 5 4 80,0 Tổng 124 119 96,0 Nhận xét: Trong các typ mô học phân loại theo IASLC/ATS/ERS 2011, các typ nhú, vi nhú, dạng vảy cá và typ nhầy có tỷ lệ bộc lộ CK7 rất cao (100%), typ chùm nang cũng có tỷ lệ bộc lộ CK7 cao (98,1%), các typ đặc và tế bào sáng có tỷ lệ bộc lộ CK7 thấp hơn (83,3% và 80% theo thứ tự). Bảng 3.12. Bộc lộ CK7 các typ UTBM tuyến và UTBM vảy theo WHO 2004
    38. 57. 57 2004 tính với CK5/6 UTBM vảy 21 5 23,8 UTBM tuyến 124 0 0 P 0,001 (Fisher test) Nhận xét: Bộc lộ CK5/6 của UTBM tuyến và UTBM vảy theo WHO 2004 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) 3.3.1.3. p63 Bảng 3.15. Bộc lộ p63 trong các typ mô học theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính Tỷ lệ % UTBM vảy 21 12 57,1 UTBM tuyến 124 11 8,9 UTBM tuyến vảy 6 2 33,3 UTBM dạng sarcom 2 0 0,0 UTBM tế bào khổng lồ 4 0 0,0 UTBM thần kinh nội tiết 5 1 20,0 UTBM kém biệt hóa 12 0 0,0 UTBM dạng gan 2 0 0,0 UTBM màng đệm 1 1 100,0 UTBM biểu bì nhầy 2 0 0,0 U biểu mô ác tính 6 1 16,7 Tổng 185 28 15,1 Nhận xét: Ung thư biểu mô vảy có tỷ lệ dương tính cao nhất với p63 (57,1%), sau đó là ung thư biểu mô tuyến vảy (33,3%) và ung thư biểu mô thần kinh nội tiết (20%). Các typ khác có tỷ lệ dương tính thấp. Các typ mô học âm tính với p63 gồm các ung thư biểu mô dạng sacom, tế bào khổng lồ, kém biệt hóa, dạng gan và biểu bì nhầy. Bảng 3.16. Bộc lộ p63 của các typ mô học UTBM tuyến theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính Tỷ lệ %
    39. 58. 58 UTBM tuyến hỗn hợp 49 3 6,1 UTBM typ chùm nang 19 2 10,5 UTBM thể nhú 18 1 5,6 UTBM tuyến đặc 13 2 15,4 UTBM TPQPN 12 2 16,7 UTBM thể nhầy 8 1 12,5 UTBM tuyến tế bào sáng 5 0 0,0 Tổng 124 11 8,9 Nhận xét: Các typ mô học của ung thư biểu mô tuyến theo WHO 2004 đều có tỷ lệ dương tính thấp với p63 với tỷ lệ thấp, từ 5,6% đến 16,7%. Ảnh 3.7: Đặng Ngọc Đ., 56 tuổi, Số tiêu bản: 3740: UTBM vảy, p63 x 400. Bảng 3.17. Bộc lộ p63 của các typ UTBM tuyến theo IASLC/ATS/ERS 2011 Typ mô học theo IASLC/ATS/ERS 2011 Tổng số ca Số ca dương tính Tỷ lệ %
    40. 59. 59 UTBM typ chùm nang 52 5 9,6 UTBM thể nhú 19 1 5,3 UTBM thể vi nhú 5 0 0 UTBM tuyến đặc 18 2 11,1 UTBM dạng vảy cá 17 2 11,8 UTBM thể nhầy 8 1 12,5 UTBM tuyến tế bào sáng 5 0 0,0 Tổng 124 11 8,9 Nhận xét: Các typ mô học của ung thư biểu mô tuyến theo IASLC/ ATS/ERS 2011đều có tỷ lệ dương tính thấp với p63, từ 5,3% đến 12,5%. Bảng 3.18. Bộc lộ p63 của UTBM vảy và UTBM tuyến theo WHO 2004 Nhóm chính theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính với p63 Tỷ lệ % UTBM vảy 21 12 57,1 UTBM tuyến 124 11 8,9 P 0,001 (Chi – square) Nhận xét: Bộc lộ p63 của UTBM vảy và UTBM tuyến theo WHO 2004 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). 3.3.1.4. TTF-1 Bảng 3.19. Bộc lộ TTF-1 của các typ mô học theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính với TTF-1 Tỷ lệ %
    41. 60. 60 UTBM vảy 21 6 28,6 UTBM tuyến 124 89 71,8 UTBM tuyến vảy 6 3 50,0 UTBM dạng sarcom 2 0 0,0 UTBM tế bào khổng lồ 4 0 0,0 UTBM thần kinh nội tiết 5 3 60,0 UTBM kém biệt hóa 12 2 16,7 UTBM dạng gan 2 2 100,0 UTBM màng đệm 1 0 0,0 UTBM biểu bì nhầy 2 0 0,0 U biểu mô ác tính 6 1 16,7 Tổng 185 106 57,3 Nhận xét: Ung thư biểu mô tuyến của phổi có tỷ lệ dương tính cao với TTF-1 (71,8%), sao đó là ung thư biểu mô thần kinh nội tiết (60%) và ung thư biểu mô tuyến vảy (50%). Chỉ có 28,6% các trường hợp ung thư biểu mô vảy dương tính với TTF-1.
    42. 61. 61 Bảng 3.20. Bộc lộ TTF-1 của các typ mô học UTBM tuyến theo WHO 2004 Typ mô học theo WHO 2004 Tổng số ca Số ca dương tính với TTF-1 Tỷ lệ % UTBM tuyến hỗn hợp 49 38 77,6 UTBM typ chùm nang 19 14 73,7 UTBM thể nhú 18 12 66,7 UTBM tuyến đặc 13 9 69,2 UTBM TPQPN 12 8 66,7 UTBM thể nhầy 8 5 62,5 UTBM tuyến tế bào sáng 5 3 60,0 Tổng 124 89 71,8 Nhận xét: Các typ mô học của ung thư biểu mô tuyến theo WHO 2004 đều có tỷ lệ dương tính cao với TTF-1 (từ 60% đến 77,6%), trong đó ung thư biểu mô tuyến hỗn hợp có tỷ lệ dương tính cao nhất (77,6%), sau đó là ung thư biểu mô typ chùm nang (73,7%).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Chẩn Đoán Mô Bệnh Học Trong Ung Thư Phổi.
  • Bệnh Học Ngoại Ung Thư Phổi
  • U Nguyên Bào Nuôi Do Thai (Chửa Trúng Và Ung Thư Nguyên Bào Nuôi)
  • Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Ung Thư Nội Mạc Tử Cung
  • Bệnh U Trung Biểu Mô Màng Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Đường Mật Trong Gan Tại Bệnh Viện Ung Bướu
  • Ptc: Ung Thư Biểu Mô Tuyến Giáp Nhú
  • Phẫu Thuật Thành Công Một Ca Ung Thư Thể Nhú Tuyến Giáp Tại Bệnh Viện Hồng Ngọc ⋆ Hồng Ngọc Hospital
  • Fvpc: Nang Ung Thư Biểu Mô Nhú Biến Thể
  • Ung Thư Biểu Mô Tuyến Nhầy Của Ruột Thừa
  • 1. Bệnh u trung biểu mô màng phổi là gì

    2. Triệu chứng của bệnh u trung biểu mô màng phổi

    3. Nguyên nhân gây ra bệnh u trung biểu mô màng phổi

    4. Điều trị bệnh u trung biểu mô màng phổi

    U trung biểu mô là dạng hiếm gặp của ung thư, khối u nằm ngay trên bề mặt màng ở thành ngực (u trung biểu mô màng phổi) hoặc ở màng bụng (u trung biểu mô phúc mạc). Hiếm gặp hơn là khối u nằm phía ngoài màng bao bọc tim (u trung biểu mô màng tim).

    U trung biểu mô màng phổi là gì?

    U trung biểu mô màng phổi là ung thư ảnh hưởng lên thành của phổi và thành ngực. Bệnh khá hiếm gặp với khoảng 3000 ca mới phát hiện mỗi năm tại Hoa Kì.

    Có thể bao gồm các triệu chứng sau:

    ==

    Tư vấn và khám bệnh:

    ✍ Bác sĩ Nguyễn Hoàng Bình- BV Chợ Rẫy

    ==

    Cho dù tất cả các trường hợp u trung biểu mô màng phôi có thể do tiếp xúc với bụi asbestos. Nếu trong gia đình có người phải thường xuyên làm việc tiếp xúc với bụi asbestos đều có nguy cơ tiếp xúc thứ phát qua bụi còn đọng lại trên quần áo và người trong nhà có thể hít phải bụi này. Phải mất nhiều thập kỉ con người mới phát hiện ra sự liên kết giữa việc tiếp xúc với bụi asbestos và sự bùng phát của u trung biểu mô màng phổi.

    Chẩn đoán u trung biểu mô màng phổi bắt đầu với việc hỏi bệnh sử và thăm khám. Trong suốt quá trình thăm khám, bác sĩ sẽ tìm kiếm những dấu hiệu của tích tụ dịch tại thành ngực – triệu chứng thường gặp trong u trung biểu mô màng phổi. Nếu bệnh sử hoặc thăm khám thực thể bệnh nhân gợi ý có u trung biểu mô thì các xét nghiệm máu, chẩn đoán hình ảnh và những xét nghiệm khác có thể thực hiện để đưa ra chẩn đoán cuối cùng.

    Hình ảnh học

    – X-quang ngực có thể cho thấy dày hoặc các nốt vôi hóa ở bờ phổi, tích tụ dịch ở ngực hoặc thay đổi ở phổi thứ phát do asbestos hoặc sự xâm lấn của khối u

    – CT scan cho thấy hình ảnh chi tiết, vị trí của khối u và bất cứ vùng nào ở phổi có thể bị lan rộng

    PET scan là xét nghiệm không xâm lấn có tiêm chất đường phóng xạ vào trong máu. Bởi vì tế bào ung thư sẽ hấp thụ nhiều đường hơn so với bình thường nên khi chụp tia xạ sẽ giúp tạo nên hình ảnh và xác định vị trí khối u.

    – Chụp MRI là xét nghiệm không xâm lấn, tái tạo hình ảnh trong cơ thể dựa vào sóng từ trường. MRI có thể giúp xác định vị trí và mức độ lan tỏa của khối u.

    Xét nghiệm mô học và dịch cơ thể

    – Tế bào học: u trung biểu mô thường gây ra sự kích thích ở thành ngực dẫn đến tích tụ dịch còn gọi là tràn dịch màng phổi. Bác sĩ có thể chọc dịch màng phổi để tìm tế bào ác tính trong dịch này. Sự quan sát dịch tìm tế bào ung thư dưới kính hiển vi được gọi là tế bào học.

    – Sinh thiết bằng kim: nếu có những mẫu mô lớn nằm ở thành ngực thì bác sĩ sẽ sinh thiết bằng kim dưới sự hướng dẫn bằng hình ảnh CT scan. Mẫu sinh thiết này sau đó sẽ được quan sát dưới kính hiển vi để tìm tế bào ác tính.

    – Sinh thiết qua phẫu thuật: trong một số trường hợp, mẫu mô sinh thiết bắt buộc phải lấy cỡ lớn hơn để chẩn đoán chính xác thì sẽ sinh thiết qua phẫu thuật nội soi lồng ngực có video hỗ trợ, với chỉ 1 vết cắt dài 2,5 cm. Bệnh nhân sẽ được xuất viện ngay trong ngày làm phẫu thuật. Kết quả của mẫu sinh thiết này có thể đưa ra chẩn đoán với độ chính xác 100%.

    Mặc dù vẫn chưa có điều trị triệt để trong u trung biểu mô nhưng có nhiều cách điều trị giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện đời sống của bệnh nhân. Những phương pháp này tùy thuộc vào giai đoạn của ung thư, tuổi tác và tình trạng bệnh lí nền của bệnh nhân cũng như là kết quả xét nghiệm mô học của khối u (khối u đã tiến triển như thế nào khi quan sát bằng kính hiển vi). U trung biểu mô có thể rất khó điều trị vì hầu hết các trường hợp khi phát hiện ra bệnh thì khối u đã di căn. Tuy nhiên, với trường hợp khối u vẫn còn khu trú tại ngực thì có thể kết hợp phẫu thuật, hóa trị và xạ trị để đem lại hiệu quả trong điều trị.

    Bởi vì u trung biểu mô là bệnh hiếm gặp nên việc quan trọng là bạn cần lựa chọn đội ngũ bác sĩ dày dạn kinh nghiệm để điều trị bệnh. Đội ngũ bác sĩ này có thể gồm bác sĩ ung bướu (chuyên về chẩn đoán và điều trị ung thư), bác sĩ xạ trị ung bướu (người chuyên về điều trị xạ trị để diệt tế bào ung thư) và bác sĩ ngoại lồng ngực – mạch máu (người chuyên phẫu thuật hay mổ các tạng ở trong lồng ngực).

    Phẫu thuật trong u trung biểu mô

    Phẫu thuật là phương pháp điều trị phổ biến khi bệnh còn ở giai đoạn sớm (khối u còn khu trú ở ngực). Mục đích của phẫu thuật nhằm loại bỏ tất cả khối u ở ngực. Những kiểu phẫu thuật bao gồm:

    • Cắt bỏ màng phổi: loại bỏ hoàn toàn màng bao bọc phổi và thành ngực
    • Cắt phổi ngoài màng phổi: loại bỏ một phần phổi nằm dọc theo thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim.

    Xạ trị hay hóa trị có thể dùng sau phẫu thuật để diệt các tế bào ác tính tiềm ẩn trong cơ thể. Phương pháp này còn gọi là liệu pháp hỗ trợ (sau phẫu thuật). Phẫu thuật vùng ngực nên được thực hiện bởi bác sĩ ngoại lồng ngực chuyên gia trong điều trị u trung biểu mô màng phổi. Bác sĩ ngoại lồng ngực sẽ quyết định xem bạn có thể phẫu thuật hay khối u có thể được loại bỏ qua phẫu thuật hay không. Một số khối u không thể được loại bỏ do khối u đã lan rộng. Nếu bạn thuộc vào danh sách chống chỉ định cho việc phẫu thuật thì hóa trị sẽ được ưu tiên dùng trong điều trị.

    Để điều trị bệnh u trung biểu mô màng phổi, liên hệ đặt khám ngay với các bác sĩ của Hello Doctor theo số điện thoại 1900 1246.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn Là Gì?
  • Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Làm Thế Nào Là Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Đáy Ở Đức?
  • Lcnc: Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Lớn Neuroendocrine
  • Bài Giảng Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Khái Quát Về Ung Thư Biểu Mô Tuyến Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị
  • Chữa Trị Ung Thư Biểu Mô Bằng Fucoidan Nhật Bản
  • Ung Thư Biểu Mô Với Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Phương Pháp Điều Trị
  • Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy
  • Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ
  • Trong các phần trước chúng tôi đã đề cập đến thì ung thư phổi có hai loại chính là ung thư phổi tế bào nhỏung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Trong đó dạng không phải tế bào nhỏ phổ biến hơn rất nhiều (khoảng 85%) các ca bệnh và ung thư biểu mô tuyến phổi chính là dạng hay gặp nhất của loại này.

    Bệnh ung thư biểu mô tuyến phổi là gì?

    Ung thư biểu mô tuyến phổi là một dạng của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, đây là loại ung thư phổ biến nhà nhiều người phải đối mặt nhất trên thế giới. Bệnh thường bắt đầu ở các mô nằm gần các phần ngoài của phổi và thường xuất hiện một thời gian dài trước khi gây ra các triệu chứng rõ ràng.

    Thuốc lá không phải là nguyên nhân chính gây ra căn bệnh này bởi ung thư biểu mô tuyến phổi thường xảy ra ở những người ít tiếp xúc với khói thuốc. Bởi vậy, đây cũng là loại phổ biến nhất của bệnh ung thư phổi ở phụ nữ và những người dưới 45 tuổi, phổ biến nhiều ở những nước châu á. Bệnh này ngày càng tăng cao về số ca mắc bệnh trên thế giới, đặc biệt là ở phụ nữ và những người không hút thuốc.

    Nguyên nhân chính gây ung thư biểu mô tuyến phổi là do tiếp xúc quá nhiều với khí radon trong nhà. Bệnh cũng có khả năng phát sinh khi có sự kết hợp của nhiều tác nhân gây ung thư với nhau.

    Các giai đoạn của bệnh

    Các triệu chứng thường gặp của bệnh ung thư biểu mô tuyến phổi: ho dai dẳng ở giai đoạn muộn vì khi bệnh ở giai đoạn sớm thường chỉ xuất hiện những dấu hiệu không rõ ràng như khó thở nhẹ, đau ngực, đau vai, đau lưng, mệt mỏi,… và dễ bị bỏ qua.

    Bệnh được chia thành 4 giai đoạn như sau:

    1. Giai đoạn I – ung thư chỉ cư trú trong phổi, chưa lây lan đến hệ thống bạch huyết.
    2. Giai đoạn II – ung thư lan đến các hạch bạch huyết xung quanh, màng phổi hoặc một vị trí nhất định trong phế quản chính.
    3. Giai đoạn III – ung thư lan rộng đến các mô gần phổi.
    4. Giai đoạn IV – ung thư di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể.

    Nguồn: phongkhamvuongdaokhang.vn

    Mời bạn tìm hiểu thêm về phương pháp điều trị bệnh ung thư phổi bằng liệu pháp miễn dịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Giá Trị Của Ca 125 Trong Chẩn Đoán Giai Đoạn Và Theo Dõi Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Buồng Trứng
  • Các Loại Ung Thư Thận, Thuốc Điều Trị Phổ Biến
  • Chuyên Đề Tuần 5: Giảm Thính Lực Do Ung Thư Biểu Mô Tuyến Dạ Dày Di Căn Xa
  • Di Căn Ung Thư Biểu Mô Không Rõ Nguyên Phát
  • Cây Xạ Đen Có Hỗ Trợ Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Không?
  • Nguy Hiểm Ung Thư Trung Biểu Mô Màng Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Chế Bệnh Ung Thư Biểu Mô Nhú Của Tuyến Giáp
  • Báo Cáo Một Trường Hợp Ung Thư Biểu Mô Đường Niệu Tại Bệnh Viện Đa Khoa Đức Giang
  • Ung Thư Biểu Mô Đường Niệu Trên
  • Ung Thư Tuyến Nước Bọt: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Ung Thư Biểu Mô Phế Quản
  • Ung thư trung biểu mô màng phổi là loại ung thư hiếm gặp và khó chẩn đoán. Thời gian ủ bệnh dài, từ 10 đến 50 năm mới xuất hiện triệu chứng. Do vậy phần lớn người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn với tiên lượng xấu. Theo một số tài liệu, amiăng là chất gây ra các bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, ung thư thực quản, buồng trứng, và cả ung thư trung biểu mô ác tính (màng phổi, màng bụng, màng tim)…

    Tại Việt Nam, amiăng là nguyên liệu chính trong các tấm lợp A-C (tấm lợp fibro/pro xi măng) được sử dụng rộng rãi trong xây dựng công trình, nhà xưởng, hộ gia đình… Tất cả các thao tác trong quá trình sản xuất sản phẩm chứa amiăng (xé bao, nghiền, trộn, khoan…) hay trong khi sử dụng (cắt, đập, phá dỡ các tấm lợp, vật liệu có chứa amiăng) đều có thể phát sinh bụi amiăng trong môi trường, và là nguyên nhân gây bệnh khi người dân hít phải bụi này. Bên cạnh đó, các thói quen tận dụng, tháo dỡ các tấm amiăng vỡ để lát đường, làm chuồng trại… cũng làm tăng nguy cơ hít phải chất trên.

    Mới đây, khoa Phẫu thuật – Can thiệp tim mạch & Lồng ngực Bệnh viện đã xác nhận một trường hợp ung thư trung biểu mô màng phổi, cảnh báo người dân không chủ quan trước nguy cơ mắc bệnh nghi do nhiễm amiăng.

    NB nữ N. T. T. P, 49 tuổi, địa chỉ tại Phường Quảng Yên, Thị xã Quảng Yên có tiền sử khỏe mạnh, khoảng 1 tuần trước vào viện người bệnh xuất hiện đau tức ngực phải kèm cảm giác khó thở khi hít sâu. Qua kết quả chụp X-quang cho thấy có một lượng nhỏ dịch màng phổi phải. Người bệnh được chỉ định chọc hút làm xét nghiệm Giải phẫu bệnh, cho thấy có yếu tố nghi ngờ tế bào ác tính. Người bệnh tiếp tục được phẫu thuật nội soi lấy dịch và mẫu bệnh phẩm sinh thiết màng phổi phải.

    Dịch màng phổi phải của người bệnh được lấy làm sinh thiết

    Kết quả sinh thiết tại Bệnh viện xác định là u trung mô ác tính. Xác định đây là trường hiếm gặp các bác sĩ khoa Giải phẫu bệnh đã hội chẩn ca bệnh cùng chuyên gia đầu ngành thuộc Đại học Y khoa Karolinska – Thụy Điển và nhận được kết quả trùng khớp.

    BSCKI. Nguyễn Đức Hoành – Trưởng khoa Phẫu thuật – Can thiệp Tim mạch & Lồng ngực cho biết, ung thư trung biểu mô màng phổi là bệnh hiếm gặp và có tiên lượng rất xấu. Phần lớn tuổi thọ trung bình của người bệnh sau khi được chẩn đoán chỉ từ 6 đến 12 tháng. Tuy nhiên, với các phương pháp điều trị đa mô thức như hiện nay, bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị… tỉ lệ sống cho người bệnh được cải thiện hơn.Trường hợp người bệnh N. T. T. P đã được tư vấn áp dụng phương pháp điều trị này: phẫu thuật cắt toàn bộ màng phổi thành, một phần cơ hoành và một phần màng tim, cùng với hóa trị và xạ trị tại khoa Phẫu trị- Xạ trị & Y học hạt nhân của Bệnh viện.

    Các bác sĩ khuyến cáo người dân có các triệu chứng như khó thở, đau ngực, ho khan và mệt mỏi… Đặc biệt là những người có tiếp xúc với amiăng nên thường xuyên khám sức khỏe,bao gồm chuyên khoa lồng ngực để phát hiện sớm bệnh lý và điều trị kịp thời. Ngoài ra, hạn chế tiếp xúc với các vật liệu chứa amiăng; Nghiêm túc tuân thủ các quy định về an toàn lao động như đeo khẩu trang, mặc trang phục bảo hộ…; Không tự ý tháo dỡ, vứt bỏ vật liệu chứa amiăng mà cần có tư vấn của cơ quan môi trường địa phương; Không dùng các tấm amiăng để lát đường, làm chuồng trại… là những việc cần làm để phòng ngừa nguy cơ nhiễm độc amiăng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Đường Mật Trong Gan Tại Bệnh Viện Bình Dân
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Đường Mật Trong Gan Tại Bệnh Viện Bạch Mai
  • Chẩn Đoán Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Lớn Của Phổi
  • Bố Em Bị Ung Thư Vảy Không Sừng Hóa, Thời Gian Sống Còn Bao Lâu?
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Của Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Nên Ăn Quả Gì? Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Người K Phổi
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Ung Thư Phổi
  • Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Nên Ăn Uống Gì?
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Sớm Ung Thư Phổi
  • Bị Ung Thư Phổi Nên Ăn Gì? Lời Khuyên Từ Chuyên Gia Y Tế
  • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chiếm khoảng 80% các trường hợp ung thư phổi và trong số này, gần 30% là ung thư biểu mô tế bào vảy.

    Tổng quan

    Ung thư biểu mô tế bào vảy bắt đầu ở mô nằm gần đường dẫn khí trong phổi. Nó còn được gọi là ung thư biểu mô dạng biểu bì.

    Căn bệnh ung thư này phát triển chậm và do vị trí của nó nên thường được phát hiện sớm hơn các loại ung thư phổi khác. Tỷ lệ mắc ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi đang giảm trong những năm gần đây, trong khi ung thư biểu mô tuyến phổi tăng.

    Triệu chứng

    Các triệu chứng thường gặp của ung thư phổi bao gồm ho dai dẳng, ho ra máu và thở khò khè. Do ung thư biểu mô tế bào vảy thường nằm gần đường hô hấp chính nên hay gây ra các triệu chứng sớm hơn các loại ung thư phổi khác.

    Tắc nghẽn đường hô hấp có thể dẫn đến nhiễm trùng như viêm phổi hoặc xẹp phổi. Ung thư biểu mô tế bào vảy là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra hội chứng khe trên. Hội chứng khe trên do ung thư phổi bắt đầu ở gần đỉnh phổi và xâm lấn vào các cấu trúc gần đó.

    Các triệu chứng bao gồm: đau vai lan xuống phần trong của cánh tay, yếu hay cảm giác kim châm trong bàn tay, đỏ bừng hoặc đổ mồ hôi ở một bên mặt và mí mắt xệ xuống (hội chứng Horner).

    Những bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tế bào vảy thường dễ bị tăng canxi huyết dẫn đến yếu cơ và chuột rút. Tăng canxi huyết là một trong những triệu chứng của hội chứng cận ung thư, do khối u tiết ra một chất giống hoóc-môn làm tăng nồng độ canxi trong máu.

    Chẩn đoán

    Ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi được nghi ngờ lần đầu khi thấy những bất thường trên phim chụp X quang. Các xét nghiệm thêm bao gồm:

    – Chụp CT ngực

    – Xét nghiệm tế bào trong đờm – vì ung thư biểu mô tế bào vảy thường lan rộng vào đường hô hấp nên xét nghiệm mẫu đờm đôi khi có thể phát hiện tế bào ung thư.

    – Nội soi phế quản- Chụp PET – một xét nghiệm để phát hiện các khối u đang phát triển.

    – Siêu âm phế quản

    Căn cứ vào kết quả, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô để xác nhận chẩn đoán và tiến hành thêm các xét nghiệm để xem ung thư đã lan rộng hay chưa.

    Giai đoạn

    Ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi được chia thành 4 giai đoạn:

    Giai đoạn 1: Khối ung thư còn giới hạn trong phổi và chưa lan đến các hạch bạch huyết.

    Giai đoạn 2: Khối ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc màng phổi, hoặc trong một số vùng của phế quản chính.

    Giai đoạn 3: Khối ung thư đã lan rộng đến các mô gần phổi.

    Giai đoạn 4: Ung thư đã lan rộng (di căn) tới các phần khác của cơ thể.

    Nguyên nhân

    Điều trị

    Tùy thuộc vào giai đoạn ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi, điều trị có thể bao gồm phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị hoặc điều trị kết hợp. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nhằm tìm kiếm những liệu pháp mới để điều trị hiệu quả nhất.

    Phẫu thuật

    Khi phát hiện ung thư phổi ở các giai đoạn sớm, phẫu thuật có thể chữa khỏi bệnh.

    Hóa trị liệu

    Hóa trị liệu có thể được sử dụng đơn thuần, kết hợp với xạ trị hoặc tiến hành sau phẫu thuật ung thư phổi. Ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi đáp ứng với thuốc hóa trị khác với các loại ung thư phổi khác như ung thư biểu mô tuyến phổi.

    Các thuốc thường được sử dụng ban đầu cho loại ung thư này bao gồm: cisplatin (Platinol) và gemcitabine (Gemzar). Đối với những bệnh nhân đáp ứng liệu pháp này có thể điều trị liên tục (điều trị duy trì) với erlotinib (Tarceva) hoặc Alimta (permetrexed).

    Xạ trị

    Tiên lượng

    Tỷ lệ sống thêm 5 năm đối với bệnh ung thư phổi là xấu, chỉ khoảng 15%. Đối với bệnh ở giai đoạn sớm, đặc biệt khi phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u, tỷ lệ sống thêm sẽ cao hơn rất nhiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Rõ: Ung Thư Màng Phổi Là Gì? Cách Điều Trị Như Thế Nào?
  • Ung Thư Trung Biểu Mô Màng Phổi: Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Phẫu Thuật Ung Thư Phổi: Có Đáng Sợ Như Bạn Nghĩ?
  • Chất Chỉ Điểm Ung Thư (Cancer Markers)
  • Tràn Dịch Màng Phổi Và Tràn Dịch Màng Phổi Ác Tính
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Lớn Của Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Chẩn Đoán Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Xâm Lấn
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Đường Mật Trong Gan Tại Bệnh Viện Bạch Mai
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Đường Mật Trong Gan Tại Bệnh Viện Bình Dân
  • Nguy Hiểm Ung Thư Trung Biểu Mô Màng Phổi
  • Cơ Chế Bệnh Ung Thư Biểu Mô Nhú Của Tuyến Giáp
  • Ung thư biểu mô tế bào lớn là một dạng ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chiếm 80% các trường hợp ung thư phổi và trong số này, gần 10% là ung thư biểu mô tế bào lớn của phổi.

    Tổng quan

    Ung thư biểu mô tế bào lớn còn đươc gọi là ung thư phổi tế bào lớn. Loại ung thư này có tên như vậy là do khi kiểm tra dưới kính hiển vi thấy xuất hiện các tế bào tròn lớn. Ung thư biểu mô tế bào lớn thường gặp ở các vùng bên ngoài của phổi, có xu hướng phát triển nhanh và lan nhanh hơn so với một số loại ung thư phổi không tế bào nhỏ khác.

    Triệu chứng

    Do ung thư biểu mô tế bào lớn thường bắt đầu ở phần ngoài của phổi nên các triệu chứng của ung thư phổi như ho mãn tính và ho ra máu Các triệu chứng sớm của ung thư biểu mô tế bào lớn bao gồm: mệt mỏi khó thở nhẹ, hoặc đau lưng, vai, hoặc ngực.

    Do ung thư biểu mô tế bào lớn thường được phát hiện ở các vùng ngoài của phổi nên nó cũng khiến dịch phát triển ở khoang giữa các mô lót phổi (tràn dịch màng phổi) và xâm lấn vào thành ngực. Tình trạng này có thể gây đau ngực hoặc thở sâu.

    Ung thư biểu mô tế bào lớn cũng có thể tiết ra các chất giống hoóc-môn gây ra triệu chứng được gọi là hội chứng cận ung thư Ở nam giới, các chất này có thể gây phì đại vú, đây là hiện tượng đàn ông vú to.

    Chẩn đoán

    Ung thư biểu mô tế bào lớn của phổi thường được nghi ngờ lần đầu khi thấy những bất thường trên phim chụp X quang. Các xét nghiệm thêm bao gồm:

    – Chụp CT ngực

    – Nội soi phế quản

    Chụp PET – xét nghiệm để phát hiện các khối u đang phát triển. Căn cứ vào kết quả, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô để xác nhận chẩn đoán và tiến hành xét nghiệm thêm nhằm xem ung thư đã lan rộng hay chưa.

    Các giai đoạn

    Ung thư biểu mô tế bào lớn được chia thành 4 giai đoạn:

    Giai đoạn 1; Khối ung thư còn giới hạn trong phổi và chưa lan đến các hạch bạch huyết

    Giai đoạn 2: ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết màng phổi hoặc một số vùng của phế quản chính.

    Giai đoạn 3: Ung thư đã lan đến các mô gần phổi.

    Giai đoạn 4: Ung thư đã lan rộng (di căn) tới các phần khác của cơ thể.

    Điều trị

    Tùy theo giai đoạn của bệnh điều trị ung thư biểu mô tế bào lớn của phổi có thể bao gồm phẫu thuật hóa trị liệu xạ trị hoặc kết hợp các phương pháp với nhau. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đang được tiến hành để tìm kiếm những liệu pháp mới giúp điều trị ung thư phổi và xác định liệu pháp nào hiệu quả nhất.

    Phẫu thuật

    Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, bệnh có thể chữa khỏi nhờ phẫu thuật.

    Hóa trị liệu: Hóa trị liệu có thể được dùng đơn thuần hay kết hợp với xạ trị hoặc tiến hành sau phẫu thuật ung thư phổi. Một số thuốc hóa trị dùng điều trị ung thư biểu mô tế bào lớn bao gồm altima (pemetrexed) và platinol (cisplatin).

    Liệu pháp đích: Đây là các thuốc được thiết kế chỉ để tấn công ung thư Vì các thuốc hoạt động bằng cách nhắm vào các protein trên tế bào ung thư hoặc tế bào bình thường đã bị khối u ‘chiếm đoạt’ để phát triển. Phương pháp này có ít tác dụng phụ hơn so với hóa trị liệu truyền thống. Một số thuốc dùng trong liệu pháp này bao gồm tarceva (erlotinib) và iressa (gefitinib).

    Tiên lượng

    Tỷ lệ sống thêm 5 năm đối với ung thư phổi nói chung là xấu, chỉ khoảng 18%. Đối với những người được chẩn đoán ở giai đoạn sớm của bệnh, tiên lượng sẽ khả quan hơn nhiều. Một biến thể của ung thư biểu mô tế bào lớn là ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn, có tiên lượng kém hơn so với ung thư biểu mô tế bào lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bố Em Bị Ung Thư Vảy Không Sừng Hóa, Thời Gian Sống Còn Bao Lâu?
  • Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Gan. Bài Thuốc Trị Ung Thư Gan
  • Phát Hiện Và Phòng Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Da Ở Người
  • Ung Thư Biểu Mô : Triệu Chứng, Chuẩn Đoán Và Điều Trị
  • Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tuyển Dạ Dày
  • Ung Thư Biểu Mô Là Gì? Các Loại Ung Thư Biểu Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Loại Mô Học Ung Thư Biểu Mô Tuyên Vú
  • Phát Hiện Đột Biến Gen Egrf Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Của Phổi
  • Điều Trị Thành Công Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Loại Biểu Mô Tuyến Di Căn Hạch Tại Bệnh Viện Bạch Mai
  • Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ
  • Kiến Thức Cơ Bản Và Cách Chữa Ung Thư Biểu Mô
  • Ung thư biểu mô là gì? Ung thư biểu mô là tên gọi chung của các bệnh ung thư bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Những tế bào này tạo thành mô lót các bề mặt bên trong và bên ngoài cơ thể bạn.

    Điều này có nghĩa là, ung thư có thể xảy ra ở bề mặt ngoài da, các cơ quan nội tạng, bên trong các cơ quan rỗng, đường tiêu hóa và ngay cả trong mạch máu. Ung thư biểu mô là loại ung thư phổ biến, được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên tế bào mà chúng bắt đầu.

    – K biểu mô tế bào đáy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp sâu nhất của biểu mô, được gọi là tế bào cơ bản.

    – K biểu mô tế bào vảy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp trên cùng của biểu mô gọi là tế bào vảy.

    – K biểu mô tế bào chuyển tiếp: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào co giãn trong biểu mô đường tiết niệu.

    – K tế bào thận: Ung thư phát triển trong các tế bào biểu mô của hệ thống lọc của thận.

    – K biểu mô tuyến: Bắt đầu trong các tế bào biểu mô chuyên biệt, được gọi là tế bào tuyến.

    – Sarcoma (Ung thư mô liên kết): Ung thư này khác với K biểu mô vì chúng bắt đầu trong các tế bào trong gân, xương, sụn, và mô liên kết. Sarcoma xảy ra ít xảy ra hơn so với ung thư biểu mô

    Các Loại Ung Thư Biểu Mô Phổ Biến Nhất

    Nhiều loại ung thư biểu mô khác nhau có thể phát triển trong cùng một cơ quan. Do đó thay vì phân loại ung thư theo cơ quan nội tạng, người ta phân loại theo nhóm:

    Ung thư biểu mô tế bào đáy

    Ung thư chỉ xảy ra trong da. Theo Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, khoảng 80% tất cả các bệnh ung thư da phát triển khối u ác tính là ung thư biểu mô tế bào đáy. Loại ung thư này rất chậm phát triển và hầu như không lây lan.

    Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC)

    Thông thường, ung thư biểu mô tế bào vảy đề cập đến ung thư da nhiều hơn, nhưng nó cũng thường ảnh hưởng đến các bộ phận khác như:

    – Da: Ung thư thường phát triển chậm và không lan rộng. Tuy nhiên, sự xâm lấn và di căn cục bộ xảy ra thường xuyên hơn so với ung thư biểu mô tế bào đáy.

    – Phổi: Ung thư tế bào vảy đại diện khoảng 25% tất cả các bệnh ung thư phổi.

    – Thực quản. Hầu hết các bệnh ung thư ở thực quản trên biểu mô tế bào vảy.

    – Đầu và cổ. Hơn 90% bệnh ung thư ở miệng, mũi và cổ họng là ung thư tế bào vảy SCC.

    K biểu mô tế bào thận

    Đây là ung thư chiếm khoảng 90% tất cả các khối u thận

    K biểu mô tế bào chuyển tiếp

    Các tế bào chuyển tiếp được tìm thấy ở khung chậu thận và ống dẫn nước từ thận gọi là niệu quản. Ung thư tế bào chuyển tiếp chiếm khoảng 10% tất cả các ung thư thận.

    K biểu mô tuyến

    Khi ung thư phát triển, các tế bào biểu mô tiết ra một chất nhầy được gọi là tế bào tuyến. Những tế bào này nằm trong lớp lót của hầu hết các cơ quan.

    Các loại ung thư biểu mô tuyến phổ biến nhất là: ung thư vú, địa trực tràng, phổi, tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

    Phân loại ung thư biểu mô

    Khi bất kỳ loại ung thư nào được chẩn đoán, tùy vào mức độ lan truyền mà chúng thường được phân thành một trong ba loại:

    – K biểu mô tại chỗ: Ung thư đã lan ra bên ngoài các tế bào biểu mô mà nó bắt đầu.

    – K biểu mô xâm lấn: Ung thư đã lan rộng sang các mô lân cận.

    – K biểu mô di căn: Ung thư đã lan đến các phần xa của biểu mô.

    Các chẩn đoán vật lý được thực hiện để xác định các triệu chứng của bạn có phải là ung thư hay không, hoặc để tìm kiếm các dấu hiệu của ung thư. Các bác sĩ sẽ dựa trên các đặc điểm khác nhau như kích thước, màu sắc, hình dạng, kết cấu, tỉ lệ tăng trưởng… để xác định liệu đó có phải là ung thư biểu mô tế bào đáy hay vảy.

    Ung thư biểu mô bên trong cơ thể bạn được đánh giá bằng các xét nghiệm hình ảnh cho thấy vị trí và kích thước của tế bào ung thư. Chúng cũng có thể hiển thị nếu đã lan rộng cục bộ hoặc trong cơ thể bạn. Những xét nghiệm này bao gồm: Chụp X-quang, Quét CT, Quét MRI.

    Khi đã chẩn đoán ung thư qua hình ảnh, sinh thiết. Một phần hoặc toàn bộ tế bào tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ và nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem đó có phải là ung thư hay không và ung thư thuộc loại nào.

    Ung Thư Biểu Mô Được Điều Trị Như Thế Nào?

    Tất cả các loại ung thư được điều trị bằng sự kết hợp của phẫu thuật, xạ trị, hóa trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ tiến triển, lây lan của ung thư.

    Phẫu thuật: Được sử dụng để loại bỏ tất cả các tế bào ung thư.

    Xạ trị: Được sử dụng để điều trị một khu vực cụ thể với sự lây lan ung thư cục bộ.

    Hóa trị: Được sử dụng để điều trị ung thư có thể đã lan xa.

    Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Tế Bào Biểu Mô Hay Không?

    Ung thư tế bào biểu mô hoàn toàn có thể chữa khỏi hay không phụ thuộc vào các yếu tố: bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm hay muộn? tế bào ung thư tế bào biểu mô lan truyền tại chỗ hay đã lây lan đến các cơ quan khác?…

    Biết được ung thư biểu mô là gì, cũng như cách nhận biết giúp bạn có nền tảng kiến thức chăm sóc sức khỏe cùa bản thân cũng như cho những người thân bên cạnh. Ung thư biểu mô được phát hiện sớm trước khi lan rộng có thể được chữa khỏi và cho kết quả khả quan. Bệnh càng để lâu hoặc ung thư tế bào biểu mô càng lan rộng thì việc điều trị càng trở nên khó khăn và kết quả điều trị không được hiệu quả. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển, chúng ta có thể phòng ngừa được các loại bệnh ung thư bằng chế độ ăn uống khoa học, lối sống lành mạnh và bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ngăn ngừa ung thư.

    Sức khỏe của bạn là những gì bạn ăn, hạnh phúc nằm trong tầm tay bạn. Vì vậy, hãy bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất, ngay hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Biểu Mô Tuyến Dạ Dày Có Chữa Được Không?
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Gai Ở Da: Nguy Cơ Và Cách Phòng Ngừa
  • Bs Ơi, Liệu Chị Cháu Có Bị Ung Thư Biểu Bì Mô?
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Đáy: Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Phổi Biểu Mô Tuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Là Gì? Biểu Hiện Của Ung Thư Phổi
  • Một Số Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Phổi
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Ung Thư Phổi Và Biến Chứng Thường Gặp
  • Biến Chứng Của Bệnh Ung Thư Phổi
  • Các Loại Ung Thư Phổi Thường Gặp Và Những Biến Chứng Nguy Hiểm
  • Theo thống kê, có đến 80% bệnh nhân mắc phải căn bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ và 50% trong số đó thường bị ung thư phổi biểu mô tuyến, vậy căn bệnh này nguy hiểm như thế nào?

    Những điều cần biết về ung thư phổi biểu mô tuyến

    Ung thư phổi biểu mô tuyến là một loại của ung thư phổi không tế bào nhỏ. Loại bệnh thường gặp ở nữ giới, phổ biến nhất ở những người có độ tuổi dưới 45. Đây cũng là căn bệnh dễ gặp ở những người châu Á nói chung và có xu hướng gia tăng vào những năm gần đây. Thông thường, ung thư phổi biểu mô tuyến thường bắt đầu từ các mô nằm bên ngoài phổi. Khi mới hình thành, chúng ít bị phát hiện do không gây ra các triệu chứng đặc biệt. Những dấu hiệu mắc bệnh sớm như mệt mỏi, khó thở, đau lưng, vai…rất dễ bị bỏ qua. Chỉ đến khi bệnh đã trở nên trầm trọng thì các dấu hiệu đặc trưng của ung thư phổi như ho lâu ngày, ho ra máu mới bắt đầu xuất hiện.

    Các giai đoạn ung thư phổi biểu mô tuyến

    Theo các chuyên gia Hỏi đáp bệnh học, bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến thường phải trải qua 4 giai đoạn sau:

    • Giai đoạn 1: Các tế bào ung thư còn khu trú trong phổi và chưa có dấu hiệu lan rộng ra các hạch bạch huyết xung quanh.
    • Giai đoạn 2: Khối u đã lan rộng đến các hạch bạch huyết hoặc màng phổi, thậm chí là cả một số cơ quan của phế quản chính cũng bị xâm lấn bởi các tế bào ung thư.
    • Giai đoạn 3: Tế bào ung thư đã di căn đến các mô gần phổi.
    • Giai đoạn 4: khối u đã di căn đến các bộ phận khác trên toàn cơ thể

    Cách điều trị bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến

    Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng nhằm tìm ra các liệu pháp điều trị bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi thành công mới của khoa học, các chuyên gia và bác sĩ thường sử dụng một số phương pháp sau để điều trị cho người bệnh:

    Cách điều trị bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến

    Phương pháp này thường được sử dụng trong điều kiện bệnh nhân phát hiện bệnh ung thư phổi biểu mô tuyến ở những giai đoạn ban đầu, mới hình thành. Khi đó, việc cắt bỏ khối u và cơ hội chữa khỏi bệnh hoàn toàn có thể xảy ra.

    Phương pháp này có thể được sử dụng đơn thuần nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư phổi biểu mô tuyến hoặc kết hợp xạ trị để thu được hiệu quả cao hơn. Trong điều kiện bệnh nhân đã cắt bỏ khối u nhưng vẫn còn các tế bào ung thư tàn dư, bác sĩ có thế kết hợp sử dụng phương pháp hóa trị nhằm tiêu diệt bệnh tận gốc. Một số loại thuốc hóa trị liệu có thể được dùng trong điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến bao gồm: pemetrexed (Altima), cisplatin (Platinol).

    Liệu pháp điều trị đích là sử dụng các loại thuốc được chế tạo chỉ nhằm mục đích tấn công khối u mà không gây hại đến các tế bào xung quanh. Các loại thuốc này hoạt động bằng cách nhắm vào protein trên tế bào ung thư, cắt đứt các tín hiệu giúp phân chia tế bào và ngăn chặn khối u tấn công các khu vực khỏe mạnh xung quanh.

    Nhờ đó, liệu pháp này ít gây ra tác dụng phụ cho cơ thể người bệnh hơn so với phương pháp hóa trị truyền thống. Một số loại thuốc điều trị đích được áp dụng cho bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến bao gồm: erlotinib (Tarceva), Gefitinib (Iressa) và Xylori (crizotinib).

    Xạ trị cũng là phương pháp có thể được sử dụng để điều trị ung thư phổi biểu mô tuyến hoặc dùng để ngăn ngừa kiểm soát các triệu chứng di căn của khối u.

    Nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng sống sẽ cao hơn

    Theo các chuyên gia chữa trị bệnh học chuyên khoa, thời gian sống dài hơn 5 năm ở những bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn cuối là khó xảy ra, chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 18%. Trong trường hợp bệnh được phát hiện sớm ở những giai đoạn đầu thì tiên lượng sống sẽ khả quan hơn. Vì thế khi có dấu hiệu thì bệnh nhân nên đến các trung tâm Y tế để thăm khám và điều trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Phổi
  • Tổng Hợp Và Chia Sẻ Kinh Nghiệm Ôn Thi Bác Sĩ Nội Trú
  • Ung Thư Phổi, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Ung Thư Phổi Và Những Điều Bạn Cần Biết
  • Chương Trình Tư Vấn Trực Tuyến “những Điều Cần Biết Về Điều Trị Ung Thư Phổi”
  • Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Của Phổi Như Thế Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Án: Đặc Điểm Giải Phẫu Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú, Hay
  • Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Điều Trị
  • Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy, Triệu Chứng, Chẩn Đoán, Nguyên Nhân Gây Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy
  • Ung Thư Tế Bào Vảy (Scc)
  • Ung Thư Hạch Bạch Huyết Hodgkin: Cải Thiện Cơ Hội Chữa Khỏi
  • Theo các chuyên gia y tế, nguyên nhân gây bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi là do việc hút thuốc. Bệnh thường gặp ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới. Hầu hết ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi nằm ở vị trí trung tâm, thường ở phế quản lớn nối khí quản với phổi.

    Bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi (ung thư phổi) thường phát triển chậm, đồng thời do vị trí của nó nên dễ dàng phát hiện sớm hơn các loại ung thư phổi khác. Theo thống kê, trong các năm gần đây tỷ lệ mắc ung thư biểu mô tế bào phổi đang giảm trong khi ung thư biểu mô tuyến phổi có dấu hiệu gia tăng.

    Triệu chứng bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi

    Ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi cũng có các triệu chứng của ung thư phổi bao gồm ho dai dẳng, ho ra máu và thở khò khè. Bên cạnh đó, do ung thư biểu mô tế bào vảy thường nằm gần đường hô hấp chính nên bệnh cũng có các triệu chứng sớm hơn các loại ung thư phổi khác.

    Ung thư biểu mô tế bào tế bào vảy của phổi là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra hội chứng khe trên. Hội chứng này bắt đầu ở gần đỉnh phổi và xâm lấn vào các cấu trúc gần đó.

    Các triệu chứng của ung thư tế bào vảy của phổi bao gồm: hay cảm giác kim châm trong bàn tay, đau vai lan xuống phần trong của cánh tay, đỏ bừng hoặc đổ mồ hôi ở một bên mặt và mí mắt xệ xuống (hội chứng Horner).

    Ngoài ra, khi bị mắc ung thư tế bào vảy của phổi, người bệnh thường dễ bị tăng canxi huyết dẫn đến yếu cơ và chuột rút. Tăng canxi huyết là một trong những triệu chứng của hội chứng cận ung thư, do khối u tiết ra một chất giống hoóc-môn làm tăng nồng độ canxi trong máu.

    Chẩn đoán ung thư tế bào vảy của phổi

    Bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi sẽ được chẩn đoán thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Căn bệnh này được nghi ngờ lần đầu khi thấy những bất thường trên phim chụp X quang. Để xác định chính xác, bệnh nhân sẽ làm thêm các xét nghiệm:

    – Chụp CT ngực.

    – Xét nghiệm tế bào trong đờm – vì ung thư biểu mô tế bào vảy thường lan rộng vào đường hô hấp nên xét nghiệm mẫu đờm đôi khi có thể phát hiện tế bào ung thư.

    – Nội soi phế quản – Chụp PET – một xét nghiệm để phát hiện các khối u đang phát triển.

    – Siêu âm phế quản.

    Sau khi làm các xét nghiệm các bác sĩ sẽ căn cứ vào kết quả và lấy một mẫu mô để xác nhận chẩn đoán và tiến hành thêm các xét nghiệm để xem ung thư đã lan rộng hay chưa.

    Các giai đoạn ung thư biểu mô tế bào vảy

    Bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi được chia thành các giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: Các tế bào ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi còn giới hạn trong phổi và chưa lan đến các hạch bạch huyết.

    Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này, tế bào ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc màng phổi, hoặc trong một số vùng của phế quản chính.

    Giai đoạn 3: Khối ung thư đã lan rộng đến các mô gần phổi.

    Giai đoạn 4: Đây là giai đoạn ung thư đã lan rộng, hay còn gọi là ung thư di căn tới các phần khác của cơ thể.

    Nguyên nhân ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi

    Nguyên nhân dẫn đến ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi có thể kể đến đầu tiên là việc hút thuốc lá, ngoài ra cũng có một số nguyên nhân khác như môi trường, nghề nghiệp, di truyền…

    Điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi

    Các bác sĩ sẽ dựa vào giai đoạn của ung thư rồi đưa ra phương pháp điều trị phù hợp, điều trị có thể bao gồm phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị hoặc điều trị kết hợp. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nhằm tìm kiếm những liệu pháp mới để điều trị hiệu quả nhất.

    Phẫu thuật: Đây là phương pháp khi phát hiện ung thư biểu mô tế bào vảy ở phổi ở các giai đoạn sớm các bác sĩ sử dụng để có thể điều trị thành công bệnh.

    Hóa trị liệu: Phương pháp hóa trị liệu có thể được sử dụng đơn thuần, kết hợp với xạ trị hoặc tiến hành sau phẫu thuật ung thư phổi. Ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi đáp ứng với thuốc hóa trị khác với các loại ung thư phổi khác như ung thư biểu mô tuyến phổi.

    Các thuốc thường được sử dụng ban đầu cho loại ung thư này bao gồm: cisplatin (Platinol) và gemcitabine (Gemzar). Đối với những bệnh nhân đáp ứng liệu pháp này có thể điều trị liên tục (điều trị duy trì) với erlotinib (Tarceva) hoặc Alimta (permetrexed).

    Xạ trị: Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi có thể được áp dụng bên ngoài hoặc bên trong. Trong đó, chất phóng xạ được phân phối tới một vùng chính xác của phổi trong quá trình nội soi phế quản.

    Theo Sức khỏe và đời sống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Thành Công Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Loại Biểu Mô Tuyến Di Căn Xương, Màng Phổi Tại Bệnh Viện Bạch Mai
  • Ung Thư Biểu Mô Nguồn Gốc Phế Quản: Carcinoma
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Ung Thư Biểu Mô Phế Quản
  • Ung Thư Tuyến Nước Bọt: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Ung Thư Biểu Mô Đường Niệu Trên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100