Top #10 ❤️ Dịch Tễ Học Ung Thư Tại Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Brandsquatet.com

Dịch Tễ Học Bệnh Ung Thư

Giám Đốc Bệnh Viện K Nhận Giải Thưởng Nhân Tài Đất Việt Vì Đột Phá Điều Trị Ung Thư Vú

Đặc Trưng Của Ung Thư Vú Ở Bệnh Nhân Vị Thành Niên

Bao Nhiêu Tuổi Thì Tầm Soát Ung Thư?

Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ (Nội Ống) (Dcis)

【Tìm Hiểu】Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú Xâm Lấn

UNG THƯ TRÊN THẾ GIỚI

Dựa vào số liệu của các Ghi nhận ung thư quần thể tại nhiều vùng khác nhau, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệu trường hợp mới mắc và khoảng trên 6 triệu người chết do ung thư. Tại các nước phát triển ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau bệnh tim mạch, ở các nước đang phát triển ung thư đứng hàng thứ ba sau bệnh nhiễm trùng/ký sinh trùng và tim mạch

Bảng 1: Số liệu về tình hình mắc và chết do ung thư năm 2002

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới tại các nước phát triển và đang phát triển. Trong năm 2002 trên thế giới có khoảng

Ca mới mắc ung thư phổi chiếm 12,5% tổng số các ca mới mắc ung thư. nam mắc nhiều hơn nữ với tỷ lệ ASR ở nam là 30,9/100.000 dân; ở nữ giới ASR là 12.6/100.000 dân.

Ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ các nước phát triển và ung thư cổ tử cung là nguyên nhân tử vong hàng đầu tại các nước đang phát triển. Năm 2002 trên thế giới có khoảng 1.200.000 ca mới mắc ung thư vú trong đó ở các nước phát triển có ASR trung bình là 103,7/ 100.000 phụ nữ và các nước đang phát triển ASR trung bình khoảng 21/100.000 phụ nữ. Nơi cổ tỷ lệ mới mắc ung thư vú cao nhất là Bắc Mỹ (99,4/100.000), Tây và Bắc Âu, úc (84,6/100.000). Trung bình cứ 8 phụ nữ ở Hoa Kỳ thì có 1 người mắc ung thư vú. Tỷ lệ chết do ung thư vú tăng lện theo tỷ lệ mắc, tuy nhiên ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhưng tỷ lệ chết vẫn giữ ớ mức độ ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện sớm và những thành tựu đạt được trong điều trị.

Trong năm 2005 trên toàn thế giới có trên 500.000 ca ung thư cổ tử cung mới trong đó ở các nước đang phát triển chiếm hơn 90%. Số trường hợp chết do ung thư cổ tử cung là 270.000, như vậy trên thế giới cứ 2 phút thì có một phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung.

Ung thư dạ dày là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ hai ở cả hai giới. Số ca mới mắc ung thư dạ dày hàng năm chiếm khoảng 9-10% tổng số các ca ung thư. Một số nghiên cứu cho thấy, người dân Nhật Bản di cư sang Hoa Kỳ, ở thế hệ thứ nhất mang đặc tính nguy cơ góc về ung thư dạ dày, nhưng sang thế hệ sau mang tính nguy cơ của quốc gia đang cư trú Các loại ung thư dạ dày có biệt hóa cao thường gặp ớ những vùng có tần suất ung thư cao, trong khi loại kém biệt hóa thường gặp ở những nơi có tần suất thấp.

Ung thư gan là một trong những ung thư phổ biến trên thế giới. Phân bố bệnh không đều giữa các vùng khác nhau. Bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới, 0 các nước đang phát triển nhiều hơn so với các nước phát triển. Nhật Bản, Đông Nam Á, vùng cận Sahara là những vùng có nguy cơ ung thư gan cao. Ung thư gan xếp hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới, chiếm khoảng 4% trong các loại ung thư ở người Ung thư gan có tỷ lệ mới mắc hàng năm xếp hàng thứ 5 ở nam giới và thứ 8 ở nữ giới.

Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài trên người Việt Nam di cư tới Anh và xứ Wales, Los Angeles, úc, các tác giả cũng nhận thấy nguy cơ tử vong và mắc những loại ung thư vòm họng, gan, dạ dày, co tử cung ở người Việt mới di cư sang cao hơn so với dân bản xứ. Trong khi đó, ung thư đại – trực tràng, phổi, vú lại thấp hơn dân bản xứ. Những thông tin này hết sức quan trọng về mặt y tế công cộng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách biết để quan tâm đến những ung thư tại địa bàn quản lý để cổ mức đầu tư phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vì vậy, tất cả các quốc gia đã tiến hành ghi nhận ung thư đều định kỳ ước tính gánh nặng bệnh ung thư của cả nước thông qua số liệu về tỷ lệ mắc ung thư của các quần thể nhỏ đã được tiến hành ghi nhận.

BỆNH UNG THƯ Ở VIỆT NAM

Những cố gắng để tìm hiểu tình hình ung thư ở Việt Nam đã có từ rất lâu. Trong một nghiên cứu tiến hành trên 3.000 ca ung thư ở Viện Ung thư Hà Nội (nay là Bệnh viện K) năm 1950, các tác giả đã nhận thấy ung thư đường sinh dục chiếm tỷ lệ rất cao 0 cả nam và nữ cũng như các ung thư khoang miệng, các ung thư có nguồn gốc từ bào thai và tế bào nuôi, trong khi những ung thư khác như ung thư phổi, đường tiết niệu và tiêu hoá, các ung thư có nguồn gốc phần mềm, xương, thần kinh lại hiếm gặp. Trong một nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 1976-1981 cho thấy loại ung thư gặp nhiều nhất ở nam giới là ung thư phổi, miệng, vòm họng, trong khi ở nữ giới là ung thư cổ tử cung, vú và khoang miệng. Tuy nhiên, số liệu mà mỗi bệnh viện đưa ra chỉ phản ánh mô hình bệnh đặc thù với chuyên ngành hoặc thế mạnh của bệnh viện đó mà không mô tả được thực trạng cơ cấu bệnh ung thư trong cộng đồng dân cư.

Số liệu về tình hình ung thư mà hai Ghi nhận Quần thể ở Hà Nội (1988-1990) và Thành phố Hồ Chí Minh (1994) đưa ra có lẽ là những con số về tỷ lệ mắc ở người Việt Nam duy nhất được tính toán cho tới các thời điểm đó, mặc dù tại hai thời điểm công bố nói trên số liệu của hai ghi nhận còn chưa thật đầy đủ. Các kết quả cho thấy tại Hà Nội, ở nam giới những loại ung thư gặp nhiều theo thứ tự từ cao xuống thấp là ung thư phổi, dạ dày, gan, đại – trực tràng, vòm; ở nữ giới là vú, dạ dày, đại – trực tràng, cổ tử cung, phổi. Tại Thành phố Ho Chí Minh ở nam giới, năm loại ung thư hay gặp nhất là phổi, gan, dạ dày, vòm họng, đại – trực tràng; ở nữ giới là ung thư cổ tử cung, vú, phổi) dạ dày và buồng trứng. Các số liệu của Ghi nhận Ung thư Hà Nội các giai đoạn 1991-1992, 1994) 1995-1996, 1996-1999 và của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-1996 cũng đã được đánh giá và công bố. Dựa trên số liệu của hai ghi nhận này, các tác giả đã ước tính gánh nặng bệnh ung thư tại Việt Nam. Tỷ lệ mắc trên người Việt Nam ước tính trong năm 2000 ớ nam giới là 91,5/100.000 và 81,5/100.000 ở nữ giới. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 141,6/100.000 ở nam giới và 101,6/100.000 ở nữ giới, ung thư phổi, dạ dày, gan là những ung thư phổ biến nhất ở nam giới. Ung thư vú, cổ tử cung và da dày la những ung thư phổ biến nhất ớ phụ nữ Việt Nam. Có sự khác biệt lớn về tình hình ung thư giữa các vùng khác nhau, đặc biệt là ung thư gan và ung thư cổ tử cung là những ung thư gặp nhiều ở miền Nam hơn miền Bắc, trong khi ung thư dạ dày và vòm họng lại gặp nhiều ở miền Bắc hơn. Nhưng nếu chỉ dựa vào số liệu của hai ghi nhận (Hà Nội và thành phố Hổ Chí Minh) để ước tính tỷ lệ mắc ung thư cho cả nước thì sẽ là thiếu chính xác và không đầy đủ vì hai địa bàn này đều là hai thành phố lớn không thể đại diện cho tất cả các vùng địa lý của Việt Nam. Do đó để có được chỉ số ước tính gánh nặng ung thư cho mỗi cộng đồng và cho cả nước cần thiết phải tổ chức thêm ghi nhận ung thư ở cả vùng đồng bằng, miền núi, nông thôn, miền biển, miền Trung, chính vì lý do đó giai đoạn 2001-2004 trong khuôn khổ của một đề tài cấp Nhà nước ở Việt Nam đã tổ chức thêm 04 ghi nhân ung thư dựa vào quần thể tại Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ) Kết quả bước đầu của các ghi nhận ung thư này cho thấy, tỷ lệ mắc thô (CR) trung bình hàng năm ở nam giới là 93,4/100.000, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) trung bình hàng năm là 124,2/100.000, các tỷ lệ này ở nữ giới là 77,4/100.000 và 85,96/100.000.

Ở nữ giới:

Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, ung thư vú đứng thứ nhất và ung thư dạ dày đứng thứ hai. Riêng tại Cần Thơ, ung thư vú đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày đứng thứ tư.

Ung thư phế quản phổi đứng thứ ba tại Hà Nội, Hải Phòng, đứng thứ tư tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và đứng thứ sáu tại Cần Thơ.

Tại Hà Nội sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới như sau: vú, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, cổ tử cung, giáp trạng, buồng trứng, gan, hạch, máu. So với giai đoạn 1996-1999, có sự thay đổi ung thư phổi từ vị trí thứ tư lên vị trí thứ ba, đổi chỗ cho ung thư đại – trực tràng, ung thư gan từ vị trí thứ sáu xuống vị trí thứ tám, ung thư giáp trạng và ung thư máu giai đoạn 1996-1999 không đứng trong mười ung thư thường gặp ở nữ giới Hà Nội nhưng đến giai đoạn này ung thư giáp trạng đứng vị trí thứ sáu và ung thư máu đứng vị trí thứ chín.

Tại Hải Phòng kết quả ghi nhận được khác với Hà Nội ở chỗ ung thư vòm là một trong 10 ung thư phổ biến nhất và không có ung thư giáp trạng trong 10 ung thư phổ biến, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Hải Phòng như sau: vú, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, cổ tử cung, gan, hạch, buồng trứng, máu, vòm.

Tại Thái Nguyên, ung thư máu đứng thứ bảy, trước cả ung thư vòm, hạch và giáp trạng. Trong khi đó, tại Hà Nội ung thư máu đứng thứ mười và tại Hải Phòng ung thư máu đứng thứ chín, tại Cần Thơ ung thư máu đứng thứ tám. Sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Thái Nguyên như sau: vú, dạ dày, đại – trực tràng, phế quản phổi, cổ tử cung, gan, máu, vòm, hạch, giáp trạng.

Riêng tại Thừa Thiên Huế, ung thư miệng và ung thư phần mềm là hai trong mười ung thư phổ biến nhất. Như vậy, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Thừa Thiên Huế như sau: vú, dạ dày, cổ tử cung, phế quản phổi, đại – trực tràng, gan, miệng, phần mềm, buồng trứng, giáp trạng.

Tại Cần Thơ, ung thư cổ tử cung đứng thứ nhất đẩy ung thư vú xuống vị trí thứ hai, ung thư gan đứng thứ ba. Trong khi đó, tại 4 tỉnh thành Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, ung thư gan chỉ đứng vị trí từ thứ sáu trở xuống, sắp xếp theo thứ tự 10 loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Cần Thơ như sau: cổ tử cung, vú, gan, dạ dày, buồng trứng, phế quản phổi, đại – trực tràng, máu, hạch, giáp trạng.

Nhìn chung, tại 5 tỉnh thành, 10 ung thư phổ biến ở nữ giới chiếm tỷ lệ từ 73,3% đến 80,5%, các loại ung thư khác chỉ chiếm 19,5% đến 26,7%.

Ở nam giới:

Ung thư phế quản phổi đứng hàng đầu tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên; đứng thứ ba tại Thừa Thiên Huế, đứng thứ tư tại Cần Thơ. Ung thư dạ dày đứng thứ hai ở hầu hết các vùng, riêng tại Thái Nguyên đứng thứ ba. Ung thư gan đứng hàng đầu tại Thừa Thiên Huế và Cần Thơ, đứng thứ hai tại Thái Nguyên, đứng thứ ba tại Hà Nội và Hải Phòng.

10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Hà Nội sắp xếp theo thứ tự như sau: Phế quản phổi, dạ dày, gan, đại – trực tràng, thực quản, vòm, hạch, máu, bàng quang, hạ họng-thanh quản. So sánh với giai đoạn 1996-1999, có sự thay đổi ung thư thực quản từ vị trí thứ tám lên vị trí thứ năm. Ung thư vòm từ vị trí thứ năm xuống vị trí thứ sáu. Ở giai đoạn 1996-1999, ung thư bàng quang và hạ họng thanh quản không nằm trong mười ung thư phổ biến, nhưng đến giai đoạn này, trong kết quả của chúng tôi, ung thư bàng quang đứng thứ chín, ung thư hạ họng đứng thứ mười.

Tại Hải Phòng và Thừa Thiên Huế, ung thư lưỡi đứng trong vị trí 10 ung thư phổ biến nhất. Tại Hải Phòng, ung thư lưỡi đứng thứ chín và tại Thái Nguyên, ung thư lưỡi đứng thứ mười. 10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Hải Phòng sắp xếp theo thứ tự như sau: phế quản phổi, dạ dày, gan, hạch, vòm, thực quản, đại – trực tràng, máu, lưỡi, bàng quang.

Tại Thái Nguyên có sự khác biệt so với các vùng khác: ung thư dương vật và ung thư xương là hai trong 10 ung thư phổ biến nhất. Như vậy, sắp xếp theo thứ tự 10 ung thư phổ biến ở nam giới Thái Nguyên như sau: phế quản phổi, gan, dạ dày, đại – trực tràng, vòm, máu, hạch, thực quản, dương vật, xương.

Ung thư gan chiếm vị trí thứ nhất tại Thừa Thiên Huế và tại Cần Thơ. Riêng tại Thừa Thiên Huế, cả hai giới, ung thư miệng và ung thư phần mềm là hai trong mười ung thư phổ biến nhất. 10 loại ung thư phổ biến ở nam giới Thừa Thiên Huế sắp xếp theo thứ tự như sau: gan, dạ dày, phế quản phổi, đại – trực tràng, hạch, miệng, phần mềm, máu, thực quản, lưỡi.

Tại Cần Thơ, ung thư tuỵ và ung thư tuyến tiền liệt là hai trong 10 loại ung thư phổ biến nhất, sắp xếp theo thứ tự 10 ung thư phổ biến ở nam giới Cần Thơ như sau: gan, dạ dày, đại – trực tràng, phế quản phổi, máu, hạch, vòm, bàng quang, tuy, tuyến tiền liệt.

Nhìn chung, tại 5 tỉnh thành, 10 ung thư phổ biến ở nam giới chiếm tỷ lệ từ 77,5% đến 84,3% tổng số ung thư, các loại ung thư khác chỉ chiếm 15,7% đến 22,5%.

Như vậy, trung bình mỗi năm ước tính ở Việt Nam có tối thiểu 78.000 ca ung thư mới mắc được ghi nhận, trong đó nam 41.500 ca và nữ 36.500 ca. Mỗi năm có khoảng 8.000 ca ung thư phổi, 7.000 ca ung thư vú, 4.000 ca ung thư dạ dày và 2.000 Ca ung thư gan…

Luận Án: Mô Bệnh Học Bệnh Ung Thư Vú Hạch Nách Dương Tính

Các Khuyến Nghị Điều Trị Ung Thư Vú Của Chuyên Gia Dựa Trên Cập Nhật Bằng Chứng Cho Nhiều Ngôn Ngữ

Trang Blog Của Kobayashi Mao Được Dịch Sang Tiếng Anh

Ung Thư Vú Và Ung Thư Buồng Trứng Di Truyền

Lớp Học Tiếng Anh Miễn Phí Dành Cho Bệnh Nhân Ung Thư Vú

Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Học Qua Ghi Nhận Ung Thư Tại Hà Nội

Tình Hình Ung Thư Tại Việt Nam Rất Nghiêm Trọng

Vì Sao Nhiều Người Việt Nam Ung Thư?

Hai Nguyên Nhân Dẫn Đến Ung Thư Việt Nam Nhiều Nhất Thế Giới

Nguyên Nhân Việt Nam Ung Thư Nhiều Nhất Thế Giới. Đọc Ngay Để Tránh Ung Thư

Ung Thư Vòm Họng Giai Đoạn Nào Chữa Được?

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), mỗi năm trên toàn cầu có khoảng 11 triệu người mới mắc và 6 triệu người tử vong do ung thư, trong đó trên 60% là ở các nước đang phát triển. Hà Nội là nơi đặt các đơn vị đầu ngành về phòng chống ung thư và cũng là nơi đầu tiên có triển khai ghi nhận ung thư [3]. Số liệu về ghi nhận ung thư ở Hà Nội sẽ phần nào đó đại diện cho số liệu ung thư miền Bắc Việt Nam. Số liệu này cũng sẽ góp phần quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà chuyên môn đề ra chiến lược thích hợp cho việc phòng và điều trị bệnh ung thư cho từng vùng tại Việt Nam. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

1. Mô tả tỷ lệ mắc ung thư tại Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2005.

2. Đề xuất một số giải pháp phòng chống ung thư cho cộng đồng dân cư Hà Nội.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả các trường hợp được chẩn đoán lần đầu là “ung thư” hoặc ” u ác tính”, bệnh bạch cầu cấp và mãn tính. Có hay không có chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, có địa chỉ thường trú tại Hà Nội và được ghi nhận từ 1/1/2001 – 31/12/2005.

2. Địa điểm nghiên cứu

25 cơ sở y tế của Hà Nội cũ bao gồm 9 Quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.

3. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu số liệu sẵn có dựa trên phương pháp ” Ghi nhận ung thư quần thể” của Hội nghiên cứu ung thư thế giới (IARC)

4. Công cụ nghiên cứu

Phiếu ghi nhận các thông tin cần thiết được thiết kế dựa trên các khuyến cáo của Hội nghiên cứu ung thư thế giới (IARC). Các thông tin cần thu thập bao gồm giới tính, tuổi, ngày chẩn đoán ung thư, cơ sở chẩn đoán, loại ung thư, các xét nghiệm đã làm

5. Phương pháp thu thập thông tin

Việc thu thập thông tin được tiến hành theo 2 cách: ghi nhận thụ động (cơ sở gửi thông tin cho cán bộ ghi nhận) và ghi nhận chủ động (cán bộ ghi nhận chủ động tới cơ sở để lấy thông tin)

Các số liệu chính được lấy từ các nguồn sau của 25 cơ sở y tế của Hà Nội, bao gồm:

+ Hồ sơ bệnh án

+ Sổ của phòng khám (đa khoa và chuyên khoa).

+ Sổ ghi kết quả tế bào, giải phẫu bệnh lý, sổ đại thể.

+ Sổ của các phòng xét nghiệm khác (nội soi, huyết học, X quang, CT – Scan, siêu âm, sinh hoá miễn dịch).

+ Sổ bệnh nhân ngoại trú.

6. Xử lý số liệu

Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm CANREG (cancer registry) sử dụng riêng cho ghi nhận ung thư. Phần mềm này có tác dụng lọc được các trường hợp bệnh không phải sống ở Hà Nội và những trường hợp cùng 1 bệnh nhân nhưng đến khám ở nhiều cơ sở y tế khác nhau. Các số liệu được lọc thô trước khi nhập và việc nhập số liệu được làm 2 lần để đảm bảo tính chính xác của số liệu.

Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam. Mục tiêu: (1) Mô tả tỷ lệ mắc ung thư tại Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2005; (2) Đề xuất một số giải pháp phòng chống ung thư cho cộng đồng dân cư Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu số liệu sẵn có theo phương pháp ghi nhận ung thư quần thể. Kết quả và kết luận: tỷ lệ mắc ung thư cao nhất tại quận Hoàn Kiếm (164,2/100.000) và thấp nhất ở quận Long Biên (37,3/100.000). Tỷ lệ mắc ung thư bắt đầu tăng nhanh từ sau tuổi 40 ở cả 2 giới. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) về tỷ lệ mắc ung thư phế quản phổi, ung thư gan, ung thư dạ dày, ung thư hạ họng thanh quản giữa nam và nữ.

Ung Thư Vú Âm Tính Với Thụ Thể Nội Tiết

Diễn Đàn Người Bệnh Ung Thư Vú Thu Hút 200 Bệnh Nhân

Phó Chủ Tịch Hội Ung Thư: Người Việt Mắc Ung Thư Cao 1 Phần Do Mâm Cơm Luôn Có Các Món Này

Phòng Tránh Ung Thư Tối Đa Với 6 Thói Quen Đơn Giản

Số Ca Ung Thư Mới Tăng Nhanh

Ung Thư Tuyến Giáp: Dịch Tễ Học Và Các Yếu Tố Nguy Cơ

Bạn Có Biết Về Bướu Giáp Nhân Và Ung Thư Tuyến Giáp

Rối Loạn Nội Tiết Và Chuyển Hóa

Bệnh Cường Giáp Là Gì? Bệnh Có Di Truyền Không?

Tại Sao Mổ U Tuyến Giáp Rồi Nhưng Vẫn Bị Tái Phát? – Câu Trả Lời Có Ngay Sau Đây!

Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Tụy

Ung thư

tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Nó là loại ung thư thường

gặp nhất của các tuyến nội tiết. Đa số ung thư tuyến giáp là loại biểu

mô (carcinôm) độ biệt hoá cao, điều trị chính yếu là phẫu thuật và có

tiên lượng rất tốt.

 

Tuyến giáp 

Tại Hoa Kỳ hàng năm ung thư tuyến giáp có khoảng 2 – 4 ca mới/100.000 dân/năm, tỷ lệ nam/nữ là 1/2,7 và tỉ lệ tử vong là 0,2 – 2,8/ 100.000 dân.

Tuổi thường gặp là trẻ hơn 20 hoặc lớn hơn 50 tuổi.

Theo ghi nhận ung thư toàn cầu 2002, ở Việt Nam, suất độ chuẩn theo tuổi là 2,7/100.000 dân đối với nữ và 1,3/100.000 đối với nam.

 Các yếu tố nguy cơ

 Bệnh học và diễn tiến

 Bệnh học

Phân loại carcinôm tuyến giáp theo nguồn gốc tế bào:

Carcinôm dạng nhú, carcinôm dạng nang: nguồn gốc từ tế bào nang giáp (90%)

Carcinôm dạng tuỷ: nguồn gốc từ tế bào cận nang (5-9%)

Carcinôm không biệt hoá: nguồn gốc từ tế bào nang giáp (1-2%)

Lymphôm: nguồn gốc từ tế bào miễn dịch (1-3%)

Sarcôm: nguồn gốc từ tế bào trung mô (<1%)

 Diễn tiến

Carcinôm tuyến giáp dạng nhú thường gặp nhất chiếm 80% ung thư

tuyến giáp. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú có kích thước nhỏ hơn hay bằng

1 cm được gọi là carcinôm kích thước nhỏ hoặc tiềm ẩn. Loại này ít có ý

nghĩa lâm sàng do diễn tiến chậm. Biểu hiện lâm sàng carcinôm tuyến

giáp thường là một nhân giáp và không gây rối loạn chức năng. Bướu có

thể lan tràn theo mạch bạch huyết trong tuyến giáp giải thích tình

trạng đa ổ.

Carcinôm dạng nhú rất ưa di căn vào hạch vùng, tuy nhiên di

căn hạch không ảnh hưởng đến tiên lượng sống còn. Các loại carcinôm

dạng nhú biệt hoá kém có diễn tiến trung gian gồm các biến thể: loại

đảo, loại tế bào cao, tế bào sáng và loại xơ hoá. Carcinôm tuyến giáp

dạng nhú ở trẻ con thường có bướu lớn và di căn hạch sớm.

Carcinôm dạng nang chiếm 5-10% ung thư tuyến giáp, thường gặp

trong vùng thiếu iod, biểu hiện lâm sàng bởi hạt giáp, và thường là đơn

ổ với vỏ bao rõ. Carcinôm dạng nang hay lan tràn qua đường máu và cho

di căn xa. Nhìn chung carcinôm dạng nang có tiên lượng xấu hơn carcinôm

tuyến giáp dạng nhú. Carcinôm tế bào Hurthle, biến thể của carcinôm

dạng nang, có độ biệt hóa kém và diễn tiến mạnh hơn.

Carcinôm dạng tuỷ, nguồn gốc từ tế bào cận nang C, tế bào này sản xuất ra calcitonin. Khoảng 25% carcinôm dạng tuỷ có tính di truyền, liên hệ đến hội chứng đa bướu nội tiết MEN 2a, MEN 2b, có đột biến gene RET và di truyền theo kiểu tế bào tự thân kiểu trội. Carcinôm dạng tuỷ di truyền có thể tăng calcitonin và CEA trong huyết thanh. Carcinôm dạng tuỷ tự phát biểu hiện lâm sàng bằng khối bướu đơn độc và ưa di căn hạch.

Carcinôm không biệt hoá hiếm gặp, chiếm 1% ung thư tuyến giáp,

thường gặp ở ngưới lớn tuổi, phát triển nhanh và cho di căn xa. Loại

này có thể bắt nguồn từ carcinôm dạng nang, diễn tiến chậm trong các

bệnh nhân ở vùng phình (bướu) giáp dịch tể thiếu iod. Hầu hết các

trường hợp gây tử vong do bướu xâm lấn tại chỗ, thường có chèn ép khí

quản.

 Chẩn đoán

 Lâm sàng

Tình huống lâm sàng thường gặp nhất là một nhân giáp không có

triệu chứng. Đánh giá lâm sàng cần liên hệ đến các yếu tố nguy cơ của

hạt giáp. Các yếu tố nguy cơ đó là:

Tuổi: trẻ hơn 15 hoặc lớn hơn 45

Giới nam

Nhân giáp lớn hơn 4 cm đường kính

Tiền sử có phơi nhiễm phóng xạ

Tiền căn gia đình

Nghi ngờ càng cao khi:

Nhân giáp lớn nhanh

Mật độ cứng khi sờ

Dính vào các cấu trúc lân cận

Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp

Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)

Có hạch cổ

Khối u nhỏ nghi ngờ ung thư phát hiện tình cờ qua siêu âm vùng cổ, qua đánh giá phình giáp đa hạt hoặc bệnh Graves.

Hạch cổ di căn tiềm ẩn của carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

 Các phương tiện chẩn đoán

 Siêu âm

Siêu âm

là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn của tuyến giáp. Phương

tiện này có lợi điểm là an toàn, không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả

để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm có thể đánh giá

chính xác kích thước, vị trí của nhân giáp và rà tìm các nhân (hạt)

giáp không sờ thấy lâm sàng. Siêu âm ngày càng được sử dụng nhiều để

hướng dẫn làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA: Fine Needle Aspiration) nhân giáp.

Các dấu hiệu của một nhân giáp nghi ngờ trên siêu âm:

Tăng sinh mạch máu ở trung tâm

Nhân giáp phản xạ âm kém

Bờ không đều

Vi vôi hoá bên trong

 Xạ hình

Xạ hình tuyến giáp dùng để đánh giá sự hấp thu iod

của các nhân giáp. Các nhân nóng ít có nguy cơ ác tính hơn các nhân

lạnh. Các hạn chế của phương tiện này là: độc hại phóng xạ, mắc tiền và

độ phân giải hình ảnh kém. Ngày nay ung thư tuyến giáp thừơng được chẩn

đoán bằng FNA còn  xạ hình tuyến giáp tiến hành khi cần trong đánh giá

một nhân  giáp.

 Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ

Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging

hay MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào

cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có chất cản quang iod cho thấy hình

ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít

tốn kém hơn MRI.

Hạn chế của CT là khi dùng chất cản quang iod làm ngăn cản khả

năng hấp thu iod trên xạ hình sau đó và có thể gây độc giáp trạng trong

các trường hợp sử dụng chất cản quang iod liều cao và ở bệnh nhân có

cường giáp tiềm ẩn. MRI có ưu điểm là không dùng chất cản quang iod và

không độc hại do phóng xạ và có thể cho thấy rõ tuyến giáp và cấu trúc

lân cận.

 Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine needle aspiration

hay FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá nhân(hạt)

giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%.

Kết quả FNA gồm: ác tính, lành tính, không xác định được và không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.

Kết quả FNA không xác định được thường là tổn thương dạng nang

có thể lành hoặc ác. Các bệnh nhân này cần được cắt thuỳ tuyến giáp

toàn phần và cắt lạnh.

Nhóm FNA không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán chiếm 10-12% khi không

dùng siêu âm hướng dẫn và tỉ lệ này được cải thiện còn 0% khi có sử

dụng hướng dẫn của siêu âm.

 Xếp hạng lâm sàng theo T,N,M

(T) Bướu nguyên phát

Tx Bướu nguyên phát không thể đánh giá được

T0 Không có bướu nguyên phát

T1 Bướu <2 cm

T4a

Bướu ăn lan khỏi vỏ bao giáp và xâm lấn bất cứ cấu trúc nào sau đây: mô

mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản, thần kinh hồi thanh quản

T4b Bướu xâm lấn màng cân trước cột sống, mạch máu trung thất hoặc bọc quanh động mạch cảnh

T4a* Bướu (bất kể kích thước) khu trú trong tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

T4b* Bướu (bất kể kích thước) ăn lan khỏi tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

(N) Hạch vùng

Nx Hạch vùng không thể đánh giá được

N0 Không có hạch di căn

N1 Hạch vùng có di căn

N1a Di căn hạch nhóm VI (hạch trước khí quản và hạch cạnh khí quản gồm hạch trước thanh quản và hạch Delphian)

N1b Di căn các hạch khác cùng bên, hai bên hoặc hạch cổ đối bên hoặc hạch trung thất trên

(M) Di căn xa

Mx Di căn xa không thể đánh giá được

M0 Không có di căn xa

Mx Có di căn xa

 Xếp giai đoạn

Carcinôm dạng nhú hoặc nang dưới 45 tuổi:

Giai đoạn 0

bất kỳ T

bất kỳ N

M0

Giai đoạn I

bất kỳ T

bất kỳ N

M1

Carcinôm dạng nhú hoặc nang, 45 tuổi và lớn hơn và carcinôm dạng tuỷ:

Giai đoạn 0

T1

N0

M0

Giai đoạn 1

T2

N0

M0

Giai đoạn III

T0

N1

M0

T1 T2 T3

N1a

M0

Giai đoạn IVA

T1 T2 T3

N1b

M0

T4a

N0 N1

M0

Giai đoạn IVB

T4b

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVC

Bất kỳ T

Bất kỳ N

M1

Carcinôm không biệt hoá (tất cả các trường hợp là giai đoạn IV):

Giai đoạn IVA

T4a

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVB

T4b

Bất kỳ N

M0

Giai đoạn IVC

Bất kỳ T

Bất kỳ N

M1

 Điều trị

 Nguyên tắc

Phẫu trị là phương pháp điều trị chính yếu cho tất cả các loại carcinôm tuyến giáp.

Liệu pháp kích tố đè nén được chỉ định cho hầu hết các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt .

Liệu pháp 131Iđược

chỉ định cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt có nguy cơ

cao như lớn tuổi (trên 45 tuổi), bướu lớn (trên 4 cm), xâm lấn vỏ bao

giáp hoặc di căn xa, sau khi đã được phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn tuyến

giáp và nạo vét hạch.

Xạ trị ngoài và hoá trị dành cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá kém hay không biệt hoá

Phương pháp

Phẫu thuật: mức độ rộng của phẫu thuật

còn bàn cãi dựa vào kích thước, mức độ xâm lấn, diễn tiến của bướu,

phẫu thuật để tạo thuận lợi cho điều trị hỗ trợ sau đó và theo dõi

bệnh.

Các loại phẫu thuật được chấp nhận hiện nay là:

Cắt thuỳ giáp toàn phần.

Cắt giáp quá bán (subtotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 2-4 gram mô giáp.

Cắt giáp gần toàn phần (neartotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 1 gram mô giáp và

Cắt giáp toàn phần.

Biến chứng phẫu thuật: liệt thần kinh hồi thanh quản và suy giáp khoảng 1%.

Nạo hạch cổ chức năng (nhóm II, III,IV, VI) thường được lựa chọn nhất

Liệu pháp kích tố đè nén: dựa vào cơ chế phản hồi ngược, dùng thyroxin liều cao để ức chế TSH , kìm hãm sự phát triển của bướu trong các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Liều dùng được cân nhắc với tác dụng phụ của điều trị trên tim mạch, xương, và độc giáp trạng nhất là ở người lớn tuổi. Nồng độ TSH trong máu được duy trì trong khoảng 0,1-0,5 mU/L ở nhóm nguy cơ thấp và nhỏ hơn 0,01 mU/l ở nhóm nguy cơ cao

131I: dựa vào cơ chế hấp thu 131I từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.

Liệu phápI: dựa vào cơ chế hấp thu iốt của các carcinôm biệt hoá tốt. Liệu pháp này được dùng hỗ trợ sau mổ để diệt mô giáp hay bướu còn sót và trong các trường hợp di căn xa có bắt iốt . LiềuI từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.

Xạ trị

ngoài dành cho các trường hợp carcinôm biệt hoá không phẫu thuật được

hoặc không bắt iod, hỗ trợ sau mổ các trường hợp carcinôm dạng tuỷ hoặc

carcinôm không biệt hoá.

Hoá trị

ít có vai trò trong carcinôm biệt hoá tốt.

Chỉ định

 Đối với carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt

Cắt trọn thuỳ chỉ định cho các trường hợp kích thước bướu nhỏ hơn hay bằng 1,5 cm và có nguy cơ thấp kèm theo thyroxin sau mổ

Cắt giáp gần toàn phần hay toàn phần dùng cho các trường hợp có nguy cơ cao. Sau đó dùng liệu pháp 131I và thyroxin sau mổ.

Nạo

hạch cổ được chỉ định khi có hạch cổ sờ thấy trên lâm sàng hay siêu âm

nghi ngờ, hoặc trong lúc mổ nghi ngờ hạch di căn có thể cắt lạnh để

quyết định điều trị.

 Đối với carcinôm dạng tuỷ

Cắt giáp toàn phần, nạo hạch cổ phòng ngừa một bên khi bướu

lớn hơn 1cm và hai bên trong các trường hợp di truyền và xạ trị chiếu

ngòai bổ túc sau mổ khi có nguy cơ tái phát cao. Không có vai trò của

liệu pháp 131I.

 Đối với carcinôm không biệt hoá

Cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ phòng ngừa nếu bướu còn khu

trú, phẫu thuật giảm thiểu bướu không có lợi vì bướu phát triển nhanh.

Xạ trị ngoài và hoá trị được chỉ định trong các trường hợp bệnh tiến xa

 Tiên lượng

Hầu hết carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Carcinôm dạng nhú

sống còn 5 năm 95% và 10 năm 90%. Carcinôm dạng nang sống còn 5 năm 90%

và 10 năm là 70%.

Các yếu tố nguy cơ tái phát: lớn tuổi, bướu to, bướu xâm lấn khỏi tuyến giáp và phẫu thuật lần đầu không đủ rộng.

Carcinôm dạng tuỷ sống thêm 5 năm và 10 năm lần lượt là 90% và 86%.

Carcinôm không biệt hoá thường gặp ở giai đoạn IV, ít có cơ hội phẫu thuật tận gốc, sống thêm trung bình là 1 năm.

Có nhiều bảng tiên lượng cho ung thư tuyến giáp biệt hoá tốt,

thế giới:

 Phân nhóm nguy cơ

Cách phân nhóm AMES (age, metastasis, extent, size) và DAMES (definition, + AMES)

AMES

Thấp

 

Cao

Tuổi

Nam <41, Nữ < 51

 

Di căn

Không có

 

Có di căn đến chỗ khác

Phạm vi

Loại nhú hay nang

nội giáp,

lan ít vào vỏ

 

Loại nhú hay nang

ngoại giáp,

lan nhiều chung quanh

Cỡ

<5 cm

 

Định nhóm

A: Tuổi trong nhóm thấp nguy cơ

không có di căn

 

A: Có di căn

 

B: Tuổi trong nhóm nguy cơ cao

không có di căn

phạm vi và cỡ trong nhóm nguy cơ thấp

 

B: Tuổi trong nhóm nguy cơ cao

và phạm vi hoặc cỡ trong nhóm nguy cơ cao

DAMES

Thấp

Trung

Cao

Định nhóm

Nguy cơ thấp AMES + nguyên bội

Nguy cơ thấp AMES + lệch bội lẻ

Nguy cơ cao AMES + lệch bội lẻ

Công thức tiên lượng AGES

(age, grade, extent, size)

Phân định

 

Thí dụ

Tuổi (năm)

x 0,05

60 tuổi x 0,05 = 3

Giai đoạn

II + 1

III – IV + 3

Giai đoạn II 1

Phạm vi

nếu ngoại giáp + 1

hay di căn +3

ngọai giáp 1

Cỡ (cm đường kính dài nhất)

x0,2

0,5cm x 0,2 = 0,1

Tổng số

 

5,1

Nguy cơ

Thấp

0-3.99

Trung

4-4.99

Cao

5-5.99

Cực cao

trên 6

Công thức MACIS

(metastasis, age, complete removal, invasion, size)

 

Phân định

 

Thí dụ

Tuổi (năm)

= 3,1 (nếu <39 )

tuổi 23 = 3.1

60 tuổi x 0,08 = 4,8

Cỡ (cm đường kính dài nhất)

0.3 x

0,5cm x 0,3 = 0,15

Mổ không sạch

+1

Mổ sạch +0

Ăn lan chung quanh

+1

Có lan ra +1

Di căn

+3

không di căn +0

Tổng số

 

5,95

Nguy cơ

Thấp

0-5,99

Trung

6-6.99

Cao

7-7.99

Cực cao

trên 8

Tiên lượng cho từng nhóm nguy cơ trên

Nguy cơ theo nhóm

Thấp (%)

Trung (%)

Cao (%)

Cực cao (%)

AMES

Cơ hội sống thêm

98

 

54

 

Hết bệnh

95

 

45

 

DAMES

Hết bệnh

92

45

0

 

Tiên lượng theo tuổi

Số TL

<4

4-5

5-6

Sống thêm 20 năm

99

80

33

13

Tiên lượng theo tuổi MACIS

Số TL

<6

6-7

7-8

Sống thêm 20 năm

99

89

56

24

 

 Tham khảo

ungthubachmai.com.vn

Tầm Soát Ung Thư Gan Ngay Khi Thấy Những Dấu Hiệu

Chăm Sóc Bệnh Nhân Ung Thư Phổi

Đoạn Cuối Trong Tiếng Tiếng Anh

Chăm Sóc Bệnh Nhân Ung Thư Gan

Dịch Vụ – Chăm Sóc Bệnh Nhân Ung Thư Giai Đoạn Cuối Tại Nhà

Dich Tễ Học Mô Tả Bệnh Ung Thư

Tổng Quan Bệnh Học Ung Thư Vòm Họng

Luận Án Nghiên Cứu Mô Bệnh Học Và Chẩn Đoán Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

Các Chuyên Gia Bệnh Học Thành Công Trong Điều Trị Ung Thư Máu

Ung Thư Nội Mạc Tử Cung

Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Ung thư ở người gồm khoảng 200 loại bệnh, nguyên nhân của các ung thư cũng khác nhau và do đó mỗi quần thể có nguy cơ khác nhau đối với mỗi loại ung thư và phụ thuộc vào những đặc điểm địa lý, văn hóa và các thói quen của quần thể đó.

Dịch tể học là môn học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc chết đối với các bệnh cùng với những yếu tố quy định sự phân bố đó.

Dịch tể học gồm 2 bộ phận chủ yếu là dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích.

Dịch tễ học mô tả: Mô tả bệnh trạng với sự phân bố tần số của chúng với các góc độ chủ thể con người, không gian và thời gian trong mối quan hệ tương tác thường xuyên của cơ thể với các yếu tố nội sinh, ngoại sinh nhằm bộ lộ ra những yếu tố căn nguyên của bệnh trạng trong quần thể để có phác thảo, hình thành những giả thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa yếu tố nguy cơ và bệnh.

Dịch tễ học phân tích: Có nhiệm vụ phân tích, kiểm định những giả thuyết hình thành từ dịch tễ học mô tả để từ đó có những kết luận rõ ràng về nguyên nhân.

Những khái niệm thường dùng trong dịch tế học mô tả

Tỉ lệ mới mắc

Được tính bằng số trường hợp mới mắc trong quần thể trên 100.000 dân tính trong một năm. Đây là chỉ số tốt nhất của tần suất mắc bệnh ung thư.

Người ta ước lượng tổng số ca ung thư mới mắc trên thế giới như sau:

Năm 1980: 6,4 triệu.

Năm 1985: 7,6 triệu.

Năm 2000: 10 triệu.

Tỉ lệ mới mắc thường được dùng để cung cấp những dữ liệu về sự xuất hiện ung thư trong quần thể dân cư theo nhóm tuổi, giới tính, chủng tộc…người ta có thể tính tỉ lệ mới mắc cho toàn bộ dân cư hoặc từng bộ phận của quần thể dân cư với những đặc trưng phân bố khác nhau.

Ung thư phổi, dạ dày, tiền liệt tuyến, đại trực tràng và gan là 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới. Ung thư vú, cổ tử cung, đại trực tràng, phổi, dạ dày là những ung thư phổ biến nhất ở nữ giới, 52% số ca nói trên xảy ra ở các nước đang phát triển.

Thống kê ung thư trên thế giới và Hà Nội hằng năm có sự giống nhau và khác nhau như sau:

Giống nhau về tỉ lệ các ung thư ở các vị trí: phổi, dạ dày, vú, trực tràng, thân tử cung.

Nhiều hơn thế giới: các ung thư gan, họng miệng, vòm, u lympho ác, bệnh bạch cầu.

Ít hơn: các ung thư tiền liệt tuyến.

Tỉ lệ tử vong

Được tính bằng số ca tử vong trên 100.000 dân mỗi năm.

Tỉ lệ này cũng được phản ánh cho toàn bộ dân cư hay cho từng giới tính, nhóm tuổi…

Tình hình tử vong do ung thư:

Các nhà dịch tễ học đã ghi nhận năm 2000, trên thế giới có 6,2 triệu ca tử vong do ung thư, là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở các nước phát triển sau bệnh tim mạch và đứng thứ ở các nước đang phát triển sau bệnh nhiễm trùng và bệnh tim mạch.

Tỉ lệ tử vong do ung thư ngày càng cao phụ thuộc vào hai nguyên nhân chính:

Yếu tố nhân chủng học:tuổi thọ của con người ngày càng tăng mà số ung thư hay gặp ở những người có tuổi.

Khả năng về chẩn đoán tiến bộ hơn nhờ đó mà nhiều loại ung thư được chẩn đoán trước lúc chết.

Tuy nhiên, ở nhiều nước, các thống kê chính thức chưa công bố mọi loại tử vong.

Ở các nước phá triển, tỉ lệ tử vong do ung thư ở nam cao hơn nữ giới do phân bố giải phẩu của ung thư hai giới:

Nam giới thường mắ các loại ung thư khó chữa khỏi cao hơn (ung thư phổi, dạ dày, thực quản, tiền liệt tuyến).

Nữ giới thường mắc các loại ung thư dể chữa khỏi hơn (ung thư vú, cổ tử cung)

Tỉ lệ mắc bệnh toàn bộ

Là con số ước tính về số người mắc ung thư (ở tất cả các vị trí ung thư hay gộp lại ở một vị trí nào đó) và những người này sống tại một thời điểm nhất định hoặc một thời điểm nhất định trong khoảng thời gian xác định.

Được tính bằng số ca ung thư trên 100.000 dân nếu căn cứ vào số dân nói chung hoặc được biểu thị như một tỉ lệ nếu căn cứ vào số ca bệnh được thống kê ở bệnh viện.

Chỉ số này dùng để đánh giá gánh nặng về bệnh tật của cộng đồng.

Tăng theo tỉ lệ mới mắc và khoảng thời gian trung bình mà bệnh kéo dài.

Sự dao động của tỷ lệ mới mắc

Xu hướng của bệnh theo thời gian

Xu hướng của bệnh theo không gian

Các nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn về tình hình mắc của từng loại ung thư giữa các vùng khác nhau trên thế giới. Sự khác biệt này có khi lên đến hàng trăm lần giữa các vùng có tỉ lệ thấp nhất và cao nhất. Ví dụ: ung thư môi: 150 lần; ung thư vòm: 100 lần; ung thư da: 185 lần và ung thư hắc tố: 154 lần. Sự khác biệt này đã cho thấy có sự khác nhau rất lớn về các yếu tố tác động tới tính mẫn cảm ung thư của các quần thể dân cư hoặc có sự khác biệt lớn về các đặc điểm môi trường trong đó bao gồm cả yếu tố dinh dưỡng, các tập tục văn hóa và thói quen cá nhân. Khi các số liệu về các yếu tố này có sẵn, sẽ có khả năng tiến hành những nghiên cứu tương quan rất quan trọng cho việc hình thành các giả thuyết về nguyên nhân.

Sự khác biệt về tình hình ung thư giữa các vùng khác nhau trong một nước cũng khá rõ rệt như khi so sánh giữa các nước với nhau. Ví dụ: tình hình mắc ung thư cổ tử cung giữa ha miền Nam và miền Bắc Việt Nam.

Sự khác biệt về tình hình mắc ung thư giữa thành thị và nông thôn rất phổ biến đối với phần lớn ung thư đã cho thấy vai trò của yếu tố môi trường có ảnh hưởng tới ung thư quan trọng thế nào.

Sự dao động của tỉ lệ mới mắc theo các yếu tố nhân khẩu học

Tuổi

Là yếu tố quan trọng nhất xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư. Đối với hầu hết ung thư loại tế bào biểu mô thì tỉ lệ mới mắc tăng rõ rệt theo tuổi.

Mối quan hệ giữa tuổi và tỉ lệ mới mắc biểu thị hiệu quả tích lủy qua quá trình tiếp xúc với các tác nhân sinh ung thư theo thời gian.

Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng quan sá được hiện tượng này.

Tỉ lệ mới mắc của bệnh bạch cầu lympho có đỉnh cao ở tuổi 3-4.

Đối với ung thư vú, sự gia tăng chậm dần sau tuổi mãn kinh và tỉ lệ mới mắc ung thư cổ tử cung rất thấp sau 50 tuổi.

Khi so sánh tỉ lệ mới mắc của các bệnh ung thư giữa các quốc gia đòi hỏi tỉ lệ này phải được chuẩn hóa theo một quần thể dân cư thuần nhất và cấu trúc tuổi của các nước rất khác nhau, dân số chuẩn được sử dụng rộng rãi nhất là dân số thế giới. Đây là một quần thể dân cư giả định có cấu trúc tuổi nằm giữa quần thể “già” của các nước phát triển và quần thể ” trẻ ” của các nước đang phát triển.

Giới

Nam giới có tỉ lệ mắc ung thư cao hơn nữ giới đối với phần lớn các loại ung thư ngoại trừ ung thư tuyến vú, đường mật, mắt, đại tràng và tuyến nước bọt. Sự khác biệt này thường được quy kết do sự khác biệt về tính mẫn cảm mà cơ chế chưa giải thích được.

Chủng tộc

Sự khác biệt về tình hình mắc ung thư của các chủng tộc khác nhau trong cùng một quốc gia cho thấy tính mẫn cảm di truyền và các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tới nguy cơ ung thư. Phối hợp các nghiên cứu di cư có thể phân lập được vai trò của từng loại yếu tố này.

Tôn giáo

Những người theo một tôn giáo nào đó có những nếp sống đặc biệt ảnh hưởng tới đặc điểm bệnh ung thư ở nhóm người này. Ví dụ tỉ lệ mắc ung thư vú cao ở các nữ tu sĩ và các bà xơ. Ung thư dương vật và ung thư cổ tử cung rất thấp ở người Do Thái do luật cắt bao quy đầu lúc còn trẻ.

Mỗi người nên thực hiện đúng quy tắc bảo hộ lao động của nghề mình đang làm sẽ hạn chế được nguy cơ mắc ung thư.

Hoàn cảnh kinh tế xã hội

Gồm nhiều yếu tố quan hệ tương hỗ: nền giáo dục, mức thu nhập, chế độ ăn uống, môi trường sống và làm việc, chất lượng các dịch vụ tư vấn và chăm sóc sức khoẻ…cũng chưa chứng minh một cách rõ rệt các chỉ số về hoàn cảnh ảnh hưởng nhiều đến nguy cơ mắc bệnh ung thư.

Các nghiên cứu trên các quần thể di cư

Cho thấy sự kết hợp vai trò của các yếu tố di truyền và môi trường đối với nguy cơ ung thư dựa vào việc so sánh nguy cơ ung thư của nhóm nhập cư với quần thể gốc và quần thể nơi nhập cư.

Nguồn số liệu

Việc xác định tình hình mắc bệnh ung thư chỉ có thể có được từ những ghi nhận ung thư dựa vào quần thể, thu thập một cách liên tục và có hệ thống các thoôg tin về mọi trường hợp ung thư mới xuất hiện trong quần thể dân cư xác định.

Việc xác định tình hình tử vong do ung thư trước hết phải có hệ thống thống kê tử vong và số liệu dân tộc học đáng tin cậy để có thể tính toán được tỉ lệ tử vong. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, chứng nhận tử vong thường khoôg có chứng nhận của thầy thuốc về nguyên nhân tử vong. Vì vậy, tại những nơi này không thể tính toán được tỉ lệ tử vong do ung thư hoặc do nguyên nhân khác, những số liệu đưa ra thấp hơn thực tếât nhiều. Từ năm 1950-1955, Tổ chức Y tế Thế giớiđã tiến hành thu thập các số liệu về tình hình tử vong do ung thư từ nhiều quốc gia và trình bày trong “World Health Statistics Annual “.

Hiện nay trên thế giới có trên 200 trung tâm ghi nhận ung thư dựa vào quần thể đang hoạt động trên cùng một nguyên tắc chuyên môn do Hiệp hội Ghi nhận Ung thư Quốc tế đưa ra và đã xuất bản cuốn sách ” Tỉ lệ mắc ung thư ở năm châu “, xuất bản 5 năm một lần. Những nơi không có điều kiện ghi nhận ung thư quàn thể thì có thể ghi nhận ung thư dựa vào số liệu của bệnh viện.

Dịch tể học mô tả đã có những tiến bộ to lớn trong những năm gần đây đã cho chúng ta nhận thức ngày một rõ hơn về sự phân bố của ung thư và các yếu tố ảnh hưởng. Điều cần thiết là phải phát triển những trung tâm ghi nhận ung thư ở Châu Á, Châu Phi và có những hướng nghiên cứu mới, sâu hơn về sự phát triển của ung thư trong quần thể.

Mô Bệnh Học Và Chẩn Đoán Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp

Kiến Thức Tổng Quan Về Bệnh Học Ung Thư Cổ Tử Cung

Sàng Lọc Và Chẩn Đoán Ung Thư Tinh Hoàn

Sinh Học 12 Bài 21: Di Truyền Y Học

Phần 1: Bệnh Học Ung Thư

Đại Dịch Ung Thư Tại Việt Nam Có Phải Là Sự Thật?

Việt Nam Sắp Sửa “đón” Đại Dịch Ung Thư Lớn Nhất Từ Trước Tới Nay

Điểm Mặt Nguyên Nhân Gây Bệnh Ung Thư Ở Việt Nam

Vạch Mặt 7 Sát Thủ Gây Ung Thư Hàng Đầu Trên Thế Giới

Những Dấu Hiệu Trên Cơ Thể Nam Và Nữ Nhắc Nhở Có Thể Chúng Ta Đã Bị Ung Thư

Chuyên Gia Y Tế ‘vạch Mặt’ Sát Thủ Gây Ung Thư Bạn Vẫn Tiếp Xúc Trước Khi Ngủ

Theo một số thống kê là số người mắc ung thư gần đây tăng lên rất nhanh với nhiều độ tuổi khác nhau. Điều đó khiến các chuyên gia băn khoăn rằng liệu đại dịch ung thư có xảy ra tại Việt Nam hay không?

Về thực trạng diễn biến ung thư ở Việt Nam hiện nay, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam – chúng tôi Nguyễn Bá Đức cho biết, bệnh ung thư đang là được coi một đại dịch ở Việt Nam.

Thu thập số liệu thống kê từ 2005-2010 cho thấy, mỗi năm nước ta lại có thêm khoảng 150.000 người mắc ung thư và khoảng 95.000 trường hợp tử vong vì bệnh này. chúng tôi Bùi Diệu – Giám đốc Bệnh viện K chia sẻ, ung thư đúng là đang diễn tiến một cách nhanh chóng và với số lượng bệnh nhân mắc phải lớn. Song gọi ung thư đang trở thành một “đại dịch” ở Việt Nam thì cũng cần xem xét lại.

BS chuyên khoa II Nguyễn Quốc Bảo (Trưởng khoa Ngoại Đầu – cổ), Bệnh viện K chia sẻ thêm: “Ung thư không phải là 1 bệnh truyền nhiễm, bệnh di truyền hay bệnh cấp tính nên coi là ” đại dịch ung thư ” thì chưa chính xác”.

Vậy “đại dịch” ung thư chắc chắn chưa phản ánh hết và chính xác tình trạng hiện nay của ung thư. Nhận định của BS.Bảo, hiện trong khoa Ngoại Đầu- cổ mà BS đảm nhiệm, số lượng bệnh nhân rõ ràng đang có chiều hướng gia tăng.

Hầu hết các bệnh ung thư ghi nhận gia tăng là các bệnh ung thư trong khoang miệng. Trong đó có ung thư bộ phận lưỡi, môi…Giải thích nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư, BS. Bảo nhận định, có rất nhiều yếu tố gây nên các căn bệnh ung thư ở mỗi bộ phận trên cơ thể.

“Hiện nay, người dân vẫn chưa ý thức rõ ràng việc sớm phát hiện tế bào ung thư quan trọng như thế nào trong quá trình điều trị. Nếu phát hiện được sớm, khả năng chữa và tìm phương án điều trị sớm sẽ có thể chữa khỏi tế bào ung thư trước khi bị phát triển lớn dẫn đến di căn”, BS. Nguyễn Quốc Bảo nhận định.

Cùng quan điểm về ” đại dịch ung thư “,BS.Trần Khoa, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Huế nhận định, số người mắc ung thư đang tăng lên đáng kể trong khoảng 10 năm trở về đây.

Nguồn:http://baodatviet.vn/doi-song/suc-khoe/ung-thu-dang-thanhdai-dich-loi-nguoi-trong-cuoc-3301411/

Bài thuốc hữu ích:

Bác sĩ Đỗ Thị Nhung

Về Tỉ Lệ Tử Vong Do Bị Bệnh Ung Thư Ở Việt Nam

Nguy Cơ Mắc Ung Thư Ở Nữ Tuổi Trung Niên

Cảnh Báo Nguy Cơ Ung Thư Do Thiếu Vitamin C Ở Người

Chuyên Gia Tiết Lộ 1 Cây Ở Việt Nam Có Khả Năng Chữa Được Ung Thư

6 Loại Thảo Dược Chữa Ung Thư Ở Việt Nam

Ung Thư Đang Là Đại Dịch Ở Việt Nam

Tỷ Lệ Ung Thư Gan Ở Việt Nam: Những Con Số Giật Mình!

Vạch Mặt Sát Thủ Gây Ung Thư Ở Việt Nam

Sự Thật Về Căn Bệnh Ung Thư Gan

Tỷ Lệ Ung Thư Gan Đáng Báo Động Tại Việt Nam Hiện Nay

Những Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Gan Tại Việt Nam

Ung thư đã trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội, trong mỗi gia đình, dòng họ, tập thể, cơ quan, xí nghiệp, trường học.

Theo số liệu thống kê giai đoạn 2005 đến 2010, cứ mỗi năm nước ta phát hiện thêm khoảng 150.000 người mắc bệnh ung thư và có khoảng 95.000 trường hợp tử vong vì bệnh này.

Trong đó, trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca ung thư gan mới phát hiện, chiếm tỷ lệ cao nhất thế giới. Những con số vừa nêu đã báo động về một đại dịch ung thư từ cách đây hơn 5 năm. Hội Ung thư Việt Nam và Bộ Y tế nhận định ung thư là vấn đề quốc gia và ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Theo Giáo sư Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, bệnh ung thư đang là một đại dịch ở Việt Nam.

“Nếu trước đây chúng ta lo lắng về một đại dịch ung thư có thể có trong tương lai thì nay đã thành sự thật. Ung thư đã trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội, trong mỗi gia đình, dòng họ, tập thể, cơ quan, xí nghiệp, trường học… Ở đâu cũng có thể thấy người thân, đồng nghiệp, họ hàng, bạn bè… chết vì ung thư. Từ nay đến 2022 tỷ lệ ung thư còn tăng cao hơn vì chúng ta chưa kiểm soát được các yếu tố nguy cơ”, GS Nguyễn Bá Đức nói.

Thức ăn bẩn độc là nguyên nhân gây ung thư?

Theo ghi nhận của Bộ Y tế và Hội Ung thư Việt Nam, căn bệnh ung thư được ghi nhận tại một số tỉnh, thành phố lớn bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hải Phòng, Huế, Cần Thơ… ngày càng gia tăng.

Loại ung thư nam giới thường gặp hiện nay là gan, phổi, dạ dày, ruột, vòm họng; ở nữ là ung thư vú, gan, phổi, cổ tử cung và dạ dày.

Giới chuyên môn cho rằng gánh nặng ung thư toàn cầu đã tăng gấp đôi từ 1974 đến năm 2000 và sẽ còn tăng gấp đôi kể từ nay đến năm 2030.

Nguyên nhân được cho là môi trường ô nhiễm và sử dụng thực phẩm, đồ uống không đảm bảo.

Bác sĩ Thịnh cho rằng, có nhiều lý do khiến số người mắc bệnh ung thư gia tăng trong những năm gần đây như số người hút thuốc, uống rượu bia tại nước ta còn cao, thực phẩm có chứa hóa chất độc hại, ô nhiễm môi trường…

Uống rượu bia nhiều, ăn thực phẩm bị mốc hoặc ăn những món chiên nướng, nướng đen, nhiều dầu béo đều có nguy cơ gây ung thư.

Bên cạnh đó, việc không kiểm soát được vấn đề vệ sinh thực phẩm, thực phẩm có chứa những hóa chất độc hại sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe nhiều thế hệ, không chỉ gây bệnh ung thư mà nhiều bệnh lý khác.

TS Nguyễn Đại Bình – Phó Giám đốc Bệnh viện K Hà Nội cho biết thêm, người Việt có rất nhiều thói quen xấu có thể dẫn đến mắc bệnh ung thư như hút thuốc lào hay ăn trầu. Nhiều người vẫn nghĩ ăn tạo ra sức đề kháng nhưng chính thuốc sợi hoặc vôi được nhai lẫn trong trầu lại là tác nhân gây ung thư.

Việt Nam Nằm Top 2 Trên Bản Đồ Ung Thư Thế Giới

Tại Sao Tỉ Lệ Tử Vong Do Ung Thư Ở Việt Nam Cao Nhất

【Cảnh Báo】 Nguy Cơ Mắc Ung Thư Ở Nữ Tuổi Trung Niên

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Bệnh Ung Thư

Làng Ung Thư Ở Việt Nam

Dịch Vụ Sinh Con Theo Ý Muốn Tại Việt Nam

Ưu Đãi 25% Các Gói Tầm Soát Ung Thư Tiêu Hóa Tại Bệnh Viện Hồng Ngọc

Giảm 20% Tất Cả Các Gói Tầm Soát Ung Thư Tại Bv Hồng Ngọc

Vacxin 5 Trong 1 Gồm Những Gì ? Tiêm Sẽ Bị Sốt Mấy Ngày?

Đã Có Kết Quả Xét Nghiệm Covid

Dịch Vụ Xét Nghiệm Tại Nhà

Dịch vụ sinh con theo ý muốn?

1. Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – Trọn gói thai sản

Thai kỳ là giai đoạn rất quan trọng đối với sức khỏe của mẹ và bé. Để bé phát triển toàn diện ngay từ khi còn trong bụng mẹ cho tới lúc chào đời, bạn cần lựa chọn chế độ dưỡng thai và có sự theo dõi chuyên nghiệp nhất.

Hiểu được nỗi lo của mỗi gia đình trẻ, Bệnh viện Đa khoa Hồng ngọc mang tới giải pháp thai sản và sinh con trọn gói với chế độ chăm sóc đặc biệt, hoàn hảo nhất, giúp cho mẹ bầu và gia đình giải tỏa hoàn toàn nỗi băn khoăn trong suốt thời kỳ mang thai:

– Được các chuyên gia sản phụ khoa đầu ngành trực tiếp thăm khám, tư vấn và theo sát suốt thai kỳ.

– Hưởng trọn vẹn quyền lợi sử dụng các dịch vụ chăm sóc thai kỳ như: siêu âm, thăm khám với các bác sĩ sản khoa và bác sĩ gây mê, xét nghiệm thường quy, theo dõi tim thai, tiêm phòng…

– Đảm bảo nắm bắt được mọi chuyển biến trong cơ thể mẹ, phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ và ngăn chặn những dấu hiệu bất lợi ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ và thai nhi

– Trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại với tiện nghi tốt nhất theo đúng tiêu chuẩn dịch vụ y tế 5 sao, chất lượng quốc tế.

– Sinh mổ chọn ngày, chọn giờ , chọn bác sĩ giỏi.

– Mọi đồ đạc cần thiết cho mẹ và bé như quần áo sơ sinh, núm ti, máy vắt sữa… đều được chuẩn bị chu đáo.

Quyền lợi khi sử dụng dịch vụ thai sản và sinh con trọn gói

Với 2 gói dịch vụ theo dõi và chăm sóc chu đáo, cùng mẹ bầu sẽ được bệnh viện đồng hành cho đến khi sinh nở bằng dịch vụ y tế chất lượng, chuyên nghiệp và trách nhiệm:

Dịch vụ thai sản trọn gói tại Hồng Ngọc: Mẹ bầu có thể đăng ký gói “thai sản” ngay từ những tháng đầu của thai kỳ (tốt nhất là sau khi thăm khám, siêu âm và làm các xét nghiệm để chắc chắn thai đã vào buồng tử cung).

Dịch vụ sinh con trọn gói tại Hồng Ngọc: Mẹ bầu nên đăng ký dịch vụ “sinh con” bắt đầu từ tuần thứ 28 của thai kỳ để đảm bảo được hưởng quyền lợi chăm sóc tốt nhất.

Thông tin liên hệ

Liên hệ ngay để được tư vấn và chăm sóc thai sản sớm nhất:

Địa chỉ: 55, Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội.

Điện thoại: (024) 3927 5568 ext: 2216 hoặc 2223

Hotline: 0916 690 018 hoặc 093 223 2022 (Trong giờ hành chính từ thứ 2 đến chủ nhật)

2. Dịch vụ sinh con theo ý muốn tại Bệnh viện Piyavate tại Việt Nam

Bạn có nhận được rất nhiều lời tư vấn, chia sẻ về phương pháp sinh con theo ý muốn của bạn bè, các cơ sở khám chữa bệnh… từ những phương pháp đơn giản đến phức tạp nhưng tỉ lệ thành công thấp, không có cơ sở khoa học thậm chí có thể gây tổn hại đến sức khỏe mà kết quả thì chẳng thấy đâu.

Bệnh viện Piyavate tại Việt Nam không những có thể giúp bạn sinh những em bé xinh xắn và khỏe mạnh như ý mà còn giúp loại trừ những trường hợp như thai nhi bị khuyết tật, thai dị tật bất thường hay do di truyền, do tuổi cao hoặc bị lỗi gen. Thậm chí, giúp những ca bệnh nhân HIV muốn sinh con toại nguyện như ý. Đặc biệt nhất là, Piyavate đã có bệnh nhân thành công ở độ tuổi cao nhất là 51.

Phạm vi khám và điều trị sâu rộng

– Điều trị hiếm muộn

– Sinh con theo ý muốn

– Chuẩn đoán di truyền học

– Chuẩn đoán dị tật ở thai nhi

– Khám thai bằng phương pháp phân tích gen/nhiễm sắc thể

– Chuẩn đoán bằng máy siêu âm bốn chiều…

Giờ đây việc sinh con trai hay sinh con gái theo ý muốn tại Bệnh viện Piyavate đã trở nên vô cùng dễ dàng. Tại Việt Nam đã có rất nhiều em bé khỏe mạnh được sinh ra theo phương pháp hiện đại tại bệnh viện Piyavate.

Địa chỉ liên hệ văn phòng hỗ trợ thông tin miễn phí bệnh viện Piyavate tại Việt Nam

– Tiếp nhận thông tin ban đầu của bệnh nhân để chuyển cho bác sĩ chuyên khoa lên phác đồ điều trị và báo giá

– Đặt lịch hẹn khám với bác sĩ

– Hỗ trợ đặt dịch vụ vé máy bay, khách sạn, visa, bảo hiểm

– Dịch vụ đón bệnh nhân tại sân bay Bangkok miễn phí

– Thông dịch viên Việt Nam miễn phí trong suốt quá trình khám, chữa và điều trị bệnh

– Dịch vụ tổ chức tour du lịch kết hợp khám, chữa bệnh

Ms Dương Thị Quỳnh Lưu

Chăm sóc và hỗ trợ khách hàng

Địa chỉ: 306/35A Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (028) 3511 2060

Hotline: 0906 04 04 60 – 0903 07 99 07

Bảng giá dịch vụ thụ tinh nhân tạo sẽ được quyết định theo từng gói lựa chọn dịch vụ và bảng giá này sẽ được các bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân khi đến thực hiện sinh con theo ý muốn tại cơ sở bạn chọn.

Top 15 Địa Chỉ Tẩy Trắng Răng Tại Hà Nội Uy Tín Nhất

Tẩy Nốt Ruồi Ở Đâu Hà Nội? Top 7 Địa Chỉ Không Thể Bỏ Qua

Tẩy Nốt Ruồi Hiệu Quả Bằng Công Nghệ Laser

Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Tế Hồng Ngọc

Review Sinh Ở Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Tế Hồng Ngọc

Y Học Cổ Truyền Việt Nam

Giới Thiệu Về Cơ Sở 3

Danh Sách Bác Sĩ Y Học Cổ Truyền Giỏi Tại Tp.hcm

1️⃣đánh Giá Top Phòng Khám Y Học Cổ Truyền Sài Gòn ™️ Hayhd.vn

Một Số Địa Chỉ Phòng Khám Đông Y Tại Hà Nội

Giới Thiệu Về Phòng Khám Cấy Chỉ Hải Thượng Lãn Ông Chữa Xương Khớp

Y học Cổ truyền Việt Nam hay còn gọi là thuốc Nam (thuốc ta) là một ngành y học thuộc Đông y có nguồn gốc từ xa xưa, được bắt nguồn từ Việt Nam thay vì từ Trung Hoa. Với lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ: Âm Dương – Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh.

Người đã đặt nền móng cho Y học cổ truyền Việt Nam là Danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng “Nam dược trị Nam nhân” – thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam), Ông được coi là người sáng lập ra nghề thuốc Nam, về sau Hải Thượng Lãn Ông là người tuyên truyền thực hiện có hiệu quả cao về nghề thuốc dân tộc này.

Trải qua hàng thế kỷ tồn tại cùng với văn hóa, xã hội Việt Nam, YHCT đã và đang góp phần không nhỏ cùng y học hiện đại đẩy lùi nhiều bệnh tật, cứu sống hàng nghìn người bệnh. Có ưu thế là điều trị có hiệu quả nhiều nhóm bệnh nguy hiểm và phức tạp như: phong tê thấp, bệnh về tiêu hóa, tiết niệu, hư nhược cơ thể, bệnh về hô hấp, phụ khoa, nhi khoa và một số bệnh mạn tính mà lại không gây tác dụng phụ, trong đó các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc chiếm tới 30%, điển hình là châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh… Tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh đạt hơn 70%. Các phòng chẩn trị YHCT ngày càng thu hút nhiều người đến khám và điều trị. Tại Hà Nội, có tới 1/10 dân số tìm đến đông y. Điều này khẳng định, YHCT còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc giảm gánh nặng cho các bệnh viện.

Hiện nay, ngành y học cổ truyền nước ta đang cần nguồn nhân lực lớn, sau khi học bác sỹ y học cổ truyền ra trường các em sinh viên có thể làm việc tại các phòng khám, trung tâm, bệnh viện y học cổ truyền, các khoa y học cổ truyền của bệnh viện tỉnh, huyện, phòng, trung tâm y tế….

Do đó, chọn học và theo đuổi ngành y học cổ truyền có rất nhiều thuận lợi trong bối cảnh xã hội hiện nay bởi ngành y học cổ truyền phương Đông đang được các quốc gia phương Tây tìm hiểu, nghiên cứu để điều chế các thuốc, dược phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên theo phương pháp chữa bệnh của người phương Đông từ xa xưa. Chính vì vậy, cơ hội của các bạn theo học ngành này là rất lớn.

 

 

Được thành lập năm 1992, Trường Trung cấp Y dược Tuệ Tĩnh Hà Nội là trường tư thục đầu tiên trên cả nước đào tạo Y sĩ YHCT. Trường có đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, có trình độ nghiệp vụ sư phạm vững vàng, số lượng tương đối ổn định tâm huyết với công tác đào tạo.

Chính vì vậy chất lượng đào tạo của Nhà trường trong nhiều năm qua đã đáp ứng nhu cầu sử dụng của các cơ sở Y tế, luôn luôn là niềm tin của học sinh và có  nhiều uy tín với các cơ sở y tế trong cả nước. Trải qua 25 năm hình thành và phát triển, nhà trường đã đào tạo và trao quyết định tốt nghiệp hơn 25.000 cán bộ Y tế đang hoạt động tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc.

Khoa Y Học Dân Tộc, Cơ Cấu Tổ Chức

Khoa Y Dược Cổ Truyền

Cổng Việc Làm Nghề Sales

Giới Thiệu Về Trung Tâm Đông Y Chân Nguyên

Danh Sách Các Tiệm Thuốc Bắc Ở Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh

Nguyên Nhân, Dịch Tễ, Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Phổi

Mắc Ung Thư Gan Bị Phù Chân Phải Làm Sao?

Biểu Hiện U Phổi Ác Tính Giai Đoạn Cuối Như Thế Nào? Tìm Hiểu Ngay!

Ung Thư Phổi Giai Đoạn Cuối Cần Lưu Ý Những Gì?

Ung Thư Phổi Có Mấy Loại?

Đừng Bỏ Qua: Ung Thư Phổi Có Biểu Hiện Nhận Biết Như Thế Nào?

“Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Trong khói thuốc lá có khoảng 4000 hoạt chất gây độc hại cho cơ thể, đặc biệt chất 3-4 benzopyzen là chất gây ung thư rất rõ trong thực nghiệm. Vì vậy có những bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi nhưng họ không hút thuốc, mà có thể họ đã tiếp xúc với một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hút thuốc lá thụ động, hít phải khói thuốc lá trong thời gian dài). Tại bệnh viện K, ghi nhận không ít những bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ngày trong nhiều năm. Cùng với đó, việc hút thuốc lào cũng là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây ung thư phổi.” – chúng tôi Nguyễn Khắc Kiểm, Trưởng khoa Ngoại lồng ngực, Bệnh viện K.

Hút thuốc bị động làm tăng mắc ung thư phổi lên 1,5 lần so với người tiếp xúc với khói thuốc. Ở những người bỏ hút thuốc, nguy cơ mắc ung thư phổi giảm so với người tiếp tục hút thuốc, lợi ích lớn nhất gặp ở những người dừng hút thuốc trước 30 tuổi. Tuy vậy, những người đã dừng hút thuốc, nguy cơ mắc ung thư phổi vẫn tăng theo tuổi với tốc độ cao hơn những người chưa bao giờ hút thuốc.

Tia xạ: Những người đã từng tiếp xúc, phơi nhiễm phóng xạ thì làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi hơn những người chưa từng tiếp xúc.

Yếu tố môi trường nghề nghiệp: Các yếu tố môi trường nghề nghiệp như amiang, radon, kim loại (asen, crom, niken), bức xạ ion hoá và hydrocarbon thơm đa vòng cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi.

Bệnh xơ phổi: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ ung thư phổi tăng khoảng 7 lần ở những bệnh nhân xơ phổi và dường như không phụ thuuộc vào việc hút thuốc.

Nhiễm HIV: Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở những bệnh nhân nhiễm HIV tăng so với những bệnh nhân không bị nhiễm.

Yếu tố di truyền: Yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến cả nguy cơ và tiên lượng bệnh ung thư phổi. Mặc dù yếu tố di truyền của ung thư phổi vẫn đang được nghiên cứu.

Sàng lọc và phát hiện sớm có vai trò quyết định hiệu quả điều trị ung thư phổi

Lạm dụng rượu, bia: những người uống rượu, kèm theo hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi.

Chế độ ăn uống: Chế độ ăn uống có các chất chống oxy hoá, rau cải, phytoestrogen có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi, nhưng chưa được chứng minh rõ ràng.

Ở giai đoạn đầu, hầu hết trường hợp mắc ung thư phổi đều không có triệu chứng điển hình nên rất khó nhận biết, dễ gây nhầm lẫn với một số bệnh lý đường hô hấp khác, dẫn đến việc điều trị không đúng phương pháp. Cho tới khi một số triệu chứng bộc lộ rõ rệt như ho dai dẳng, ho ra máu, khó thở, đau tức ngực… thì phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

Phát hiện sớm ung thư phổi sẽ giúp cho quá trình điều trị đạt hiệu quả tối đa. Vì vậy việc phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư phổi luôn được đặt lên hàng đầu.

Sàng lọc là tìm kiếm ung thư trước khi bệnh nhân có bất kỳ triệu chứng gì. Sàng lọc giúp phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm, giúp tạo điều kiện thuận lợi và hiệu quả cao hơn cho việc điều trị. Bởi vì khi bệnh nhân đã có triệu chứng, ung thư có thể đã bắt đầu lan rộng.

Thông tin từ khoa Nội 2, Bệnh viện K

Trước đây việc sàng lọc, phát hiện sớm ung thư phổi không được khuyến cáo vì chụp XQ phổi và làm tế bào học đờm chưa chứng minh làm giảm được tỉ lệ tử vong do ung thư phổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng một tỉ lệ lớn ung thư phổi được phát hiện khi chụp cắt lớp vi tính (CT) là những khối u ở giai đoạn đầu, có tiên lượng tốt, chứng minh làm giảm 20% tỉ lệ do ung thư phổi ở những người hút thuốc nặng được sàng lọc hàng năm trong 3 năm.

Những người có nguy cơ mắc ung thư phổi cao như hút thuốc lâu năm, hoặc với những người đã bỏ thuốc nhưng trong vòng 15 năm trước đó, tuổi từ 55-74 được khuyến cáo sàng lọc phát hiện sớm ung thư phổi bằng chụp CT ngực liều thấp. Nếu kết quả sàng lọc có bất thường, bệnh nhân có thể cần phải làm thêm các xét nghiệm để chẩn đoán xác định.

Triệu Chứng Ung Thư Phổi Bị Tràn Dịch

Ung Thư Phổi Có Thể Di Truyền Không

Ung Thư Phổi Có Di Truyền Không?

【Tìm Hiểu】Bệnh Ung Thư Phổi Và Các Giai Đoạn

Nguyên Nhân Và Triệu Trứng Mắc Bệnh Ung Thư Phổii

Cơ Hội Điều Trị Miễn Dịch Cho Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Ngay Tại Việt Nam

Ung Thư Phổi Có Mổ Được Không?

Thông Số Ung Thư: Ung Thư Phổi Và Phế Quản

Ung Thư Phổi Thứ Phát (Chẩn Đoán Và Điều Trị)

Các Thực Phẩm Ngăn Ngừa Ung Thư Phổi Tái Phát

Triệu Chứng Ung Thư Phổi Tái Phát

Đối với đa số bệnh nhân và người nhà, ung thư phổi là một nỗi ám ảnh không thể thoát khỏi một khi được chuẩn đoán bệnh. Nhiều cuộc khảo sát và điều tra đã đưa ra con số đáng quan ngại về tỷ lệ ung thư phổi ở nước ta trong những năm gần đây. Theo đó, mỗi năm, cả nước có hơn 20.000 bệnh nhân ung thư phổi mới được phát hiện và có tới 17.000 trường hợp tử vong. Trong số các trường hợp ung thư phổi nhập viện, 62,5% không còn khả năng phẫu thuật.

Theo các chuyên gia y tế, ung thư phổi là một trong những căn bệnh nguy hiểm do khối u ác tính gây ra. Bệnh ung thư phổi có 2 loại chính là ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Tùy theo loại ung thư mà bệnh sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau

Cũng bởi những lý do như trên, bất kỳ một tiến bộ khoa học nào trong điều trị bệnh ung thư phổi cũng là một mối quan tâm đặc biệt của các bác sĩ Việt Nam, trong đó có việc áp dụng điều trị miễn dịch với chế phẩm có tên là CIMAvax EGF cho ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. CIMAVAx EGF do các nhà khoa học tại Trung tâm Miễn dịch Phân tử Cuba (CIM) phát minh ra.

Đây là loại thuốc điều trị ung thư phổi theo cơ chế miễn dịch đầu tiên trên Thế giới được áp dụng trên lâm sàng. Khi đưa thuốc này vào cơ thể, các kháng nguyên trong thuốc kích thích cơ thể bệnh nhân sinh ra kháng thể kháng lại một yếu tố có vai trò điều khiển hoạt động của tế bào ung thư. Do đó tế bào ung thư sẽ không phát triển được và bị hệ thống miễn dịch của cơ thể tiêu diệt. Cơ chế của thuốc giống như tiêm vắc xin nên người ta còn gọi thuốc này là “vắc xin” điều trị.

Phương pháp điều trị miễn dịch này được đánh giá là an toàn qua các thử nghiệm lâm sàng từ pha I, II, III và IV tại Cuba, ít tác dụng phụ và được chỉ định sau khi kết thúc điều trị căn bản bằng hóa chất, xạ trị nhằm chống tái phát, kiểm soát bệnh.

Từ sau khi Cu Ba công bố thành công trong việc áp dụng miễn dịch liệu pháp bằng chế phẩm CIMAVax EGF trong điều trị bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về chế phẩm này và cũng có nhiều bệnh nhân đã tới Cuba để được điều trị, trong đó có những bệnh nhân từ Việt Nam.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội đến chữa bệnh tại đất nước cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất này.

Sau một thời gian xem xét, đánh giá, xin phép cơ quan quản lý, Bệnh viện Bưu điện đã lần đầu tiên áp dụng chế phẩm miễn dịch CIMAVax EGF cho điều trị bệnh nhân ung thư phổi loại không phải tế bào nhỏ nhằm đánh giá tính an toàn của chế phẩm này.

Nhờ có việc áp dụng CIMAvax EGF điều trị ung thư phổi tại Việt Nam mà các bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo này đã có thêm một lựa chọn, một phương mới để điều trị bệnh.

Ngoài ra, việc áp dụng chế phẩm công nghệ cao trong điều trị bệnh cũng góp phần giúp cho các bác sỹ Việt Nam được tiếp cận thực tế với những phương pháp điều trị tân tiến mà trước kia họ mới chỉ biết thông tin qua sách vở, internet.

Tuy nhiên, đây là một loại thuốc có chi phí khá cao nên việc lựa chọn phương pháp điều trị này chỉ phù hợp với những bệnh nhân có điều kiện kinh tế phù hợp.

Thông tin tham khảo có thể liên lạc với Ths. Bs Phạm Trường Giang, Trưởng khoa Ngoại Tổng hợp

( đơn vị điều trị Ung thư) – Bệnh viện Bưu điện; điện thoại di động: 0906528686.

20 Bệnh Viện Xét Nghiệm Ung Thư Phổi Ở Hà Nội, Hcm Khám Tốt Nhất

Viêm Phổi Ở Người Già Có Đáng Lo Không?

Điều Trị Ung Thư Phổi Ở Người Già

Điều Trị Ung Thư Phổi Ở Đâu Tốt Nhất Hà Nội Và Tp. Hồ Chí Minh?

Khám Ung Thư Phổi Ở Đâu Hà Nội?