Top #10 Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Brandsquatet.com

Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ

--- Bài mới hơn ---

  • Tagrisso, Osimertinib Thuốc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ
  • Tổng Hợp Các Thuốc Đích Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Thuốc Đích Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Có Đột Biến Gen Alk
  • Về Thuốc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ (Nsclc) Có Đột Biến Alk (+)
  • Benny 72 Tuổi, Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2B
  • Sau khi phát hiện và chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ, việc điều trị phải được thực hiện theo nguyên tắc, mục tiêu quy định của từng giai đoạn bệnh lý và các tình huống đặc biệt.

    Đồng thời theo dõi sau điều trị, tiên lượng tiến triển, tầm soát và phòng ngừa bệnh cũng cần quan tâm nhằm phục hồi, bảo đảm sức khỏe cho người bệnh.

    Nguyên tắc và mục tiêu điều trị

    Nguyên tắc điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ được thực hiện cá thể hóa theo từng bệnh nhân, vì vậy cần cân nhắc tất cả các yếu tố gồm: yếu tố bệnh lý dựa vào thể mô bệnh học và sinh học phân tử, giai đoạn bệnh lý, diễn tiến sau các điều trị trước… Yếu tố bệnh nhân dựa vào thể trạng, tuổi tác, bệnh kết hợp, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, nguyên vọng của người bệnh… Yếu tố về điều kiện trang thiết bị, nguồn lực của cơ sở y tế…

    Mục tiêu điều trị được phân theo từng giai đoạn như: Điều trị tiệt căn nhằm đạt được mục tiêu chữa khỏi bệnh sớm và thực hiện trong giai đoạn sớm khu trú tại chỗ, tại vùng thuộc giai đoạn I, II, IIIA. Điều trị mang tính giảm nhẹ, tăng chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống được áp dụng cho giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại vùng hoặc tái phát di căn thuộc giai đoạn IIIB, IIIC, IV. Đối với giai đoạn còn khu trú, phẫu thuật và xạ trị là phương pháp điều trị mang tính tiệt căn. Giai đoạn tiến triển gồm tái phát phát, di căn việc điều trị chủ yếu mang tính làm dịu triệu chứng và kéo dài thời gian sống. Giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại vùng hiện nay đang nghiên cứu áp dụng phương cách điều trị đa mô thức, trong đó phương thức hóa trị – xạ trị đồng thời được áp dụng ở nhiều nơi.

    Đây là kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn với các ưu điểm như có thời gian nằm viện ngắn, ít đau sau mổ, bệnh nhân hồi phục nhanh nhưng cần phải chọn lọc bệnh nhân thật kỹ lưỡng; phương pháp VATS cho kết quả sống và tỷ lệ tái phát thấp tương đương như phẫu thuật cắt thùy mở; bệnh nhân có kết quả sống 5 năm khoảng 70 – 80% cho giai đoạn bệnh lý IA, 60% cho giai đoạn bệnh lý IB và 40 – 50% cho giai đoạn bệnh lý II; bệnh nhân N2 (giai đoạn IIIA) khu trú một nhóm hạch cũng đạt tỷ lệ 25 đến 30% sống 5 năm sau VATS; tỷ lệ tái phát sau 5 năm cũng rất thấp theo kích thước khối u với 5% cho giai đoạn T1 và 9% cho giai đoạn T2.

    Đối với các trường hợp có thể phẫu thuật: phẫu thuật triệt để theo yêu cầu bao gồm việc cắt bỏ trọn thùy phổi mang khối u đạt diện cắt âm tính (không có tế bào bướu) lấy đi từ 16 đến 20 hạch thuộc ít nhất 3 nhóm hạch (2 từ trung thất cùng bên và đối diện) và rửa màng phổi cùng bên; đôi khi cần thiết phải cắt cả hai thùy phổi kế cận hoặc một bên phổi; nguy cơ tử vong thường chiếm khoảng 3% sau phẫu thuật cắt thùy và 7% sau cắt một bên phổi. Đối với các tổn thường nhỏ dưới 3cm ở ngoại biên với mô học là ung thư biểu mô tại chỗ AIS (adenocarcinoma in situ) hoặc xâm lấn tối thiểu MIA (minimally invasive adenocarcinoma), phẫu thuật cắt hình chêm (wedge resection) với bờ diện cắt âm tính cũng cho kết quả sống còn lâu dài; phẫu thuật cắt hình chêm cho các tổn thương trung tâm thường có nguy cơ tái phát tại chỗ cao hơn từ 3 – 5 lần phẫu thuật cắt thùy. Kỹ thuật cắt qua rôbốt đang được nghiên cứu và cũng cho kết quả ban đầu đầy hứa hẹn với ít di chứng và kết quả lâu dài về mặt ung bướu học tương đương.

    Hóa trị tân bổ trợ trước khi mổ cho các trường hợp ung thư phổi giai đoạn còn khu trú nhằm hai mục đích là tiêu diệt các di căn vi thể đã có và giảm kích thước tổn thương tạo thuận lợi cho phẫu thuật tiếp theo. Hóa trị tân bổ trợ là lựa chọn tiêu chuẩn trong điều trị giai đoạn IIIA, vai trò này chưa được xác định rõ trong các giai đoạn sớm hơn.

    Hóa trị bổ trợ sau mổ đã được nghiên cứu nhiều và các nghiên cứu cho kết quả khác nhau. Hóa trị bổ trợ hiện nay được chỉ định sau phẫu thuật cho các trường hợp ở giái đoạn từ IB trở lên và thường được thực hiện 4 chu kỳ với phối hợp thuốc có platin (cisplatin được ưu tiên chọn lựa so với carboplatin)

    Xạ trị bổ trợ thực hiện sau mổ đối với các trường hợp ung thư phổi giai đoạn sớm cũng đã được nghiên cứu và cũng còn nhiều bàn cãi. Xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật giai đoạn I và II không được xác nhận có ích lợi. Trong thực hành lâm sàng, xạ trị bổ trợ thường được chỉ định sau mổ cho một số trường hợp có yếu tố nguy cơ cao tái phát tại chỗ, tại vùng như: xâm lấn trung thất, di căn nhiều hạch hay nhiều nhóm hạch, xâm lấn vỡ vỏ bao hạch, hạch di căn có kích thước lớn, bờ diện cắt xâm lấn đại thể, bờ diện cắt còn tế bào ung thư. Liều xạ trị thường dùng 54Gy phân bố qua 27 đến 30 phân liều. Trong trường hợp điều trị bổ trợ bao gồm cả hóa trị và xạ trị thì xạ trị được tiến hành sau hóa trị.

    Đối với các trường hợp không thể phẫu thuật: ung thư phổi giai đoạn khu trú không thể phẫu thuật tiệt căn do nguy cơ phẫu thuật có ảnh hưởng cao thì có thể cân nhắc áp dụng một số biện pháp điều trị khác như: xạ trị tiệt căn được lựa chọn điều trị thay thế cho các tổn thương còn khu trú và có thể tiến hành theo kỹ thuật xạ trị quy ước hoặc xạ trị định vị thân SBRT (stereostatic body radiotherapy); xạ trị quy ước thường thực hiện với liều xạ trị mỗi ngày 2Gy cho mỗi phân liều trong 5 ngày mỗi tuần với tổng liều ít khi vượt quá 70Gy, tỷ lệ kiểm soát bướu khoảng 50%; xạ trị định vị thân SBRT mới được phát triển nghiên cứu và chưa phải là khuyến cáo thường quy, kỹ thuật xạ trị nhằm đưa một liều chiếu xạ vào vị trí chính xác qua một số ít phân liều với 3 – 5 lần chiếu xạ nhằm đạt liều tương đương sinh học BRDs (biologically equivalent doses) cao hơn 100Gy trong thời gian ngắn từ 1 đến 2 tuần, hiệu quả kiểm soát bướu tại chỗ lên tới 85 – 90%, kỹ thuật SBRT với liều 18 đến 20 Gy mỗi phân liều an toàn và hiệu quả cho các tổn thương ngoại biên nhưng thường kèm theo tác dụng phụ nặng độ 3 khi dùng cho các tổn thương trung tâm, liều thích hợp thường được khuyến cáo sử dụng từ 10 đến 12 Gy mỗi lần trong 3 hoặc 4 phân liều.

    Điều trị giai đoạn tiến triển tại chỗ

    Giai đoạn tiến triển tại chỗ được gọi là giai đoạn IIIA và IIIB, trong giai đoạn này việc điều trị thường được cá thể hóa theo từng trường hợp bệnh nhân cụ thể với nhiều mô thức áp dụng lần lượt hoặc đồng thời gồm xạ trị, phối hợp hóa trị và xạ trị đồng thời. Xạ trị có một thời được xem là mô thức điều trị chuẩn cho ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa tại chỗ thuộc giai đoạn IIIA và IIIB nhưng kết quả kiểm soát tại chỗ thường kém và tỷ lệ sống còn thấp; xạ trị tăng phân liều (CHART) có vẻ cải thiện được kết quả sống còn nhất là khi phối hợp với hóa trị, nhiều nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhằm tăng liều xạ vào bướu đồng thời giảm độc tính mô chung quanh.

    Phối hợp hóa trị và xạ trị đồng thời được khuyến cáo sử dụng như một xử trí tiêu chuẩn cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không phẫu thuật được có chỉ số hoạt động cơ thể ECOG 0/1 và không bị giảm hơn 5% trọng lượng cơ thể; kỹ thuật xạ trị bao gồm xạ trị một phân liều mỗi ngày với tổng liều 74Gy thường kèm theo kết quả sống còn thấp hơn 60Gy, hóa trị kèm theo thường là platin hoặc bộ đôi platin với các thuốc thế hệ III như taxane, vinorelbine…; các thuốc nhắm trùng đích mới như cetuximab, gefitinib… hiện chưa xác định được vai trò trong phối hợp với xạ trị.

    Tầm soát ung thư phổi bằng cách chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp

    Bệnh nhân có đột biến EGFR (epidermal growth factor receptor) dạng hoạt động đa số thường gặp là đột biến mất đoạn exon 19, đột biến điểm L851R…; điều trị bước một có thể chọn lựa một trong các thuốc ức chế EGFR tyrosin kinase thế hệ I hoặc II gồm Gefitinib 250mg/ngày, Erlotinib 150mg/ngày, Afatinib 40mg/ngày, Osimertinib 80mg/ngày; thuốc được dùng kéo dài cho đến khi bệnh tiến triển, trong trường hợp này bệnh nhân cần được xét nghiệm tìm đột biến kháng thuốc mắc phải T790M qua các xét nghiệm sinh học phân tử, bệnh nhân có đột biến T790M cần được điều trị bằng thuốc ức chế EGFR tyrosin kinase thế hệ III như Osimertinib. Bệnh nhân có đột biến dạng tái sắp xếp ALK (anaplastic lymphoma kinase) thì điều trị bước một bằng Crizotinib, Ceritinib hoặc Alectinib.

    Các đột biến hiếm gặp cần điều trị theo đích phân tử đặc hiệu, bệnh nhân không có các đột biến đích và có tăng biểu hiện PD L1 (progammed death ligand1) trên 50% có thể được điều trị bước một với thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch pembrolizumab. Bệnh nhân không có các đột biến đích, việc điều trị đặc hiệu toàn thân dựa vào hóa trị bộ đôi có platin phân theo hai nhóm lớn là ung thư biểu mô tế bào vảy và không vảy; nhóm tế bào vảy không sử dụng pemetrexed, bevacizumab; nhóm không tế bào vảy cân nhắc phối hợp thêm bevacizumab với hóa trị theo các yếu tố lâm sàng và hình ảnh như bướu ở vị trí ngoại biên, không triệu chứng ho ra máu, không hình ảnh phá hủy hang trung tâm, không xâm lấn mạch máu lớn.

    Điều trị các tình huống đặc biệt

    Các trường hợp đặc biệt bao gồm di căn xương và di căn não. Nếu bị di căn xương, việc xử trí thực hiện bằng cách điều trị đặc hiệu toàn thân, điều trị triệu chứng hướng xương với acid zoledronic 4mg truyền tĩnh mạch mỗi 2 đến 4 tuần, điều trị tăng cường tại chỗ với xạ thị tại chỗ hoặc dược chất phóng xạ toàn thân; dùng các biện pháp phẫu thuật thần kinh, chỉnh hình nhằm cố định xương hoặc giải áp chèn ép tủy…

    Nếu bị di căn não, việc xử trí thực hiện bằng cách điều trị đặc hiệu toàn thân; điều trị triệu chứng phù não, chống động kinh; điều trị tăng cường tại chỗ với xạ phẫu dao gamma quay có hoặc không phối hợp xạ trị toàn bộ não 20Gy/5 phân liều hoặc 30Gy/10 phân liều, trong đó xạ trị toàn bộ não là quan trọng trong tình huống di căn não nhiều ổ.

    Theo dõi sau điều trị

    Sau điều trị, lịch trình theo dõi và xét nghiệm đánh giá thay đổi tùy theo bệnh cảnh lâm sàng. Ở giai đoạn sớm, cần theo dõi tái phát, di căn và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị bổ trợ; lịch trình thực hiện cứ mỗi 2 tháng một lần trong năm đầu, mỗi 3 tháng một lần trong 2 năm sau và mỗi 6 tháng một lần từ năm thứ tư; dùng phương tiện đánh giá gồm khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

    Ở giai đoạn tiến xa tại chỗ, tại vùng; cần theo dõi bệnh tiến triển, di căn và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị; lịch trình thực hiện cứ mỗi 2 tháng một lần trong năm đầu, mỗi 3 tháng một lần trong các năm sau; dùng phương tiện đánh giá gồm khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

    Ở giai đoạn tiến xa, di căn; cần theo dõi bệnh tiến triển, di căn mới và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị đích; lịch trình thực hiện mỗi tháng 1 lần trong năm đầu, mỗi 2 tháng một lần trong các năm sau; dùng phương tiện đánh giá bằng khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

    Tiên lượng tiến triển bệnh

    Các yếu tố tiên lượng bao gồm: xác định giai đoạn là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất, giai đoạn I và II phẫu thuật được có tiên lượng sống 5 năm với tỷ lệ từ 50 – 80%, giai đoạn III tỷ lệ này giảm xuống còn từ 20 đến 40%, riêng giai đoạn IV có tỷ lệ sống 5 năm rất thấp dưới 5%. Chỉ số hoạt động cơ thể có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn tiến xa. Một yếu tố tiên lượng xấu là sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 3 tháng, bạch cầu hạt tăng cao. Yếu tố sinh học phân tử ghi nhận tiên lượng xấu với đột biến K-ras, tăng biểu hiện EGFR (c-erbB-1), VEGF (vascular endothelial growth factor), c-Met đột biến p53…; tiên lượng tốt với đột biến hoạt hóa EGFR…

    Tầm soát và phòng ngừa ung thư phổi

    Lời khuyên của thầy thuốc

    Tầm soát ung thư phổi bằng cách chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp với liều 1,5 mSv so với 8 mSv cho chụp cắt lớp điện toán lồng ngực thường quy có thể được sử dụng để tầm soát phát hiện sớm các tổn thương nhỏ ở phổi trên đối tượng người có nguy cơ cao mắc ung thư phổi như người lớn tuổi, tiền căn hút thuốc lá hơn 30 gói mỗi năm.

    Phòng ngừa ung thư phổi với biện pháp hữu hiệu nhất là phòng chống tác hại ảnh hưởng của việc hút thuốc lá.

    Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm tỷ lệ khoảng 85% các trường hợp ung thư phổi. Ở nước ta, ung thư phổi đứng hàng thứ hai sau ung thư gan, nam giới bị mắc nhiều hơn nữ giới; ước tính mỗi năm có khoảng hàng chục ngàn người mắc bệnh và tỷ lệ tử vong chiếm khoảng 89% các trường hợp do phần lớn đều phát hiện muộn. Vì vậy sớm phát hiện qua việc tầm soát, chẩn đoán sớm ở các đối tượng có nguy cơ và điều trị kịp thời là vấn đề cần được quan tâm. Điều trị bệnh phải bảo đảm các nguyên tắc, mục tiêu quy định và căn cứ vào các giai đoạn tiến triển để xử trí can thiệp phù hợp mới đạt được hiệu quả tốt.

    BS. NGUYỄN TRÂM ANH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Y Tế Nào Giúp Chẩn Đoán Bệnh Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ?
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Cập Nhật Năm 2022 2022
  • Lựa Chọn Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Như Thế Nào?
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Là Gì? Sống Được Bao Lâu?
  • Hóa Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Sống Được Bao Lâu?
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Và Những Điều Cần Biết
  • Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (Nsclc)
  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ: Những Điều Nên Biết
  • Cách Chữa Ung Thư Phổi Kết Hợp Giữa Tây Y, Đông Y Và Khí Công.
  • Câu Hỏi 326 : Ung Thư Phổi
  • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ là một bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) hình thành trong các mô của phổi.

    Có hai loại ung thư phổi chính: ung thư phổi không phải tế bào nhỏung thư phổi tế bào nhỏ .

    Xem tóm tắt PDQ sau đây để biết thêm thông tin về ung thư phổi:

    • Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ
    • Hủy bỏ bất thường của điều trị trẻ em
    • Phòng chống ung thư phổi
    • Sàng lọc ung thư phổi

    Mỗi loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có các loại khác nhau của ung thư tế bào. Các tế bào ung thư của từng loại phát triển và lây lan theo những cách khác nhau. Các loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được đặt tên cho các loại tế bào được tìm thấy trong ung thư và cách các tế bào nhìn dưới kính hiển vi :

    • Ung thư biểu mô tế bào vảy: Ung thư hình thành trong các tế bào mỏng, phẳng lót bên trong phổi. Đây còn được gọi là ung thư biểu bì.
    • Ung thư biểu mô tế bào lớn: Ung thư có thể bắt đầu ở một số loại tế bào lớn.
    • Adenocarcinoma: Ung thư bắt đầu trong các tế bào xếp thành phế nang và tạo ra các chất như chất nhầy .

    Bất cứ điều gì làm tăng khả năng mắc bệnh của bạn được gọi là yếu tố rủi ro . Có một yếu tố rủi ro không có nghĩa là bạn sẽ bị ung thư; không có các yếu tố rủi ro không có nghĩa là bạn sẽ không bị ung thư. Nói chuyện với bác sĩ của bạn nếu bạn nghĩ rằng bạn có thể có nguy cơ bị ung thư phổi.

    Các yếu tố nguy cơ ung thư phổi bao gồm:

    • Hút thuốc lá, ống , hoặc xì gà , bây giờ hoặc trong quá khứ. Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư phổi. Một người bắt đầu hút thuốc càng sớm, một người càng hút thuốc thường xuyên và càng nhiều năm hút thuốc, nguy cơ ung thư phổi càng cao.
    • Được tiếp xúc với khói thuốc lá.
    • Tiếp xúc với amiăng, asen , crom, berili, niken, bồ hóng hoặc nhựa đường ở nơi làm việc.
    • Tiếp xúc với bức xạtừ bất kỳ điều sau đây:
      • Xạ trịvào hoặc ngực.
      • Radontrong nhà hoặc nơi làm việc.
      • Các xét nghiệm hình ảnhnhư quét CT .
      • Bức xạ bom nguyên tử.
    • Sống ở nơi có ô nhiễm không khí.
    • tiền sử gia đìnhbị ung thư phổi.
    • Bị nhiễmvới virus HIV (HIV).
    • Uống bổ sung beta carotenevà là người hút thuốc nặng.

    Tuổi già là yếu tố nguy cơ chính của hầu hết các bệnh ung thư. Cơ hội bị ung thư tăng lên khi bạn già đi.

    Khi hút thuốc kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác, nguy cơ ung thư phổi tăng lên.

    Đôi khi ung thư phổi không gây ra bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng . Nó có thể được tìm thấy trong khi chụp x-quang ngực được thực hiện cho một tình trạng khác . Các dấu hiệu và triệu chứng có thể được gây ra bởi ung thư phổi hoặc do các điều kiện khác. Kiểm tra với bác sĩ của bạn nếu bạn có bất kỳ điều sau đây:

    • Ngực khó chịu hoặc đau.
    • Một cơn ho không biến mất hoặc trở nên tồi tệ hơn theo thời gian.
    • Khó thở.
    • Khò khè.
    • Máutrong đờm ( chất nhầy ho ra từ phổi).
    • Khàn tiếng.
    • Mất cảm giác ngon miệng.
    • Giảm cân không rõ lý do.
    • Cảm thấy rất mệt mỏi.
    • Khó nuốt.
    • Sưng ở mặt và / hoặc tĩnh mạchở cổ.

    Các xét nghiệm và thủ tục để phát hiện, chẩn đoángiai đoạn ung thư phổi không phải tế bào nhỏ thường được thực hiện cùng một lúc. Một số thử nghiệm và quy trình sau đây có thể được sử dụng:

    • lịch sử thể chất : Một cuộc kiểm tra của cơ thể để kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe tổng quát, bao gồm kiểm tra các dấu hiệu bệnh, chẳng hạn như cục u hoặc bất cứ điều gì khác có vẻ bất thường. Một lịch sử về thói quen sức khỏe của bệnh nhân, bao gồm hút thuốc, và các công việc trong quá khứ, bệnh tật và phương pháp điều trị cũng sẽ được thực hiện.
    • Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm: Các thủ tục y tế kiểm tra các mẫu , máu, nước tiểu hoặc các chất khác trong cơ thể. Những xét nghiệm này giúp chẩn đoán bệnh, lên kế hoạch và kiểm tra điều trị hoặc theo dõi bệnh theo thời gian.
    • X-quang ngực: X-quang các cơ quan và xương bên trong ngực. X-quang là một loại chùm năng lượng có thể đi xuyên qua cơ thể và lên phim, tạo nên một bức tranh về các khu vực bên trong cơ thể.
    • (CAT scan) : Một thủ tục tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết về các khu vực bên trong cơ thể, chẳng hạn như ngực, được chụp từ các góc khác nhau. Các hình ảnh được thực hiện bởi một máy tính liên kết với một máy x-quang. Một thuốc nhuộm có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc nuốt để giúp các cơ quan hoặc mô hiển thị rõ ràng hơn. Thủ tục này cũng được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cắt lớp trục máy tính.
    • Xét nghiệm tế bào học đờm: Một thủ tục trong đó một nhà nghiên cứu bệnh học xem một mẫu đờm (chất nhầy ho ra từ phổi) dưới kính hiển vi, để kiểm tra các tế bào ung thư.
    • Thẩm thấu : Việc loại bỏ chất lỏng từ khoảng trống giữa niêm mạc ngực và phổi, bằng kim. Một nhà nghiên cứu bệnh học xem chất lỏng dưới kính hiển vi để tìm kiếm các tế bào ung thư.

    Một trong những loại sinh thiết sau đây thường được sử dụng:

      Sinh thiết chọc hút bằng kim mịn (FNA)của phổi : Việc loại bỏ mô hoặc dịch từ phổi bằng kim mỏng. Chụp CT, siêu âm hoặc thủ tục hình ảnh khácđược sử dụng để xác định vị trí cácmô hoặc chất lỏng bất thường trong phổi. Một vết mổ nhỏcó thể được thực hiện ở da nơi kim sinh thiết được đưa vào mô hoặc chất lỏng bất thường. Một mẫu được lấy ra bằng kim và gửi đến phòng thí nghiệm. Một nhà nghiên cứu bệnh học sau đó xem mẫu dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư. X-quang ngực được thực hiện sau thủ thuật để đảm bảo không có không khí rò rỉ từ phổi vào ngực.
      Nội soi phế quản: Một thủ tục để nhìn vào bên trong khí quản và đường thở lớn trong phổi cho các khu vực bất thường. Một ống nội soi phế quản được đưa qua mũi hoặc miệng vào khí quản và phổi. Một ống soi phế quản là một dụng cụ mỏng, giống như ống với ánh sáng và ống kính để xem. Nó cũng có thể có một công cụ để loại bỏ các mẫu mô, được kiểm tra dưới kính hiển vi cho các dấu hiệu ung thư.
    • soi lồng ngực: Mộtthủ tục phẫu thuật để xem xét các cơ quan bên trong ngực để kiểm tra các khu vực bất thường. Một vết mổ (vết cắt) được thực hiện giữa hai xương sườn và một ống nội soi lồng ngực được đưa vào ngực. Máy soi ngực là một dụng cụ mỏng, giống như ống với ánh sáng và ống kính để xem. Nó cũng có thể có một công cụ để loại bỏ các mẫu mô hoặc hạch bạch huyết, được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu ung thư. Trong một số trường hợp, thủ tục này được sử dụng để loại bỏ một phần của thực quản hoặc phổi. Nếu một số mô, cơ quan hoặc hạch bạch huyết không thể đạt được, phẫu thuật lồng ngực có thể được thực hiện. Trong thủ tục này, một vết mổ lớn hơn được thực hiện giữa xương sườn và ngực được mở ra.
    • Nội soi trung gian: Một thủ tục phẫu thuật để xem xét các cơ quan, mô và các hạch bạch huyết giữa phổi cho các khu vực bất thường. Một vết mổ (vết cắt) được thực hiện ở đầu xương ức và mộtống soi trung thất được đưa vào ngực. Kính thiên văn là một dụng cụ mỏng, giống như ống với ánh sáng và ống kính để xem. Nó cũng có thể có một công cụ để loại bỏ các mẫu mô hoặc hạch bạch huyết, được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu ung thư.
    • Phẫu thuật trung thất trước : Một thủ tục phẫu thuật để xem xét các cơ quan và mô giữa phổi và giữa xương ức và tim cho các khu vực bất thường. Một vết mổ (vết cắt) được thực hiện bên cạnh xương ức và một ống soi trung thất được đưa vào ngực. Kính thiên văn là một dụng cụ mỏng, giống như ống với ánh sáng và ống kính để xem. Nó cũng có thể có một công cụ để loại bỏ các mẫu mô hoặc hạch bạch huyết, được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu ung thư. Đây cũng được gọi là thủ tục Chamberlain.
    • Sinh thiết hạch bạch huyết: Việc loại bỏ tất cả hoặc một phần của hạch bạch huyết. Một nhà nghiên cứu bệnh học xem mô hạch bạch huyết dưới kính hiển vi để kiểm tra các tế bào ung thư.

    Một hoặc nhiều xét nghiệm trong phòng thí nghiệm sau đây có thể được thực hiện để nghiên cứu các mẫu mô:

    • Xét nghiệm phân tử: Một xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để kiểm tra một số gen , protein hoặc các phân tử kháctrong một mẫu mô, máu hoặc chất lỏng cơ thể khác. Các xét nghiệm phân tử kiểm tra cácthay đổigen hoặc nhiễm sắc thể nhất địnhxảy ra trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
    • Hóa mô miễn dịch: Một xét nghiệm sử dụng kháng thể để kiểm tra các kháng nguyên nhất địnhtrong một mẫu mô. Kháng thể thường được liên kết với một chất phóng xạ hoặc thuốc nhuộm làm cho mô sáng lên dưới kính hiển vi. Loại xét nghiệm này có thể được sử dụng để cho biết sự khác biệt giữa các loại ung thư khác nhau.

    Các tiên lượng (khả năng phục hồi ) và các tùy chọn điều trị phụ thuộc vào những điều sau đây:

    • Giai đoạn ung thư (kích thước của khối u và dù chỉ ở trong phổi hay đã lan sang những nơi khác trong cơ thể).
    • Các loại ung thư phổi.
    • Liệu ung thư có đột biến(thay đổi) ở một số gen nhất định, chẳng hạn như gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) hoặc gen anaplastic lymphoma kinase (ALK) .
    • Cho dù có dấu hiệu và triệu chứng như ho hoặc khó thở.
    • Sức khỏe chung của bệnh nhân.

    Nếu ung thư phổi được tìm thấy, tham gia vào một trong nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện để cải thiện điều trị nên được xem xét. Các thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra ở hầu hết các vùng của đất nước đối với bệnh nhân mắc tất cả các giai đoạn ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra có sẵn từ trang web NCI .

    Các giai đoạn của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

    Những điểm chính

    • Sau khi chẩn đoán ung thư phổi, các xét nghiệm được thực hiện để tìm hiểu xem các tế bào ung thư đã lan rộng trong phổi hay đến các bộ phận khác của cơ thể.
    • Có ba cách mà ung thư lây lan trong cơ thể.
    • Ung thư có thể lây lan từ nơi nó bắt đầu đến các bộ phận khác của cơ thể.
    • Các giai đoạn sau đây được sử dụng cho ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:
      • Giai đoạn huyền bí (ẩn)
      • Giai đoạn 0
      • Giai đoạn I
      • Giai đoạn II
      • Giai đoạn III
      • Giai đoạn IV

    Các xét nghiệm và quy trình khác có thể được sử dụng trong quy trình dàn dựng bao gồm:

    • (chụp cộng hưởng từ) : Một thủ tục sử dụng nam châm, sóng vô tuyến và máy tính để tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết về các khu vực bên trong cơ thể, chẳng hạn như não. Thủ tục này còn được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân (NMRI).
    • (CAT scan) : Một thủ tục tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết về các khu vực bên trong cơ thể, chẳng hạn như não, bụng và các hạch bạch huyết, được chụp từ các góc khác nhau. Các hình ảnh được thực hiện bởi một máy tính liên kết với một máy x-quang . Một thuốc nhuộm có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc nuốt để giúp các cơ quan hoặc hiển thị rõ ràng hơn. Thủ tục này cũng được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cắt lớp trục máy tính.
    • Chụp PET(chụp cắt lớp phát xạ positron) : Một thủ tục để tìmcác tế bào khối u ác tính trong cơ thể. Một lượng nhỏ glucose phóng xạ (đường) được tiêm vào tĩnh mạch. Máy quét PETxoay quanh cơ thể và tạo ra một bức tranh về nơi glucose đang được sử dụng trong cơ thể. Các tế bào khối u ác tính xuất hiện sáng hơn trong hình ảnh vì chúng hoạt động nhiều hơn và chiếm nhiều glucose hơn các tế bào bình thường.
    • : Một thủ tục để kiểm tra xem có các tế bào phân chia nhanh chóng, chẳng hạn như tế bào ung thư, trong xương. Một lượng rất nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch và đi qua dòng máu. Các chất phóng xạ thu thập trong xương bị ung thư và được phát hiện bởi một máy quét.
    • Kiểm tra chức năng phổi(PFT) : Một xét nghiệm để xem phổi hoạt động tốt như thế nào. Nó đo lượng không khí phổi có thể giữ và tốc độ không khí di chuyển vào và ra khỏi phổi. Nó cũng đo lượng oxy được sử dụng và lượng carbon dioxide được thải ra trong quá trình thở. Đây cũng được gọi là xét nghiệm chức năng phổi.
    • Khát vọng tủy xương và sinh thiết: Việc loại bỏ tủy xương , máu và một mảnh xương nhỏ bằng cách chèn một cây kim rỗng vào xương hông hoặc xương ức . Một nhà nghiên cứu bệnh học xem tủy xương, máu và xương dưới kính hiển vi để tìm kiếm các dấu hiệu ung thư.
    • Khăn giấy. Bệnh ung thư lây lan từ nơi nó bắt đầu bằng cách phát triển sang các khu vực lân cận.
    • Hệ bạch huyết. Ung thư lây lan từ nơi nó bắt đầu bằng cách xâm nhập vào hệ thống bạch huyết. Ung thư di chuyển qua các mạch bạch huyếtđến các bộ phận khác của cơ thể.
    • Máu. Ung thư lây lan từ nơi nó bắt đầu bằng cách đi vào máu. Ung thư di chuyển qua các mạch máuđến các bộ phận khác của cơ thể.
    • Hệ bạch huyết. Ung thư xâm nhập vào hệ thống bạch huyết, đi qua các mạch bạch huyết và hình thành một khối u( khối u di căn ) ở một bộ phận khác của cơ thể.
    • Máu. Ung thư xâm nhập vào máu, đi qua các mạch máu và hình thành một khối u (khối u di căn) ở một bộ phận khác của cơ thể.

    Khối u di căn là loại ung thư giống như khối u nguyên phát. Ví dụ, nếu ung thư phổi không phải tế bào nhỏ lan đến não, thì các tế bào ung thư trong não thực sự là tế bào ung thư phổi . Bệnh là ung thư phổi di căn, không phải ung thư não.

    Nhiều trường hợp tử vong do ung thư được gây ra khi ung thư di chuyển từ khối u ban đầu và lan sang các mô và cơ quan khác. Đây được gọi là ung thư di căn. Hoạt hình này cho thấy các tế bào ung thư di chuyển từ nơi trong cơ thể nơi chúng lần đầu tiên hình thành đến các bộ phận khác của cơ thể.

    Giai đoạn huyền bí (ẩn)

    Trong giai đoạn huyền bí (ẩn) , ung thư không thể được nhìn thấy bằng hình ảnh hoặc nội soi phế quản . Các tế bào ung thư được tìm thấy trong rửa đờm hoặc phế quản (một mẫu tế bào được lấy từ bên trong đường dẫn khí đến phổi ). Ung thư có thể đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

    Giai đoạn 0

    Giai đoạn I

    Ở giai đoạn I, ung thư đã hình thành. Giai đoạn I được chia thành giai đoạn IA và IB.

    Các khối u là trong phổi duy nhất và là 3 cm hoặc nhỏ hơn. Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết .

    Khối u lớn hơn 3 cm nhưng không lớn hơn 4 cm. Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết.

    hoặc là

    Khối u là 4 cm hoặc nhỏ hơn và một hoặc nhiều điều sau đây được tìm thấy:

    • Ung thư đã lan đến phế quảnchính , nhưng chưa lan đến carina .
    • Ung thư đã lan đến lớp trong cùng của màngbao phủ phổi.
    • Một phần của phổi hoặc toàn bộ phổi đã sụp đổ hoặc đã bị viêm phổi.

    Ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết.

    Giai đoạn II

    Giai đoạn II được chia thành giai đoạn IIA và IIB.

    Các khối u lớn hơn 4 cm nhưng không lớn hơn 5 cm. Ung thư đã không lan đến các hạch bạch huyết và một hoặc nhiều điều sau đây có thể được tìm thấy:

    • Ung thư đã lan đến phế quảnchính , nhưng chưa lan đến carina .
    • Ung thư đã lan đến lớp trong cùng của màngbao phủ phổi .
    • Một phần của phổi hoặc toàn bộ phổi đã sụp đổ hoặc đã bị viêm phổi.

    Khối u có kích thước 5 cm hoặc nhỏ hơn và ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở cùng phía của ngực với khối u nguyên phát . Các hạch bạch huyết bị ung thư nằm trong phổi hoặc gần phế quản. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây có thể được tìm thấy:

    • Ung thư đã lan đến phế quản chính, nhưng chưa lan đến carina.
    • Ung thư đã lan đến lớp trong cùng của màng bao phủ phổi.
    • Một phần của phổi hoặc toàn bộ phổi đã sụp đổ hoặc đã bị viêm phổi.

    hoặc là

    Ung thư đã không lan đến các hạch bạch huyết và một hoặc nhiều điều sau đây được tìm thấy:

    • Khối u lớn hơn 5 cm nhưng không lớn hơn 7 cm.
    • Có một hoặc nhiều khối u riêng biệt trong cùng một thùycủa phổi như khối u chính.
    • Ung thư đã lan đến bất kỳ trường hợp nào sau đây:
      • Các màng lót bên trong của thành ngực.
      • Thành ngực.
      • Các dây thần kinhđiều khiển các cơ hoành .
      • Lớp ngoài của bao quanh tim.

    Giai đoạn III

    Giai đoạn III được chia thành các giai đoạn IIIA, IIIB và IIIC.

    Các khối u là 5 cm hoặc nhỏ hơn và ung thư đã lan rộng đến các hạch bạch huyết trên cùng một bên của ngực như khối u nguyên phát . Các hạch bạch huyết bị ung thư là xung quanh khí quản hoặc động mạch chủ , hoặc nơi khí quản phân chia thành phế quản . Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây có thể được tìm thấy:

    • Ung thư đã lan đến phế quảnchính , nhưng chưa lan đến carina .
    • Ung thư đã lan đến lớp trong cùng của màngbao phủ phổi .
    • Một phần của phổi hoặc toàn bộ phổi đã sụp đổ hoặc đã bị viêm phổi.

    hoặc là

    Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở cùng phía của ngực với khối u nguyên phát. Các hạch bạch huyết bị ung thư nằm trong phổi hoặc gần phế quản. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây được tìm thấy:

    • Khối u lớn hơn 5 cm nhưng không lớn hơn 7 cm.
    • Có một hoặc nhiều khối u riêng biệt trong cùng một thùycủa phổi như khối u chính.
    • Ung thư đã lan đến bất kỳ trường hợp nào sau đây:
      • Các màng lót bên trong của thành ngực.
      • Thành ngực.
      • Các dây thần kinhđiều khiển các cơ hoành .
      • Lớp ngoài của bao quanh tim.

    hoặc là

    Ung thư có thể đã lan đến các hạch bạch huyết ở cùng phía của ngực với khối u nguyên phát. Các hạch bạch huyết bị ung thư nằm trong phổi hoặc gần phế quản. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây được tìm thấy:

    • Khối u lớn hơn 7 cm.
    • Có một hoặc nhiều khối u riêng biệt trong một thùy khác nhau của phổi với khối u nguyên phát.
    • Khối u có kích thước bất kỳ và ung thư đã lan sang bất kỳ trường hợp nào sau đây:
      • Khí quản.
      • Xương ứchoặc xương sống .
      • Cơ hoành.
      • Các mạch máu lớndẫn đến hoặc từ tim (động mạch chủ hoặc tĩnh mạch chủ ).
      • Dây thần kinh điều khiển thanh quản(hộp thoại).
    • Giai đoạn IIIB:

    Khối u có kích thước 5 cm hoặc nhỏ hơn và ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết phía trên xương đòn ở cùng bên ngực với khối u chính hoặc đến bất kỳ hạch bạch huyết nào ở phía đối diện của ngực là khối u chính. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây có thể được tìm thấy:

    • Ung thư đã lan đến phế quản chính, nhưng chưa lan đến carina.
    • Ung thư đã lan đến lớp trong cùng của màng bao phủ phổi.
    • Một phần của phổi hoặc toàn bộ phổi đã sụp đổ hoặc đã bị viêm phổi.

    hoặc là

    Khối u có thể có kích thước bất kỳ và ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở cùng phía của ngực với khối u nguyên phát. Các hạch bạch huyết bị ung thư là xung quanh khí quản hoặc động mạch chủ, hoặc nơi khí quản phân chia thành phế quản. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây được tìm thấy:

    • Có một hoặc nhiều khối u riêng biệt trong cùng một thùy hoặc một thùy khác nhau của phổi với khối u nguyên phát.
    • Ung thư đã lan đến bất kỳ trường hợp nào sau đây:
      • Các màng lót bên trong của thành ngực.
      • Thành ngực.
      • Dây thần kinh điều khiển cơ hoành.
      • Lớp ngoài của mô bao quanh tim.
      • Khí quản.
      • Thực quản.
      • Xương ức hoặc xương sống.
      • Cơ hoành.
      • Các mạch máu lớn dẫn đến hoặc từ tim (động mạch chủ hoặc tĩnh mạch chủ).
      • Dây thần kinh điều khiển thanh quản (hộp thoại).
    • Giai đoạn IIIC:

    Khối u có thể có kích thước bất kỳ và ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết phía trên xương đòn ở cùng phía của ngực với khối u chính hoặc đến bất kỳ hạch bạch huyết nào ở phía đối diện của ngực là khối u chính. Ngoài ra, một hoặc nhiều trong số những điều sau đây được tìm thấy:

    • Có một hoặc nhiều khối u riêng biệt trong cùng một thùy hoặc một thùy khác nhau của phổi với khối u nguyên phát.
    • Ung thư đã lan đến bất kỳ trường hợp nào sau đây:
      • Các màng lót bên trong của thành ngực.
      • Thành ngực.
      • Dây thần kinh điều khiển cơ hoành.
      • Lớp ngoài của mô bao quanh tim.
      • Khí quản.
      • Thực quản.
      • Xương ức hoặc xương sống.
      • Cơ hoành.
      • Các mạch máu lớn dẫn đến hoặc từ tim (động mạch chủ hoặc tĩnh mạch chủ).
      • Dây thần kinh điều khiển thanh quản (hộp thoại).

    Giai đoạn IV

    Giai đoạn IV được chia thành giai đoạn IVA và IVB.

    • Có một hoặc nhiều khối u trong phổikhông có khối u chính .
    • Ung thư được tìm thấy trong lớp lót quanh phổi hoặc túi quanh tim.
    • Ung thư được tìm thấy trong chất lỏngxung quanh phổi hoặc tim.
    • Ung thư đã lan đến một nơi trong một cơ quankhông gần phổi, chẳng hạn như não, gan , tuyến thượng thận , thận , xương hoặc đến một hạch bạch huyết không gần phổi.

    Ung thư đã lan đến nhiều nơi trong một hoặc nhiều cơ quan không gần phổi .

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tái phát

    Tổng quan về lựa chọn điều trị

    Những điểm chính

    • Có nhiều cách điều trị khác nhau cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
    • Mười loại điều trị tiêu chuẩn được sử dụng:
      • Phẫu thuật
      • Xạ trị
      • Hóa trị
      • Liệu pháp nhắm mục tiêu
      • Liệu pháp miễn dịch
      • Liệu pháp laser
      • Liệu pháp quang động (PDT)
      • Phẫu thuật lạnh
      • Điện máy
      • Thận trọng chờ đợi
    • Các loại điều trị mới đang được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng.
    • Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể gây ra tác dụng phụ.
    • Bệnh nhân có thể muốn nghĩ về việc tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng.
    • Bệnh nhân có thể tham gia các thử nghiệm lâm sàng trước, trong hoặc sau khi bắt đầu điều trị ung thư.
    • Các xét nghiệm tiếp theo có thể cần thiết.

    Sau khi bác sĩ loại bỏ tất cả các bệnh ung thư có thể nhìn thấy tại thời điểm phẫu thuật, một số bệnh nhân có thể được hóa trị hoặc xạ trị sau phẫu thuật để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại. Điều trị được đưa ra sau phẫu thuật, để giảm nguy cơ ung thư sẽ quay trở lại, được gọi là liệu pháp bổ trợ .

    • Xạ trị bên ngoàisử dụng một máy bên ngoài cơ thể để gửi bức xạ về phía ung thư.
    • Xạ trị nội bộsử dụng chất phóng xạ được niêm phong trong kim, hạt , dây điện hoặc ống thông được đặt trực tiếp vào hoặc gần ung thư.

    Liệu pháp xạ trị cơ thể lập thể là một loại xạ trị ngoài. Thiết bị đặc biệt được sử dụng để đặt bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần điều trị bức xạ. Mỗi ngày một lần trong vài ngày, một máy xạ trị nhắm đến một lượng phóng xạ lớn hơn bình thường trực tiếp vào khối u. Bằng cách cho bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần điều trị, sẽ ít gây tổn hại đến các mô khỏe mạnh gần đó. Thủ tục này còn được gọi là xạ trị chùm tia ngoài lập thể và xạ trị stereotaxic.

    Đối với các khối u trong đường thở, bức xạ được truyền trực tiếp vào khối u thông qua nội soi .

    Cách thức xạ trị được đưa ra tùy thuộc vào loại và giai đoạn ung thư được điều trị. Nó cũng phụ thuộc vào nơi ung thư được tìm thấy. Liệu pháp xạ trị bên ngoài và bên trong được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

    Hóa trị là một phương pháp điều trị ung thư sử dụng thuốc để ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư, bằng cách tiêu diệt các tế bào hoặc bằng cách ngăn chặn chúng phân chia. Khi hóa trị được thực hiện bằng miệng hoặc tiêm vào tĩnh mạch hoặc cơ, thuốc sẽ xâm nhập vào máu và có thể đến các tế bào ung thư trên toàn cơ thể ( hóa trị liệu toàn thân ). Khi hóa trị được đặt trực tiếp vào dịch não tủy , một cơ quan hoặc khoang cơ thể như bụng , các loại thuốc chủ yếu ảnh hưởng đến các tế bào ung thư ở những khu vực đó ( hóa trị liệu khu vực ).

    Cách thức hóa trị được đưa ra tùy thuộc vào loại và giai đoạn ung thư được điều trị.

    Xem các loại thuốc được chấp thuận cho bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ để biết thêm thông tin.

    Có nhiều loại khác nhau của liệu pháp kháng thể đơn dòng:

    Có nhiều loại thuốc ức chế tyrosine kinase khác nhau:

      Các chất ức chế Kinase ảnh hưởng đến các tế bào có sự thay đổi gen nhất định: Một số thay đổi nhất định trong gen , , và MEKsự hợp nhất gen NTRK , gây ra quá nhiều protein. Chặn các protein này có thể ngăn chặn ung thư phát triển và lan rộng. Crizotinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen ALKROS1 . Ceritinib , alectinib , brigatiniblorlatinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen ALK . Dabrafenibđược sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen BRAF . Trametinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen MEK . Larotrectinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi phản ứng tổng hợp gen NTRK .

    Xem các loại thuốc được chấp thuận cho bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ để biết thêm thông tin.

    Liệu pháp miễn dịch là phương pháp điều trị sử dụng hệ thống miễn dịch của bệnh nhân để chống lại ung thư. Các chất được tạo ra bởi cơ thể hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm được sử dụng để tăng cường, định hướng hoặc khôi phục khả năng phòng vệ tự nhiên của cơ thể chống lại ung thư. Loại điều trị ung thư này còn được gọi là liệu pháp sinh học hoặc trị liệu sinh học.

    Liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch là một loại liệu pháp miễn dịch.

    Liệu pháp miễn dịch sử dụng hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại ung thư. Hoạt hình này giải thích một loại liệu pháp miễn dịch sử dụng các chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch để điều trị ung thư.

    Xem các loại thuốc được chấp thuận cho bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ để biết thêm thông tin.

    Electrocautery là một phương pháp điều trị sử dụng đầu dò hoặc kim được đốt nóng bởi dòng điện để phá hủy các mô bất thường. Đối với các khối u trong đường thở, đốt điện được thực hiện thông qua nội soi.

    Phần tóm tắt này mô tả các phương pháp điều trị đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Nó có thể không đề cập đến tất cả các điều trị mới đang được nghiên cứu. Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng có sẵn từ trang web NCI .

    Chất phóng xạ là những chất làm cho các tế bào khối u dễ tiêu diệt hơn bằng xạ trị. Sự kết hợp giữa hóa trị và xạ trị được đưa ra với chất kích thích phóng xạ đang được nghiên cứu trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

    Sự kết hợp mới của phương pháp điều trị đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng .

    Để biết thông tin về các tác dụng phụ gây ra bởi điều trị ung thư, xem trang Tác dụng phụ của chúng tôi .

    Đối với một số bệnh nhân, tham gia thử nghiệm lâm sàng có thể là lựa chọn điều trị tốt nhất. Thử nghiệm lâm sàng là một phần của quá trình nghiên cứu ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện để tìm hiểu xem phương pháp điều trị ung thư mới có an toàn và hiệu quả hay tốt hơn so với điều trị chuẩn .

    Nhiều phương pháp điều trị ung thư tiêu chuẩn ngày nay dựa trên các thử nghiệm lâm sàng trước đó. Bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng có thể được điều trị tiêu chuẩn hoặc là một trong những người đầu tiên được điều trị mới.

    Bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng cũng giúp cải thiện cách điều trị ung thư trong tương lai. Ngay cả khi các thử nghiệm lâm sàng không dẫn đến các phương pháp điều trị mới hiệu quả, họ vẫn thường trả lời các câu hỏi quan trọng và giúp tiến hành nghiên cứu về phía trước.

    Một số thử nghiệm lâm sàng chỉ bao gồm những bệnh nhân chưa được điều trị. Các thử nghiệm khác điều trị thử nghiệm cho những bệnh nhân bị ung thư không đỡ hơn. Cũng có những thử nghiệm lâm sàng thử nghiệm những cách mới để ngăn chặn ung thư tái phát (quay trở lại) hoặc giảm tác dụng phụ của điều trị ung thư.

    Các thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước. Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng được NCI hỗ trợ có thể được tìm thấy trên trang web tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của NCI . Các thử nghiệm lâm sàng được hỗ trợ bởi các tổ chức khác có thể được tìm thấy trên trang web của chúng tôi .

    Một số xét nghiệm đã được thực hiện để chẩn đoán ung thư hoặc tìm ra giai đoạn ung thư có thể được lặp lại. Một số xét nghiệm sẽ được lặp lại để xem điều trị có hiệu quả như thế nào. Quyết định về việc có nên tiếp tục, thay đổi hoặc ngừng điều trị có thể dựa trên kết quả của các xét nghiệm này.

    Lựa chọn điều trị theo giai đoạn

    Trong phần này

    • Huyền bí ung thư phổi không phải tế bào nhỏ
    • Giai đoạn 0
    • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn I
    • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn II
    • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIA
    • Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIB và giai đoạn IIIC
    • Giai đoạn IV mới được chẩn đoán, tái phát và tái phát ung thư phổi không phải tế bào nhỏ
    • Giai đoạn tiến triển IV, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tái phát và tái phát

    Huyền bí ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

    Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Các khối u huyền bí thường được tìm thấy ở giai đoạn đầu (khối u chỉ nằm trong phổi ) và đôi khi có thể được chữa khỏi bằng phẫu thuật .

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Giai đoạn 0

    Điều trị giai đoạn 0 có thể bao gồm những điều sau đây:

    • Phẫu thuật ( cắt bỏ nêm hoặc cắt đoạn ).
    • Liệu pháp quang động , đốt điện , phẫu thuật lạnh hoặc phẫu thuật laser cho các khối u trong hoặc gần phế quản .

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn I

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IA và ung thư phổi không tế bào IB giai đoạn nhỏ có thể bao gồm:

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn II

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIA và ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIB có thể bao gồm:

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIA

    Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIA có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật có thể bao gồm:

    • Phẫu thuật tiếp theo là hóa trị .
    • Phẫu thuật tiếp theo là xạ trị .
    • Hóa trị sau đó là phẫu thuật.
    • Phẫu thuật tiếp theo là hóa trị kết hợp với xạ trị.
    • Hóa trị và xạ trị sau đó là phẫu thuật.
    • Một thử nghiệm lâm sàng kết hợp các phương pháp điều trị mới.

    Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIA không thể loại bỏ bằng phẫu thuật có thể bao gồm:

    Để biết thêm thông tin về chăm sóc hỗ trợ cho các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm ho, khó thở và đau ngực, hãy xem tóm tắt PDQ về Hội chứng Tim phổi .

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ của sulcus vượt trội, thường được gọi là khối u Pancoast , bắt đầu ở phần trên của phổi và lan sang các mô gần đó như thành ngực , mạch máu lớn và cột sống . Điều trị khối u Pancoast có thể bao gồm:

    • Xạ trị đơn thuần.
    • Phẫu thuật.
    • Hóa trị và xạ trị sau đó là phẫu thuật.
    • Một thử nghiệm lâm sàng kết hợp các phương pháp điều trị mới.

    Một số khối u phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIA đã phát triển vào thành ngực có thể được loại bỏ hoàn toàn. Điều trị khối u thành ngực có thể bao gồm:

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn IIIB và giai đoạn IIIC

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB và ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIC có thể bao gồm:

    • Hóa trị tiếp theo là xạ trị ngoài .
    • Hóa trị và xạ trị được đưa ra như là phương pháp điều trị riêng biệt trong cùng một khoảng thời gian.
    • Hóa trị và xạ trị được đưa ra như các phương pháp điều trị riêng biệt trong cùng một khoảng thời gian, với liều xạ trị tăng dần theo thời gian.
    • Hóa trị và xạ trị được đưa ra như là phương pháp điều trị riêng biệt trong cùng một khoảng thời gian. Hóa trị đơn thuần được đưa ra trước hoặc sau khi điều trị.
    • Hóa trị và xạ trị theo sau là liệu pháp miễn dịch với chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch , chẳng hạn như durvalumab .
    • Liệu pháp xạ trị ngoài cho bệnh nhân không thể điều trị bằng hóa trị.
    • Liệu pháp xạ trị bên ngoài như liệu pháp giảm nhẹ , để giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống .
    • Liệu pháp laser và / hoặc xạ trị nội bộ để làm giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
    • Thử nghiệm lâm sàng về lịch trình xạ trị ngoài mới và các loại điều trị mới.
    • Một thử nghiệm lâm sàng về hóa trị và xạ trị kết hợp với chất phát xạ .
    • Các thử nghiệm lâm sàng của liệu pháp nhắm mục tiêu kết hợp với hóa trị và xạ trị.

    Để biết thêm thông tin về chăm sóc hỗ trợ cho các dấu hiệu và triệu chứng như ho, khó thở và đau ngực, hãy xem tóm tắt PDQ sau :

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Giai đoạn IV mới được chẩn đoán, tái phát và tái phát ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

    Điều trị giai đoạn IV mới được chẩn đoán , tái phát và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tái phát có thể bao gồm:

    • Hóa trị kết hợp .
    • Hóa trị kết hợp và liệu pháp nhắm mục tiêu với một kháng thể đơn dòng , chẳng hạn như bevacizumab , cetuximab hoặc necitumumab .
    • Hóa trị kết hợp tiếp theo hơn hóa trị như điều trị duy trì để giúp giữ cho ung thư từ tiến triển .
    • Điều trị nhắm mục tiêu với một chất ức chế tyrosine kinase của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) , như osimertinib , gefitinib , erlotinib hoặc afatinib .
    • Điều trị nhắm mục tiêu với một chất ức chế lymphoma kinase (ALK) anaplastic , như alectinib , crizotinib , ceritinib , brigatinib hoặc lorlatinib .
    • Liệu pháp nhắm mục tiêu với chất ức chế BRAF hoặc MEK, chẳng hạn như dabrafenib hoặc trametinib .
    • Điều trị nhắm mục tiêu với một chất ức chế NTRK, chẳng hạn như larotrectinib .
    • Liệu pháp miễn dịch với một chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch , như pembrolizumab , có hoặc không có hóa trị .
    • Liệu pháp laser và / hoặc xạ trị nội bộ cho các khối u đang chặn đường thở.
    • Liệu pháp xạ trị bên ngoài như liệu pháp giảm nhẹ , để giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống .
    • Phẫu thuật để loại bỏ một khối u nguyên phát thứ hai .
    • Phẫu thuật để loại bỏ ung thư đã di căn lên não, sau đó là xạ trị toàn bộ não.
    • Phẫu thuật xạ hình cho các khối u đã di căn lên não và không thể điều trị bằng phẫu thuật.
    • Một thử nghiệm lâm sàng của các loại thuốc mới và kết hợp các phương pháp điều trị.

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Giai đoạn tiến triển IV, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tái phát và tái phát

    Điều trị giai đoạn IV tiến triển , tái phát và tái phát ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể bao gồm:

    • Hóa trị .
    • Điều trị nhắm mục tiêu với một chất ức chế tyrosine kinase của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) , như erlotinib , gefitinib , afatinib hoặc osimertinib .
    • Điều trị nhắm mục tiêu với một chất ức chế lymphoma kinase (ALK) anaplastic , chẳng hạn như crizotinib , ceritinib , alectinib hoặc brigatinib .
    • Liệu pháp nhắm mục tiêu với chất ức chế BRAF hoặc MEK, chẳng hạn như dabrafenib hoặc trametinib .
    • Liệu pháp miễn dịch với một chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch , chẳng hạn như nivolumab , pembrolizumab hoặc atezolizumab .
    • Một thử nghiệm lâm sàng của các loại thuốc mới và kết hợp các phương pháp điều trị.

    Sử dụng tìm kiếm thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi để tìm các thử nghiệm lâm sàng ung thư được NCI hỗ trợ đang chấp nhận bệnh nhân. Bạn có thể tìm kiếm các thử nghiệm dựa trên loại ung thư, tuổi của bệnh nhân và nơi các thử nghiệm đang được thực hiện. Thông tin chung về các thử nghiệm lâm sàng cũng có sẵn.

    Nguồn tham khảo https://www.cancer.gov/types/lung/patient/non-small-cell-lung-treatment-pdq

    Nguồn tham khảo https://ungthuphoi.org/ung-thu-phoi-khong-phai-te-bao-nho/

    Nguồn tham khảo https://ungthuphoi.org/ung-thu-phoi-tong-hop-70-bai/

    CHUYÊN KHOA NỘI TỔNG HỢP – BS LÊ THƯỢNG VŨ 80/23 Trần Quang Diệu, Phường 14 , Quận 3 , Hồ Chí Minh website: https://ungthuphoi.org/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • So Sánh Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Và Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì? Hệ Thống Y Tế Thu Cúc
  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Và Những Hữu Ích. Click Xem Ngay!
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Di Căn Não Là Tình Trạng Như Thế Nào Và Điều Trị Ra Sao?
  • Bạn Có Biết Ung Thư Phổi Di Căn Lên Não Như Thế Nào? * Hello Bacsi
  • Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2
  • Tìm Hiểu Về Triển Vọng Cho Người Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2 * Hello Bacsi
  • Ung thư phổi tế bào nhỏ là một dạng ung thư phổi ác tính, có nguy cơ gây tử vong rất cao nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của ngành y học, hầu hết các căn bệnh ung thư đã có thể kiểm soát và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

    1. Ung thư phổi tế bào nhỏ là gì?

    Ung thư phổi là một căn bệnh ung thư ác tính, xảy ra khi các tế bào gây ung thư phát triển mạnh mẽ trong các mô phổi. Các tế bào này tăng sinh nhanh chóng và khó có thể kiểm soát được, dần dần hình thành nên các khối u ác tính và có khả năng xâm lấn vào các bộ phận khác rất cao nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh ung thư phổi thường có hai loại chính, bao gồm ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) và ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC).

    Đối với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) còn được biết đến với cái tên là ung thư biểu mô tế bào nhỏ. Loại ung thư này chiếm khoảng 15% trong các bệnh ung thư phổi và nó thường có hai dạng chính, bao gồm ung thư biểu mô tế bào nhỏ và ung thư biểu mô tế bào nhỏ kết hợp.

    Những người đã có tiền sử hút thuốc lá, hoặc nghiện thuốc lá nặng thường có nguy cơ cao mắc phải ung thư phổi tế bào nhỏ. Đặc tính của loại ung thư này là “hung hăng”, phát triển nhanh và dễ lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Chính vì vậy, những bệnh nhân bị SCLC ở giai đoạn tiến triển thường rất khó có thể điều trị được dứt điểm bệnh.

    2. Các giai đoạn của ung thư phổi tế bào nhỏ

    Các giai đoạn chính của ung thư phổi tế bào nhỏ bao gồm:

    • Giai đoạn giới hạn: trong giai đoạn này, ung thư chỉ xuất hiện ở một bên phổi hoặc ở các hạch bạch huyết vùng trung thất. Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện được ung thư trong giai đoạn này là rất ít (khoảng 30%), thêm vào đó, nhiều trường hợp không phát hiện ra ung thư qua xét nghiệm mặc dù các khối u đã lan ra ngoài vùng ngực. Ung thư phổi tế bào nhỏ ở giai đoạn giới hạn thường được điều trị ban đầu bằng liệu pháp hóa trị kết hợp với xạ trị. Sau đó, bệnh nhân sẽ tiếp tục được xạ trị vào não để ngăn không cho khối u di căn sang não, giúp người bệnh có cơ hội thoát khỏi ung thư.
    • Giai đoạn mở rộng: các tế bào ung thư phát triển mạnh mẽ và đã xâm lấn sang bên phổi còn lại, thậm chí nó có thể di căn sang các khu vực xa hơn trong cơ thể, chẳng hạn như não, gan, xương hoặc tuyến thượng thận. Đa số, những người mắc ung thư phổi tế bào nhỏ đều phát hiện bệnh khi ung thư đã bước sang giai đoạn này. Ung thư trong giai đoạn này thường có mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu, vì vậy rất khó có thể loại bỏ hoàn toàn được các khối u ác tính. Các phương pháp điều trị được thực hiện trong giai đoạn mở rộng chỉ nhằm làm giảm nhẹ các triệu chứng do bệnh và giúp kéo dài tuổi thọ.

    3. Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ

    3.1 Ung thư phổi tế bào nhỏ có chữa được không?

    Ung thư phổi tế bào nhỏ là căn bệnh ung thư ác tính, đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng người bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Loại ung thư này thường có mức độ nguy hiểm cao hơn so với ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC), vì vậy khả năng để chữa khỏi căn bệnh này là không cao. Các phương pháp điều trị như xạ trị, hóa trị hoặc phẫu thuật không thể loại bỏ tận gốc được các tế bào ung thư, nó chỉ có thể làm thu nhỏ các khối u và ngăn chặn sự phát triển của chúng trong cơ thể.Ngoài ra, các biện pháp điều trị dành cho ung thư phổi tế bào nhỏ cũng giúp bệnh nhân nâng cao chất lượng cuộc sống và đem lại tỷ lệ sống sót cao hơn. Tỷ lệ sống của mỗi bệnh nhân sẽ khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như độ tuổi, tình trạng sức khỏe của người bệnh và diễn biến của bệnh. Nếu ung thư được phát hiện ngay trong giai đoạn đầu thì tỷ lệ sống sót là khoảng 23% sau năm năm. Trong trường hợp ung thư đã di căn sang các bộ phận lân cận thì tỷ lệ sống sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 14% và khoảng 2% nếu ung thư đã lan sang các vị trí xa hơn trong cơ thể.

    3.2 Các phương pháp điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ

    Phẫu thuật: phương pháp này thường được áp dụng cho các trường hợp chỉ xuất hiện một khối u trong phổi và ung thư vẫn chưa lan sang các vị trí khác. Một số loại phẫu thuật có thể được thực hiện như:

    • Phẫu thuật cắt bỏ thùy (lý tưởng nhất dành cho ung thư phổi tế bào nhỏ)
    • Phẫu thuật cắt bỏ phổi
    • Phẫu thuật cắt bỏ một đoạn của thùy phổi (Segmentectomy)
    • Phẫu thuật tạo hình khí phế quản

    Trong quá trình phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được gây mê toàn thân. Sự thành công và tính hiệu quả của phương pháp này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi thực hiện phẫu thuật. Tuy nhiên, thủ thuật này cũng có thể đem lại một số biến chứng khác cho người bệnh như nhiễm trùng, chảy máu nặng hoặc viêm phổi. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần ít nhất một vài tháng để cơ thể dần hồi phục trở lại.

    Xạ trị: là phương pháp sử dụng chùm tia bức xạ năng lượng cao tập trung vào khối u để tiêu diệt các tế bào ung thư trong phổi. Bức xạ tia ngoài là hình thức xạ trị được sử dụng nhiều nhất. Để nâng cao hiệu quả điều trị, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện kết hợp điều trị giữa xạ trị và hóa trị. Phương pháp xạ trị thường được thực hiện hai lần một ngày và kéo dài trong vòng 3 tuần. Đối với những trường hợp yêu cầu phải tiến hành xạ trị liều cao thì cần thực hiện mỗi ngày một lần. Xạ trị cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn cho bệnh nhân, tuy nhiên nó sẽ dần biến mất sau 2 tháng điều trị.

    Hóa trị: Đối với những người bị ung thư phổi tế bào nhỏ, dù bất kể ở giai đoạn nào, hóa trị cũng được xem là một phần thiết yếu của điều trị. Hóa trị là liệu pháp đưa thuốc hoặc các loại hóa chất chống ung thư vào trong cơ thể bệnh nhân nhằm loại bỏ các tế bào ung thư đang phát triển trong phổi. Thuốc hóa trị thường được sử dụng thông qua đường tiêm (truyền) tĩnh mạch hoặc đường uống. Khi được đưa vào cơ thể, chúng sẽ xâm nhập vào trong máu, sau đó đi đến hầu hết các cơ quan để tấn công và tiêu diệt các tế bào ung thư. Đối với những người bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn, hóa trị có thể được thực hiện kết hợp với xạ trị nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị bệnh. Phác đồ hóa trị ban đầu được sử dụng phổ biến nhất là etoposide (Toposar hoặc Vepesid) kết hợp với cisplatin (Platinol), được gọi là EP. Ngoài ra, có thể kết hợp sử dụng hai loại thuốc là carboplatin (Paraplatin) và irinotecan (Camptosar) trong liệu trình điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.

    Tuy nhiên, hóa trị là một phương pháp toàn thân, vì thế nó có thể gây ra một số triệu chứng nghiêm trọng cho người bệnh, bao gồm: buồn nôn, ói mửa, mệt mỏi, tiêu chảy, chán ăn, rụng tóc, khô miệng, loét miệng, tổn thương thần kinh gây đau.

    Phát hiện những bất thường ở phổi càng sớm sẽ càng gia tăng tỷ lệ chữa khỏi và ngăn chặn tiến triển bệnh thành ung thư. Vì vậy, thực hiện việc tầm soát ung thư phổi định kỳ có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Việc này giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời tránh những điều đáng tiếc xảy ra.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triệu Chứng, Biểu Hiện Ung Thư Phổi Báo Hiệu Phải Đi Khám Ngay
  • Điểm Danh 8 Dấu Hiện Nhằm Phát Hiện Sớm Ung Thư Phổi
  • Dấu Hiệu Ung Thư Phổi Di Căn Xương
  • Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Nên Và Không Nên Ăn Gì?
  • Ung Thư Phổi Di Căn: Vị Trí, Dấu Hiệu Và Biện Pháp Đối Phó
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Di Căn Não Là Tình Trạng Như Thế Nào Và Điều Trị Ra Sao?
  • Bạn Có Biết Ung Thư Phổi Di Căn Lên Não Như Thế Nào? * Hello Bacsi
  • Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2
  • Tìm Hiểu Về Triển Vọng Cho Người Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2 * Hello Bacsi
  • 【Giải Đáp】Ung Thư Phần Mềm Là Gì? Sarcoma Sống Được Bao Lâu?
  • Ung thư phổi không tế bào nhỏ là loại ung thư phổ biến nhất chiếm 84% trong tất cả các chẩn đoán ung thư phổi. Với mỗi loại bệnh sẽ có phương pháp điều trị khác nhau.

    Ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Ung thư phổi không tế bào nhỏ bắt đầu khi các tế bào khỏe mạnh trong phổi thay đổi và phát triển ngoài tầm kiểm soát, tạo thành một khối gọi là khối u, có tổn thương hoặc các nốt sần. Một khối u phổi có thể bắt đầu ở bất kỳ vị trí nào trong phổi.

    Ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Một khối u có thể là lành tính hoặc ung thư. Khi khối u phổi phát triển nó có thể làm bong các u phổi. Những tế bào này có thể được mang đi trong máu hoặc trôi đi trong chất lỏng (bạch huyết) bao quanh mô phổi. Bạch huyết chảy qua các mạch bạch huyết vào hạch bạch huyết (là những cơ quan nhỏ, hình hạt đậu giúp chống nhiễm trùng). Hạch bạch huyết nằm trong phổi, trung tâm của ngực và các nơi khác trong cơ thể. Dòng chảy tự nhiên của bạch huyết ra khỏi phổi về phía trung tâm của ngực, điều này có thể giải thích tại sao ung thư phổi thường lây lan ở đó trước tiên. Khi một tế bào ung thư di chuyển vào mạch hạch bạch huyết hoặc đến một phần xa hơn của cơ thể thông qua máu, nó được gọi là di căn.

    Các loại ung thư phổi không tế bào nhỏ: ung thư phổi tế bào không nhỏ bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Nó cũng có thể được mô tả dựa trên các loại tế bào biểu mô nơi ung thư bắt đầu:

    • Ung thư tuyến bắt trong trong các tế bào sản xuất chất nhầy.
    • Ung thư biểu mô tế bào vảy bắt đầu trong các tế bào lót đường dẫn khí.
    • Ung thư biểu mô tế bào lớn bắt đầu trong các tế bào khác với hai loại được mô tả ở trên.

    Để giúp cho quá trình chẩn đoán và điều trị, điều quan trọng nhất là các bác sĩ phải phân biệt được ung thư phổi bắt đầu trong các tế bào vảy với ung thư phổi bắt đầu trong các tế bào khác.

    Các thống kê của bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Ung thư phổi cần được phát hiện và điều trị sớm

    Ung thư phổi tế bào không nhỏ là loại ung thư phổi phổ biến nhất, chiếm 84% trong số các chẩn đoán ung thư phổi. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm cho những người mắc tất cả các loại ung thư phổi là 19%. Tỷ lệ sống 5 năm đối với nam là 16%. Tỷ lệ sống 5 năm đối với phụ nữ là 22%. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với ung thư phổi tế bào không nhỏ là 23%, so với 6% đối với ung thư phổi tế bào nhỏ. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tỷ lệ sống sót phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại phụ của ung thư phổi và giai đoạn mắc bệnh.

    Đối với những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ cục bộ, có nghĩa là ung thư không lan ra ngoài phổi, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 60%. Đối với ung thư phổi tế bào không nhỏ khu vực, có nghĩa là ung thư đã lan ra ngoài phổi đến các khu vực lân cận, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 33%. Nếu ung thư đã lan đến các bộ phận xa của cơ thể, được gọi là ung thư phổi di căn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 6%, nhưng do các liệu pháp mới có hiệu quả, con số này đang thay đổi.

    Mỗi năm, hàng chục ngàn người được chữa khỏi bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ tại Hoa Kỳ. Và một số bệnh nhân bị ung thư phổi tiến triển có thể sống nhiều năm sau khi chẩn đoán. Điều quan trọng cần nhớ là ung thư phổi có thể điều trị được ở bất kỳ giai đoạn nào và những phương pháp điều trị này đã được chứng minh là giúp những người bị ung thư phổi sống lâu hơn với chất lượng cuộc sống tốt hơn.

    Nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi không tế bào nhỏ

    • Thuốc lá và hút thuốc: Khói thuốc lá làm hỏng các tế bào trong phổi, khiến các tế bào phổi phát triển bất thường. Nguy cơ hút thuốc lá dẫn đến ung thư cao hơn đối với những người hút nhiều hoặc hút trong một thời gian dài. Tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc từ người khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi ngay cả khi người đó không hút thuốc.
    • Hút cần sa và sử dụng thuốc lá điện tử cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi.
    • A-mi-ăng: Đây là những tinh thể giống như tóc được tìm thấy trong nhiều loại đá và thường sử dụng là vật liệu cách nhiệt chống cháy trong các tòa nhà. Khi sợi amiăng được hít vào, chúng có thể gây kích ứng phổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa hút thuốc và phơi nhiễm amiang đặc biệt nguy hiểm.
    • Radon: Đây là một loại khí vô hình, không mùi được giải phóng tự nhiên bởi một số đất và đá. Nếu phơi nhiễm với radon sẽ có nguy cơ tăng cao mắc một số loại ung thư bao gồm cả ung thư phổi.
    • Các chất hóa học khác: Các chất hóa học khác như khí, hóa chất tại nơi làm việc hoặc trong môi trường có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi. Ở một số nơi trên thế giới, những người tiếp xúc với ngọn lửa nấu ăn từ than hoặc gỗ có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Ngoài ra, khói từ khí diesel hoặc từ kim loại hàn cũng có thể tăng nguy cơ ung thư phổi. Hoặc tiếp xúc với một số chất như bức xạ, asen, niken, crom cũng tăng nguy cơ ung thư phổi
    • Di truyền học: Một số người mắc bệnh có thể là do di truyền. Nếu có cha mẹ, anh trai hoặc em gái bị ung thư phổi, thì bạn cũng có thể có nguy cơ mắc ung thư phổi cao.

    Hình ảnh của ung thư phổi giai đoạn 4

    Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể gặp các triệu chứng hoặc dấu hiệu sau. Tuy nhiên, một số người khác không có bất kỳ dấu hiệu gì hoặc nguyên nhân của triệu chứng chỉ là một tình trạng y tế khác không phải là ung thư.

    • Mệt mỏi
    • Ho
    • Khó thở
    • Đau ngực, nếu một khối u lan đến niêm mạc phổi hoặc các bộ phận khác của cơ thể ở gần phổi
    • Ăn mất ngon
    • Ho ra đờm hoặc chất nhầy
    • Ho ra máu
    • Giảm cân không rõ nguyên nhân
    • Khàn tiếng

    Đối với những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ không có triệu chứng có thể chụp Xquang hoặc CT để kiểm tra.

    Hầu hết những người mắc bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ đều được chẩn đoán khi khối u phát triển, chiếm không gian hoặc bắt đầu gây ra các vấn đề với bộ phận của cơ thể gần phổi. Một khối u phổi cũng có thể tạo ra chất lỏng tích tụ lại trong phổi hoặc không gian xung quanh phổi hoặc đẩy không khí ra khỏi phổi và làm cho phổi bị xẹp. Điều này sẽ ngăn oxy đi vào cơ thể và carbon dioxide đi ra khỏi cơ thể bằng cách ngăn chặn luồng không khí vào phổi hoặc sử dụng hết không gian cần thiết để oxy đi vào và carbon dioxide đi ra khỏi phổi.

    Ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể lan bất cứ nơi nào trong cơ thể thông qua quá trình di căn. Vị trí phổ biến nhất đến các hạch bạch huyết, các bộ phận khác của phổi, xương, não, gan và tuyến thượng thận. Di căn từ ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể gây ra:

    Hiếm khi, một khối u phổi có thể giải phóng ra hormone gây ra các vấn đề như nồng độ canxi trong máu thấp hoặc cao.

    Các triệu chứng như: mệt mỏi, cảm thấy khó chịu hoặc không khỏe và chán ăn không nhất thiết là do di căn. Ung thư ở bất cứ vị trí trong cơ thể cũng có thể khiến người bệnh cảm thấy không khỏe theo cách chung.

    Dấu hiệu ho ra máu ở người bệnh ung thư phổi

    Nếu ung thư được chẩn đoán, việc giảm các triệu chứng vẫn là một phần quan trọng trong chăm sóc và điều trị ung thư. Điều này có thể được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ. Nó thường được bắt đầu ngay sau khi chẩn đoán và tiếp tục trong suốt quá trình điều trị.

    Các giai đoạn bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ được chia thành 5 giai đoạn:

    • Giai đoạn 0: Bệnh ở thời điểm này là ung thư tại chỗ và không phát triển thành các mô lân cận và lan ra ngoài phổi
    • Giai đoạn 1: Ung thư phổi tế bào không nhỏ ở giai đoạn này là một khối u nhỏ chưa lan đến bất kỳ hạch bạch huyết nào, nên bác sĩ có thể loại bỏ hoàn toàn. Giai đoạn này được chia thành hai thời kỳ theo kích thước của khối u: Khối u IA có kích thước nhỏ hơn 3 cm và Khối u IB có kích thước lớn hơn 3cm nhưng nhỏ hơn 4cm.
    • Giai đoạn 2: Giai đoạn này cũng được chia thành hai thời kỳ: ung thư IIA với những khối u lớn hơn 4cm nhưng nhỏ hơn 5cm (chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó) và ung thư IIB với những khối u có kích thước từ 5cm trở xuống đã di căn đến các hạch bạch huyết hoặc các khối u lớn hơn 5cm nhưng chưa lan đến các hạch bạch huyết.
    • Giai đoạn 3: Ung thư phổi tế bào không nhỏ giai đoạn này được phân loại là IIIA, IIIB hoặc IIIC. Giai đoạn ung thư phổi tế bào không nhỏ dựa trên kích thước khối u và các hạch bạch huyết ung thư đã di căn sang. Ung thư giai đoạn 3 chưa lan sang các bộ phận khác của cơ thể.
    • Giai đoạn 4: Có nghĩa là ung thư phổi đã lan đến hơn 1 vị trí trong phổi, chất lỏng bao quanh phổi hoặc tim hoặc các bộ phận xa của cơ thể thông qua máu. Ung thư phổi tế bào không nhỏ có nhiều khả năng lây lan đến não, xương, gan và tuyến thượng thận.

    cơ quan khác trong cơ thể người bệnh

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ như thế nào?

    Ung thư phổi không tế bào nhỏ cũng như những bệnh lý khác, phát hiện càng sớm, điều trị càng hiệu quả. Ung thư phổi phát triển qua các giai đoạn từ 0 đến 4. Tùy từng giai đoạn tiến triển của bệnh, thời điểm phát hiện và thể trạng người mắc mà áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau. Ngày nay, với sự tiến bộ của y học , ngày càng nhiều phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ ra đời, giúp người mắc bệnh có thêm cơ hội sống. Cụ thể các phương pháp điều trị bệnh trong từng giai đoạn như sau:

    Ung thư phổi khi đến giai đoạn 4 di căn đến

    Ở giai đoạn 0, tế bào ung thư chưa xâm lấn vào mô phổi hay các vùng khác trong cơ thể. Vì vậy, khối u này không cần đến xạ trị hay hóa trị mà có thể xử lý bằng phẫu thuật.

    Nếu bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn 1, người mắc thường được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u. Đối với những trường hợp có nguy cơ tái phát sau phẫu thuật sẽ được chỉ định thêm hóa trị kết hợp để tiêu diệt tận gốc tế bào ung thư.

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 0:

    Khi ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển đến giai đoạn 2, người mắc vẫn được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ và hóa trị tùy vào sức khỏe toàn trạng.

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 2:

    Hóa trị và xạ trị có thể thực hiện cùng nhau, được gọi là hóa trị liệu đồng thời hoặc cũng có thể được thực hiện tuần tự.

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3:

    Phẫu thuật và xạ trị thường không phải là phương pháp điều trị chính đối với người bị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 4 bởi khi dó tế bào ác tính đã di căn đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Trong một số ít trường hợp, người mắc có thể được phẫu thuật nếu khối u di căn trong não hoặc tuyến thượng thận, nhưng với điều kiện đó là nơi duy nhất ung thư đã lan rộng.

    Hầu hết những người ở giai đoạn này phải áp dụng phương pháp điều trị toàn thân như hóa trị liệu, liệu pháp mục tiêu hoặc liệu pháp miễn dịch.

    Hỗ trợ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng sản phẩm thảo dược Fucoidan Vua đến từ Nhật Bản

    Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

    Bên cạnh các phương pháp hóa, xạ trị, liệu pháp miễn dịch thì các chuyên gia Nhật Bản khuyên rằng, để nâng cao hiệu quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, người mắc nên kết hợp sử dụng sản phẩm có thành phần từ Fucoidan Mozuku và nấm Agaricus như TPBVSK King Fucoidan & Agaricus.

    Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 4:

    Lý do khiến Fucoidan vua được đa số bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ sử dụng và giới chuyên môn đánh giá cao vì hàm lượng fucoidan tinh khiết có trong sản phẩm ở ngưỡng cao và được kết hợp với nấm Agaricus. Fucoidan từ lâu đã được thế giới công nhận có thể tấn công tế bào ung thư nhằm góp phần thúc đẩy chúng đi theo con đường Apoptosis tự hủy diệt. Bên cạnh đó, hợp chất này còn góp phần hỗ trợ ngăn chặn tái tạo mạch máu mới quanh tế bào ung thư, góp phần giảm bớt tác dụng phụ do phương thức điều trị gây ra. Đây chính là khác biệt của Fucoidan so với các phương pháp điều trị ung thư khác như hóa trị liệu. Nấm Agaricus làm tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch thông qua việc kích thích các tế bào miễn dịch hoạt động “mạnh mẽ” hơn.

    Do đó, ngoài giúp hỗ trợ điều trị, 2 hoạt chất này còn phát huy vai trò phòng tránh mắc bệnh và giảm nguy cơ di căn của tế bào ung thư hiệu quả.

    Sản phẩm Fucoidan vua là sản phẩm duy nhất đạt chứng nhận GMP Nhật Bản tại Việt Nam và được Bộ y té cấp phép ban hành.

    Như vậy, TPBVSK King Fucoidan & Agaricus là công thức toàn diện dành cho những trường hợp mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ trước, trong và sau khi điều trị phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

    Fucoidan Vua và phản hồi của khách hàng

    King Fucoidan & Agaricus

    “Sau khi dùng King Fucoidan & Agaricus – (Fucoidan Vua) thì tôi thấy thể trạng của mình tốt hơn. Sở dĩ sản phẩm cũng đã được chứng nhận bởi Bộ Y Tế, có tem nhãn chống hàng giả nên tôi rất yên tâm và sử dụng suốt. Sau 3-6 tháng đi xét nghiệm lại thì tôi thấy chỉ số sinh hóa của mình rất tốt, thể lực của mình càng ngày càng tăng. Sau xạ trị thì tôi có nám và tàn nhang nhưng sản phẩm này nó cũng giúp bay dần. Trước đây thì hay phải mua xách tay rất khó khăn nhưng giờ đã có công ty phân phối tại Việt Nam rồi nên tôi rất yên tâm”.

    Ghi nhận hiệu quả của Fucoidan Vua từ các chuyên gia đầu ngành

    THÔNG TIN HỮU ÍCH:

    King Fucoidan & Agaricus (Fucoidan Vua) – Ức chế sự phát triển của tế bào ung thư phổi

    Cô Kim Lan – Hà Nội chia sẻ về King Fucoidan & Agaricus (Fucoidan Vua) trên VTV2

    Chứng nhận đạt chuẩn GMP Nhật Bản

    Bác Vũ Tuấn Anh – Cao Bằng bị ung thư dạ dày và được bác sĩ trả về từ năm 2022 nhưng nhờ uống King Fucoidan & Agaricus – (Fucoidan Vua), kỳ tích đã xảy ra, bác vẫn duy trì sự sống cho đến nay Bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh – Bệnh viện 115 công nhận tác dụng của Fucoidan Vua Hình ảnh theo dõi tế bào ung thư phổi khi có hoạt chất Fucoidan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ
  • Triệu Chứng, Biểu Hiện Ung Thư Phổi Báo Hiệu Phải Đi Khám Ngay
  • Điểm Danh 8 Dấu Hiện Nhằm Phát Hiện Sớm Ung Thư Phổi
  • Dấu Hiệu Ung Thư Phổi Di Căn Xương
  • Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Nên Và Không Nên Ăn Gì?
  • So Sánh Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Và Không Phải Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Và Những Điều Cần Biết
  • Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (Nsclc)
  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ: Những Điều Nên Biết
  • Ung thư phổi tế bào nhỏ và không phải tế bào nhỏ gây ra các triệu chứng tương tự. Đôi khi, các triệu chứng không xuất hiện cho đến khi ung thư đến giai đoạn sau.

    Các triệu chứng bao gồm:

    Các triệu chứng của ung thư tế bào nhỏ và không phải tế bào nhỏ là tương tự nhau, nhưng ung thư tế bào nhỏ lây lan nhanh hơn.

    Một người có thể có nhiều khả năng gặp các triệu chứng sau khi ung thư phổi đã đến giai đoạn sau.

    ung thư phổi tế bào nhỏ và không phải tế bào nhỏ.

    Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây ung thư tế bào nhỏ và không phải tế bào nhỏ có xu hướng tương tự nhau.

    Hút thuốc là yếu tố rủi ro chính gây nên ung thư tế bào nhỏ và không phải tế bào nhỏ . Khói và các hóa chất mà nó chứa có thể làm hỏng phổi. Điều này có thể dẫn đến những thay đổi tế bào có thể dẫn đến ung thư.

    Các yếu tố rủi ro khác bao gồm :

    • Tiếp xúc với khói thuốc lá
    • Sống trong một khu vực có ô nhiễm không khí đáng kể
    • Tuổi lớn hơn
    • Tiếp xúc với bức xạ trong quá khứ
    • Tiếp xúc với asen và các hóa chất khác
    • Tiếp xúc với amiăng, niken, crom, bồ hóng hoặc nhựa đường
    • Có tiền sử gia đình bị ung thư phổi
    • Bị nhiễm hiv

    Hút thuốc là một yếu tố nguy cơ chính của ung thư phổi.

    Giai đoạn ung thư mô tả nó đã lan rộng bao xa trong cơ thể.

    Có nhiều cách khác nhau để mô tả các giai đoạn. Một cách đơn giản là:

    • Nội địa hóa: Điều này có nghĩa là ung thư chỉ ở một nơi.
    • Khu vực: Ung thư đã lan đến các mô lân cận.
    • Xa xôi: Ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, ví dụ đến gan.

    Ngoài ra còn có giai đoạn 0, hay ung thư biểu mô tại chỗ. Ở giai đoạn này, có thể có các tế bào tiền ung thư. Đây chưa phải là ung thư, nhưng chúng có thể trở thành ác tính trong thời gian.

    Giai đoạn 0 của ung thư phổi có nghĩa là bác sĩ không thể phát hiện tế bào ung thư từ các phương pháp chẩn đoán hình ảnh truyền thống, nhưng các xét nghiệm đã phát hiện ra các tế bào tiền ung thư trong chất nhầy hoặc các nơi khác trong cơ thể.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

    Đối với loại ung thư này, các bác sĩ thường sử dụng hệ thống bốn giai đoạn .

    • Giai đoạn 1: Điều này biểu thị rằng ung thư chỉ ở phổi.
    • Giai đoạn 2: Ung thư đã đến các hạch bạch huyết gần đó.
    • Giai đoạn 3: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết khác ở ngực, có thể đến những người ở giữa hoặc bên kia của ngực.
    • Giai đoạn 4: Ung thư đã lan đến cả phổi, đến các bộ phận khác của cơ thể hoặc cả hai.

    Các giai đoạn của ung thư phổi tế bào nhỏ

    Các bác sĩ thường phân loại ung thư phổi tế bào nhỏ với một trong hai giai đoạn:

    • Giai đoạn giới hạn: Điều này có nghĩa là ung thư nằm ở một bên ngực. Nó có thể ở một phổi và có thể các hạch bạch huyết gần đó.
    • Giai đoạn rộng: Ung thư đã lan sang các bộ phận khác của ngực và các cơ quan khác.

    Một số bác sĩ sử dụng thêm giai đoạn cho ung thư phổi tế bào nhỏ.

    Nếu một người gặp bác sĩ về ho dai dẳng và các triệu chứng ung thư phổi khác, bác sĩ sẽ đặt câu hỏi và lấy tiền sử bệnh. Họ cũng sẽ thực hiện kiểm tra thể chất.

    Nếu ung thư phổi có thể có mặt, bác sĩ cũng sẽ yêu cầu quét hình ảnh, chẳng hạn như chụp X-quang hoặc CT và tìm kiếm các dấu hiệu của khối u, sẹo hoặc tích tụ chất lỏng.

    Họ cũng có thể yêu cầu các mẫu đờm để thực hiện xét nghiệm đờm. Điều này có thể giúp chỉ ra liệu ung thư có mặt hay không. Bác sĩ có thể sẽ yêu cầu người đó cung cấp một mẫu mỗi sáng trong 3 ngày liên tiếp.

    Sinh thiết có thể hiển thị:

    Họ cũng có thể thực hiện các xét nghiệm khác để xác định liệu ung thư đã lan ra ngoài phổi hay chưa.

    Sau khi chẩn đoán, bác sĩ sẽ mô tả các lựa chọn điều trị và xây dựng kế hoạch điều trị.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch sẽ bao gồm: loại ung thư

    Bởi vì tình hình của mỗi người là khác nhau, nên việc điều trị sẽ khác nhau.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

    Các lựa chọn điều trị cho bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ bao gồm :

      Một bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ các tế bào ung thư và bất kỳ hạch bạch huyết gần đó có thể bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nếu ung thư ảnh hưởng đến một phần lớn của phổi, phẫu thuật có thể không thể thực hiện được.
      Một bác sĩ sẽ quản lý các loại thuốc mạnh có thể tiêu diệt tế bào ung thư.
      Nếu một khối u đã chặn một phần đường thở, bác sĩ phẫu thuật có thể chèn stent.
      Một bác sĩ X quang sẽ hướng một chùm bức xạ về phía các tế bào ác tính để tiêu diệt chúng.
      Những loại thuốc này nhắm đến các gen cụ thể hoặc các yếu tố khác giúp tăng khả năng phát triển của bệnh ung thư. Chặn các yếu tố này có thể giúp ngăn chặn hoặc trì hoãn sự phát triển của một số loại ung thư.
      Phương pháp điều trị này nhằm tăng cường khả năng bảo vệ cơ thể chống lại ung thư của hệ thống miễn dịch. Đó là một điều trị mới nổi.

    Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ, điều trị chủ yếu nhằm mục đích quản lý bệnh.

    Các tùy chọn bao gồm:

      Đó là phương pháp điều trị chính.
      Có thể giúp tăng hiệu quả của hóa trị liệu hoặc giúp ngăn ngừa ung thư lan đến não
      Khi ung thư chưa đến các hạch bạch huyết, điều này rất hiếm

    Các bác sĩ có thể sử dụng kết hợp các phương pháp điều trị ung thư phổi, tùy thuộc vào nhu cầu của từng người, giai đoạn ung thư và vị trí của khối u.

    Latest posts by BS Võ Lan Phương ( see all)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì? Hệ Thống Y Tế Thu Cúc
  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Và Những Hữu Ích. Click Xem Ngay!
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Giai Đoạn Sớm Không Phẫu Thuật Được, Đâu Là Lựa Chọn Thay Thế?
  • Johan Cruyff Bị Ung Thư Phổi: Trận Chiến Cuối Cùng Của ‘thánh Johan’
  • Lựa Chọn Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giai Đoạn Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Và Những Điều Cần Biết
  • Người Bị Ung Thư Phổi Kiêng Ăn Gì Theo Tư Vấn Của Bác Sĩ?
  • Bệnh Ung Thư Phổi Sống Được Bao Lâu? Cách Kéo Dài Sự Sống Cho Bệnh Nhân
  • Thời Gian Sống Của Ung Thư Phổi Giai Đoạn Cuối Kéo Dài Bao Lâu?
    • Chất phóng xạ
    • Điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể gây ra tác dụng phụ.
    • Bệnh nhân có thể muốn nghĩ về việc tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng.
    • Bệnh nhân có thể tham gia các thử nghiệm lâm sàng trước, trong hoặc sau khi bắt đầu điều trị ung thư.
    • Các xét nghiệm tiếp theo có thể cần thiết.

    Có nhiều cách điều trị khác nhau cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.

    • Các loại phương pháp điều trị khác nhau có sẵn cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
    • Một số phương pháp điều trị là tiêu chuẩn(phương pháp điều trị hiện đang được sử dụng), và một số phương pháp đang được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng .
    • Một thử nghiệm lâm sàng điều trị là một nghiên cứucó ý nghĩa giúp cải thiện các phương pháp điều trị hiện tại hoặc có được thông tin về các phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân ung thư .
    • Khi các thử nghiệm lâm sàng cho thấy một phương pháp điều trị mới tốt hơn điều trị tiêu chuẩn, phương pháp điều trị mới có thể trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn.
    • Bệnh nhân có thể muốn nghĩ về việc tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng. Một số thử nghiệm lâm sàng chỉ mở cho những bệnh nhân chưa bắt đầu điều trị.

    Mười loại điều trị tiêu chuẩn được sử dụng:

    Bốn loại phẫu thuật được sử dụng để điều trị ung thư phổi :

      Cắt bỏ nêm : Phẫu thuật để loại bỏ một khối u và một số mô bình thường xung quanh nó. Khi lấy một lượng mô lớn hơn một chút, nó được gọi là cắt bỏ đoạn .
      Cắt thùy : Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ thùy (phần) của phổi.
      Phẫu thuật cắt phổi : Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ một phổi.
    • Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư sử dụng tia Xnăng lượng cao hoặc các loại phóng xạ khác để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc giữ cho chúng không phát triển.
    • Có hai loại xạ trị: Xạ trị bên ngoàisử dụng một máy bên ngoài cơ thể để gửi bức xạ về phía ung thư và Xạ trị bên trong sử dụng chất phóng xạ được niêm phong trong kim, hạt , dây điện hoặc ống thông được đặt trực tiếp vào hoặc gần ung thư.
    • Liệu pháp xạ trị cơ thể lập thểlà một loại xạ trị ngoài. Thiết bị đặc biệt được sử dụng để đặt bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần điều trị bức xạ. Mỗi ngày một lần trong vài ngày, một máy xạ trị nhắm đến một lượng phóng xạ lớn hơn bình thường trực tiếp vào khối u.
    • Bằng cách cho bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần điều trị, sẽ ít gây tổn hại đến các mô khỏe mạnh gần đó. Thủ tục này còn được gọi là xạ trị chùm tia ngoài lập thể và xạ trị stereotaxic.
    • Phẫu thuật xạ hìnhlà một loại xạ trị ngoài được sử dụng để điều trị ung thư phổi đã lan đến não. Một khung đầu cứng được gắn vào hộp sọ để giữ cho đầu đứng yên trong quá trình điều trị bức xạ.
    • Đối với các khối u trong đường thở, bức xạ được truyền trực tiếp vào khối u thông qua nội soi.
    • Cách thức xạ trị được đưa ra tùy thuộc vào loại và giai đoạnung thư được điều trị. Nó cũng phụ thuộc vào nơi ung thư được tìm thấy.
    • Liệu pháp xạ trị bên ngoài và bên trong được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
    • Hóa trị là một phương pháp điều trị ung thư sử dụng thuốcđể ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư, bằng cách tiêu diệt các tế bào hoặc bằng cách ngăn chặn chúng phân chia.
    • Khi hóa trị được thực hiện bằng miệng hoặc tiêmvào tĩnh mạch hoặc cơ, thuốc sẽ xâm nhập vào máu và có thể đến các tế bào ung thư trên toàn cơ thể ( hóa trị liệu toàn thân ).
    • Khi hóa trị được đặt trực tiếp vào dịch não tủy, một cơ quan hoặc khoang cơ thể như bụng , các loại thuốc chủ yếu ảnh hưởng đến các tế bào ung thư ở những khu vực đó ( hóa trị liệu khu vực ).
    • Liệu pháp nhắm mục tiêulà một loại điều trị sử dụng thuốc hoặc các chất khác để tấn công các tế bào ung thư cụ thể.
    • Các liệu pháp nhắm mục tiêu thường gây ra ít tác hại hơn cho các tế bào bình thường so với hóa trị hoặc xạ trị.
    • Kháng thể đơn dòngvà thuốc ức chế tyrosine kinase là hai loại liệu pháp nhắm mục tiêu chính đang được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tiến triển , di căn hoặc tái phát .

    Có nhiều loại khác nhau của liệu pháp kháng thể đơn dòng:

    • Liệu pháp ức chế yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu(VEGF): Tế bào ung thư tạo ra một chất gọi là VEGF , khiến các mạch máu mới hình thành ( hình thành mạch máu ) và giúp ung thư phát triển.
    • Các chất ức chế VEGF ngăn chặn VEGF và ngăn chặn các mạch máu mới hình thành. Điều này có thể tiêu diệt các tế bào ung thư vì chúng cần các mạch máu mới để phát triển.
    • Bevacizumabvà ramucirumab là chất ức chế VEGF và chất ức chế sự hình thành mạch .
    • Biểu bì tăng trưởng thụ thể yếu tố (EGFR) ức chếđiều trị: EGFRs là protein được tìm thấy trên bề mặt của tế bào nhất định, kể cả tế bào ung thư. Yếu tố tăng trưởng biểu bì gắn vào EGFR trên bề mặt tế bào và khiến các tế bào phát triển và phân chia.
    • Các chất ức chế EGFR ngăn chặn thụ thểvà ngăn chặn yếu tố tăng trưởng biểu bì gắn vào tế bào ung thư. Điều này ngăn chặn tế bào ung thư phát triển và phân chia. Cetuximab và necitumumab là những chất ức chế EGFR.

    Thuốc ức chế tyrosine kinase

    • Các chất ức chế tyrosine kinase của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR): EGFRlà các protein được tìm thấy trên bề mặt và bên trong một số tế bào, bao gồm cả các tế bào ung thư.
    • Yếu tố tăng trưởng biểu bì gắn vào EGFR bên trong tế bào và gửi tín hiệu đến khu vực tyrosine kinase của tế bào, cho biết tế bào phát triển và phân chia.
    • Các chất ức chế tyrosine kinase của EGFR ngăn chặn các tín hiệu này và ngăn chặn tế bào ung thư phát triển và phân chia. Erlotinib, gefitinib , afatinib và osimertinib là những loại thuốc ức chế tyrosine kinase của EGFR. Một số loại thuốc này hoạt động tốt hơn khi cũng có đột biến (thay đổi) trong gen EGFR .
    • Các chất ức chế Kinaseảnh hưởng đến các tế bào có sự thay đổi gen nhất định: Một số thay đổi nhất định trong gen ALK , ROS1 , BRAFMEK và sự hợp nhất gen NTRK , gây ra quá nhiều protein.
    • Chặn các protein này có thể ngăn chặn ung thư phát triển và lan rộng. Crizotinibđược sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen ALKROS1 .
    • Ceritinib, alectinib , brigatinib và lorlatinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen ALK . Dabrafenibđược sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen BRAF .
    • Trametinibđược sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi gen MEK . Larotrectinib được sử dụng để ngăn chặn protein được tạo ra bởi phản ứng tổng hợp gen NTRK .
    • Liệu pháp miễn dịchlà phương pháp điều trị sử dụng hệ thống miễn dịch của bệnh nhân để chống lại ung thư.
    • Các chất được tạo ra bởi cơ thể hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm được sử dụng để tăng cường, định hướng hoặc khôi phục khả năng phòng vệ tự nhiên của cơ thể chống lại ung thư.
    • Loại điều trị ung thư này còn được gọi là liệu pháp sinh học hoặc trị liệu sinh học.

    Liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch là một loại liệu pháp miễn dịch.

    PHÓNG TO Chất ức chế kiểm tra miễn dịch. Các protein điểm kiểm tra, chẳng hạn như PD-L1 trên các tế bào khối u và PD-1 trên các tế bào T, giúp kiểm soát các phản ứng miễn dịch. Sự gắn kết của PD-L1 với PD-1 giữ cho các tế bào T không tiêu diệt các tế bào khối u trong cơ thể (bảng điều khiển bên trái). Ngăn chặn sự gắn kết của PD-L1 với PD-1 bằng chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (chống PD-L1 hoặc chống PD-1) cho phép các tế bào T tiêu diệt tế bào khối u (bảng bên phải).

    Liệu pháp miễn dịch sử dụng hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại ung thư. Hoạt hình này giải thích một loại liệu pháp miễn dịch sử dụng các chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch để điều trị ung thư.

      Liệu pháp laserlà phương pháp điều trị ung thư sử dụng chùm tia laser (chùm tia sáng hẹp) để tiêu diệt tế bào ung thư.

    Các loại điều trị mới đang được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng.

      Sự kết hợp mới của phương pháp điều trị đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
      Để biết thông tin về các tác dụng phụ gây ra bởi điều trị ung thư, xem trang Tác dụng phụ của chúng tôi.
    • Đối với một số bệnh nhân, tham gia thử nghiệm lâm sàngcó thể là lựa chọn điều trị tốt nhất. Thử nghiệm lâm sàng là một phần của quá trình nghiên cứu ung thư.
    • Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện để tìm hiểu xem phương pháp điều trị ung thư mới có an toàn và hiệu quả hay tốt hơn so với điều trị chuẩn.
    • Nhiều phương pháp điều trị ung thư tiêu chuẩn ngày nay dựa trên các thử nghiệm lâm sàng trước đó. Bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng có thể được điều trị tiêu chuẩn hoặc là một trong những người đầu tiên được điều trị mới.
    • Bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng cũng giúp cải thiện cách điều trị ung thư trong tương lai.
    • Ngay cả khi các thử nghiệm lâm sàng không dẫn đến các phương pháp điều trị mới hiệu quả, họ vẫn thường trả lời các câu hỏi quan trọng và giúp tiến hành nghiên cứu về phía trước.

    Các xét nghiệm tiếp theo có thể cần thiết.

    CHUYÊN KHOA NỘI TỔNG HỢP – BS LÊ THƯỢNG VŨ 80/23 Trần Quang Diệu, Phường 14 , Quận 3 , Hồ Chí Minh website: https://ungthuphoi.org/

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【Báo Động】Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Nguy Hiểm Hơn Bạn Nghĩ
  • ‘thánh’ Johan Cruyff Qua Đời Vì Bệnh Ung Thư Phổi
  • Ung Thư Phổi Có Lây Hay Không?
  • 5 Dấu Hiệu Sớm Của Ung Thư Phổi
  • Chăm Sóc Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Giai Đoạn Cuối
  • Tagrisso, Osimertinib Thuốc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Thuốc Đích Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Thuốc Đích Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Có Đột Biến Gen Alk
  • Về Thuốc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ (Nsclc) Có Đột Biến Alk (+)
  • Benny 72 Tuổi, Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2B
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2
  • Điều trị bước 1 ở bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nhỏ, giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn

    Thành phần và hàm lượng Tagrisso

    Thành phần hoạt chất:

    Tagrisso 40mg, mỗi viên chứa 47,7mg osimertinib mesylate tương đương 40mg osimertinib

    Tagrisso 80mg, mỗi viên chứa 95,4mg osimertinib mesylate tương đương 80mg osimertinib

    Thành phần tá dược Tagrisso

    Tá dược với tác dụng đã biết

    Thuốc có chứa 0,3mg natri trong mỗi viên 40 mg và 0,6 mg natri trong mỗi viên 80mg

    Mỗi viên có chứa mannitol, celulloze……

    Dạng bảo chế

    Viên nén bao phim

    Chỉ định điều trị t huốc Tagrisso

    Đơn trị liệu được chỉ định cho:

    – Điều trị bước 1 ở bệnh nhân trưởng thành ung thư phổi loại không tế bào nhỏ, giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến hoạt hoá thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (EGFR)

    – Điều trị bệnh nhân trưởng thành ung thư phổi loại không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến EGFRT790M dương tính

    Liều dùng và cách dùng

    Liều khuyến cáo là 80mg OSIMERTINIB một lần/ngày cho đến khi bệnh tiến triển trở lại hoặc xuất hiện độc tính phản ứng ngoại ý không thể chấp nhận

    Nếu quên một liều Tagrisso, nên uống thuốc ngay trừ phi liều kế tiếp sẽ được dùng trong vòng 12h, Tagrisso có thể uống kèm hoặc không kèm thức ăn.

    Điều chỉnh liều:

    Có thể cần ngưng liều và/hoặc điều chỉnh liều dựa trên mức độ an toàn và dung nạp của mỗi cá nhân. Nếu cần giảm liều, nên giảm xuống liều 40mg/lần/ngày.

    Thuốc dùng đường uống, nuột nguyên viên với nước, không được nghiền, bẻ, hoặc nhai

    Trường hợp bệnh nhân không thể nuốt viên thuốc, có thể phân tán viên thuốc vào trong 50ml nước không chứa cabonat. Thả nguyên viên thuốc vào nước, không được nghiền, khuấy đều cho đến khi nước phân tán và uống dịch thuốc ngay lập tức, nên dùng thêm nửa ly nước tráng ly để đảm bảo không còn cặn thuốc và uống ngay.

    Nếu cần dùng qua đường ống thông dạ dày nên dùng theo quy trình như trên nhưng lượng nước nên dùng 15ml nước ở lần pha đầu và 15ml nước tráng cặn

    Chống chỉ định

    Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc

    TAGRISSO được chứng minh giúp con người sống lâu hơn đáng kể trong khi khối u không phát triển hoặc lan rộng.

    Dựa vào kết quả của một nghiên cứu lâm sàng, thời gian sống trung vị là 18,9 tháng khi dùng TAGRISSO và 10,2 tháng với các liệu pháp trúng đích EGFR khác, erlotinib hoặc gefitinib.

    Trung vị là con số ở giữa trong một nhóm số được xếp từ thấp nhất đến cao nhất.

    TAGRISSO là gì?

    TAGRISSO là một loại thuốc theo toa điều trị ung thư phổi không tiểu bào (non-small cell lung cancer, NSCLC) đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể (di căn). TAGRISSO được dùng như phương pháp điều trị đầu tiên nếu các khối u có (các) gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor, EGFR) bất thường nhất định.

    Bác sĩ sẽ làm một xét nghiệm để đảm bảo rằng TAGRISSO phù hợp với quý vị. Hiện vẫn chưa xác định được liệu TAGRISSO có an toàn và hiệu quả với trẻ em.

    Thông Tin An Toàn Quan Trọng

    TAGRISSO có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm các vấn đề về phổi.

    TAGRISSO có thể gây ra các vấn đề phổi mà có thể dẫn đến tử vong. Các triệu chứng có thể tương tự như những triệu chứng của ung thư phổi. Hãy báo bác sĩ ngay nếu quý vị có bất kỳ triệu chứng về phổi mới hoặc trở nên tệ hơn, bao gồm khó thở, thở dốc, ho hoặc sốt.

    Các liệu pháp trúng đích làm đúng như những gì quý vị nghĩ

    Liệu pháp trúng đích là một phương pháp điều trị nhắm vào một loại ung thư cụ thể. Các liệu pháp này tác dụng bằng cách ngăn chặn tín hiệu mà làm cho tế bào ung thư phát triển và lan rộng.

    TAGRISSO là một loại liệu pháp trúng đích được gọi là thuốc kháng ung thư bằng con đường

    ức chế enzyme tyrosine kinase (tyrosine kinase inhibitor, TKI). Loại liệu pháp này ngăn chặn một hoạt động cụ thể trong tế bào và giữ không cho chúng phát triển và lan rộng.

    “Tôi rất may mắn vì khối u của tôi EGFR dương tính. Điều này có nghĩa là tôi có thể sử dụng liệu pháp trúng đích.” – Denny

    Chỉ Định Dùng TAGRISSO Và Thông Tin An Toàn Quan Trọng

    TAGRISSO là một loại thuốc theo toa điều trị ung thư phổi không tiểu bào (non-small cell lung cancer, NSCLC) đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể (di căn). TAGRISSO được

    sử dụng:

    * như phương pháp điều trị đầu tiên nếu các khối u có (các) gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor, EGFR) bất thường nhất định

    hoặc

    * cho một loại gen EGFR nhất định đã được điều trị với thuốc kháng ung thư EGFR bằng con đường ức chế enzyme tyrosine kinase (tyrosine kinase inhibitor, TKI) nhưng không có hiệu quả hoặc không còn hiệu quả nữa

    Bác sĩ sẽ làm một xét nghiệm để đảm bảo rằng TAGRISSO phù hợp với quý vị.

    Hiện vẫn chưa xác định được liệu TAGRISSO có an toàn và hiệu quả với trẻ em.

    Thông Tin An Toàn Quan Trọng

    TAGRISSO có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm:

    * vấn đề về phổi. TAGRISSO có thể gây ra các vấn đề phổi mà có thể dẫn đến tử vong. Các triệu chứng có thể tương tự như những triệu chứng của ung thư phổi. Hãy báo bác sĩ ngay nếu quý vị có bất kỳ triệu chứng về phổi mới hoặc trở nên tệ hơn, bao gồm khó thở, thở dốc, ho hoặc sốt

    * vấn đề về tim, bao gồm suy tim. TAGRISSO có thể gây ra các vấn đề về tim mà có thể dẫn đến tử vong. Bác sĩ cần kiểm tra chức năng tim của quý vị trước khi bắt đầu dùng TAGRISSO và trong khi điều trị khi cần.

    Hãy báo bác sĩ ngay nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng của vấn đề về tim nào sau đây: cảm giác như tim đang đập thình thịch hoặc nhanh, thở dốc, sưng mắt cá chân và bàn chân, cảm thấy choáng váng

    * có vấn đề với chất điện phân, như natri (sodium), kali (potassium), canxi (calcium) hoặc magiê (magnesium)

    * có tiền sử gặp các vấn đề về mắt

    * đang mang thai hoặc dự định có thai.

    TAGRISSO có thể gây hại cho thai nhi. Hãy báo bác sĩ ngay nếu quý vị có thai trong khi điều trị với TAGRISSO hoặc nghĩ rằng quý vị có thể mang thai

    Phụ nữ có khả năng mang thai nên sử dụng phương pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị với TAGRISSO và trong 6 tuần sau liều TAGRISSO cuối

    * vấn đề về mắt. TAGRISSO có thể gây ra các vấn đề về mắt. Hãy báo bác sĩ ngay nếu có các triệu chứng của các vấn đề về mắt, có thể bao gồm chảy nước mắt, nhạy cảm với cùng ánh sáng, đau mắt, đỏ mắt, hoặc thay đổi thị lực. Bác sĩ có thể chuyển quý vị đến gặp bác sĩ chuyên khoa mắt (bác sĩ nhãn khoa) nếu quý vị gặp các vấn đề về mắt khi dùng TAGRISSO

    Trước khi dùng TAGRISSO, hãy cho bác sĩ biết về tất cả tình trạng sức khỏe, bao gồm nếu quý vị:

    * có vấn đề về phổi hoặc hô hấp

    * có vấn đề về tim, bao gồm tình trạng gọi là hội chứng QTc dài

    Nam giới có bạn tình nữ, người có khả năng mang thai, nên sử dụng phương pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị với TAGRISSO và trong 4 tháng sau liều TAGRISSO cuối cùng

    * đang cho con bú hoặc dự định cho con bú. Vẫn chưa xác định được liệu TAGRISSO có truyền vào sữa mẹ hay không. Không cho con bú trong khi điều trị với TAGRISSO và trong 2 tuần sau liều TAGRISSO cuối cùng. Tham khảo với bác sĩ về cách cho con bú tốt nhất trong thời gian này

    Cho bác sĩ biết tất cả các loại thuốc quý vị dùng, bao gồm thuốc theo toa và thuốc không theo toa, vitamin, hoặc các loại thảo dược bổ sung. Đặc biệt cho bác sĩ biết nếu quý vị dùng thuốc điều trị bệnh tim hoặc huyết áp

    Các tác dụng phụ thông thường nhất của TAGRISSO là:

    * tiêu chảy

    * nổi mẩn

    * khô da

    * thay đổi ở móng tay/chân, bao gồm: đỏ, dễ tổn thương khi chạm vào, đau, viêm, dễ gãy (giòn), tách khỏi đệm thịt móng và rụng móng

    * lở miệng

    * mệt mỏi

    * giảm ngon miệng

    Cho bác sĩ biết nếu có bất kỳ tác dụng phụ nào gây khó chịu hoặc kéo dài không hết.

    Đây không phải là tất cả các tác dụng phụ có thể xảy ra của TAGRISSO. Để biết thêm thông tin, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ của quý vị.

    Giai đoạn ung thư

    Bác sĩ sẽ làm các xét nghiệm để xác định giai đoạn ung thư của quý vị. Ung thư phổi không tiểu bào (NSCLC) có 4 giai đoạn chính. Các giai đoạn này thường được mô tả bằng chữ số La Mã (giai đoạn I, giai đoạn II, giai đoạn III và giai đoạn IV). Chữ số càng nhỏ có nghĩa ung thư lây lan càng ít.

    Dấu ấn sinh học

    Xét nghiệm dấu ấn sinh học đôi khi còn gọi là xét nghiệm gen, xét nghiệm phân tử hoặc xét nghiệm đột biến gen. Việc này giúp bác sĩ hiểu loại ung thư quý vị mắc phải và phương pháp điều trị nào có thể hiệu quả nhất trong việc làm chậm hoặc chặn đứng quá trình phát triển của ung thư.

    Bệnh ung thư của quý vị có thể được xét nghiệm để tìm các dấu ấn sinh học của ung thư phổi không tiểu bào (NSCLC) phổ biến như:

    EGFR; ALK; PD-L1; BRAF; ROS1 Xét nghiệm dấu ấn sinh học rất quan trọng vì nó sẽ giúp quý vị và bác sĩ xác định phương pháp điều trị thích hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ
  • Kỹ Thuật Y Tế Nào Giúp Chẩn Đoán Bệnh Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ?
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Cập Nhật Năm 2022 2022
  • Lựa Chọn Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Như Thế Nào?
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Là Gì? Sống Được Bao Lâu?
  • Bệnh Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Và Những Điều Cần Biết
  • Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ (Nsclc)
  • Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ: Những Điều Nên Biết
  • Cách Chữa Ung Thư Phổi Kết Hợp Giữa Tây Y, Đông Y Và Khí Công.
  • Một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất, ung thư phổi thường xảy ra khi một tác nhân gây ung thư hoặc chất gây ung thư, kích hoạt sự phát triển của các tế bào bất thường trong phổi. Những tế bào này nhân lên khỏi tầm kiểm soát và cuối cùng tạo thành một khối u. Khi khối u phát triển, nó có thể chặn hoặc thu hẹp đường thở và gây khó thở. Cuối cùng, các tế bào khối u có thể lan rộng (di căn) đến các hạch bạch huyết gần đó và các bộ phận khác của cơ thể. Chúng bao gồm:

    Trong hầu hết các trường hợp, các chất gây ung thư kích hoạt ung thư phổi là các hóa chất được tìm thấy trong khói thuốc lá. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bệnh ung thư phổi được chẩn đoán ở những người chưa bao giờ hút thuốc.

    Ung thư phổi được chia thành hai nhóm: Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và ung thư phổi tế bào nhỏ. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) chiếm khoảng 85% trong tất cả các loại ung thư phổi. Những bệnh ung thư này được chia thành các nhóm nhỏ, dựa trên cách các tế bào của chúng nhìn dưới kính hiển vi:

    4.Adenosquamous ung thư biểu mô, ung thư biểu mô không biệt hóa bronchioloalveolar ung thư biểu mô. Đây là những Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) tương đối hiếm.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) có nhiều khả năng hơn ung thư tế bào nhỏ tại địa phương tại thời điểm chẩn đoán. Điều đó có nghĩa là ung thư chỉ giới hạn ở phổi hoặc nó không lan ra ngoài ngực. Kết quả là, nó thường có thể được điều trị bằng phẫu thuật. Nó có thể không đáp ứng tốt với hóa trị liệu (thuốc chống ung thư). Tuy nhiên, các xét nghiệm di truyền tinh vi có thể giúp dự đoán bệnh nhân nào có thể cho thấy phản ứng thuận lợi đối với các phương pháp điều trị cụ thể, bao gồm cả hóa trị.

    Thật không may, ngay cả khi các bác sĩ nghĩ rằng ung thư là cục bộ, nó thường quay trở lại sau phẫu thuật. Điều này có nghĩa là các tế bào ung thư đã bắt đầu lan rộng trước khi phẫu thuật, nhưng chúng chưa thể được phát hiện.

    Nguy cơ của bạn về tất cả các loại ung thư phổi, bao gồm Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), sẽ tăng lên nếu bạn:

    Trong một số trường hợp, Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) được phát hiện khi một người không có triệu chứng chụp X-quang ngực hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT) vì một lý do khác. Nhưng hầu hết những người bị Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ( NSCLC) đều có một hoặc nhiều triệu chứng sau: Ho không biến mất; Ho ra máu hoặc chất nhầy; Khò khè; Khó thở; Đau ngực; Sốt; Khó chịu khi nuốt; Khàn tiếng; Giảm cân; Chán ăn; Nhịp tim không đều do rung tâm nhĩ nếu ung thư chạm vào niêm mạc của tim.

    Nếu ung thư đã lan ra ngoài phổi, nó có thể gây ra các triệu chứng khác. Ví dụ, bạn có thể bị đau xương nếu nó đã lan đến xương của bạn.

    Nhiều trong số các triệu chứng này có thể được gây ra bởi các điều kiện khác. Gặp bác sĩ nếu bạn có triệu chứng để vấn đề có thể được chẩn đoán và điều trị đúng.

    Để tìm kiếm bằng chứng của bệnh ung thư, bác sĩ sẽ kiểm tra bạn, đặc biệt chú ý đến phổi và ngực của bạn. Anh ấy hoặc cô ấy sẽ yêu cầu kiểm tra hình ảnh để kiểm tra khối lượng phổi của bạn. Trong hầu hết các trường hợp, chụp X-quang ngực sẽ được thực hiện trước tiên.

    Nếu X-quang cho thấy bất cứ điều gì đáng ngờ, CT scan sẽ được thực hiện. Khi máy quét di chuyển xung quanh bạn, nó sẽ chụp được nhiều hình ảnh. Một máy tính sau đó kết hợp các hình ảnh. Điều này tạo ra một hình ảnh chi tiết hơn về phổi, cho phép các bác sĩ xác nhận kích thước và vị trí của một khối hoặc khối u.

    Bạn cũng có thể chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron (PET). Quét MRI cung cấp hình ảnh chi tiết về các bộ phận của cơ thể, nhưng họ sử dụng sóng radio và nam châm để tạo ra hình ảnh chứ không phải tia X. Quét PET nhìn vào chức năng của mô chứ không phải giải phẫu. Ung thư phổi có xu hướng cho thấy hoạt động trao đổi chất mạnh mẽ trên quét PET. Một số trung tâm y tế cung cấp kết hợp quét PET-CT.

    Nếu nghi ngờ ung thư dựa trên những hình ảnh này, sẽ có nhiều xét nghiệm hơn để chẩn đoán, xác định loại ung thư và xem nó có lan rộng không. Những xét nghiệm này có thể bao gồm:

    Sau khi ung thư đã được chẩn đoán, nó được chỉ định ở giai đoạn hiện tại. Các giai đoạn của Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) phản ánh kích thước của khối u và mức độ lan rộng của bệnh. Các giai đoạn I đến III được chia thành các loại A và B.

    – Các khối u giai đoạn I nhỏ và chưa xâm lấn vào các mô hoặc cơ quan xung quanh.

    – Các khối u giai đoạn II và III đã xâm lấn mô và / hoặc các cơ quan xung quanh và đã lan đến các hạch bạch huyết.

    – Các khối u giai đoạn IV đã lan ra ngoài ngực.

    Bạn có thể được kiểm tra các đột biến gen cụ thể. Biết về sự hiện diện của những đột biến này có thể giúp dự đoán liệu pháp nào sẽ tốt nhất. Chiến lược này có thể đặc biệt hữu ích ở một số bệnh nhân, chẳng hạn như phụ nữ mắc ung thư biểu mô tuyến phổi chưa bao giờ hút thuốc.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) sẽ tiếp tục phát triển và lan rộng cho đến khi nó được điều trị. Như với bất kỳ bệnh ung thư nào, ngay cả khi nó dường như được chữa khỏi sau khi điều trị, Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) có thể tái phát trở lại.

    Để giảm nguy cơ ung thư phổi,

    Lực lượng đặc nhiệm của Dịch vụ phòng ngừa Hoa Kỳ khuyến nghị sàng lọc ung thư phổi hàng năm bằng chụp cắt lớp điện toán liều thấp ở người trưởng thành từ 55 đến 80 tuổi:

    – Có lịch sử hút thuốc trong 30 năm (số năm gói được tính bằng cách nhân số lượng thuốc lá hút mỗi ngày với số năm bạn hút thuốc).

    – Hiện đang hút thuốc hoặc đã bỏ thuốc trong vòng 15 năm qua.

    – Có đủ sức khỏe để trải qua phẫu thuật ung thư phổi.

    Quyết định tiến hành sàng lọc ung thư phổi không đơn giản. Nhiều người được gọi là bất thường được tìm thấy trên CT scan không phải là ung thư. Tuy nhiên, bệnh nhân thường sẽ trải qua thử nghiệm rộng rãi, bao gồm cả phẫu thuật, để tìm hiểu. Sàng lọc CT là một quyết định cá nhân được đưa ra với bác sĩ của bạn.

    Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) không lan ra ngoài ngực. Loại phẫu thuật sẽ phụ thuộc vào mức độ ung thư và tình trạng của bệnh nhân. Nó cũng sẽ phụ thuộc vào việc các tình trạng phổi khác, chẳng hạn như khí phế thũng hoặc COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), có mặt hay không.

    Các hạch bạch huyết cũng được loại bỏ và kiểm tra xem ung thư đã lan rộng chưa.

    Một số bác sĩ phẫu thuật sử dụng nội soi lồng ngực có hỗ trợ bằng video (VATS) để loại bỏ các khối u nhỏ, ở giai đoạn đầu, đặc biệt là nếu các khối u nằm gần rìa ngoài của phổi. (VATS cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư phổi). Bởi vì các vết mổ cho VATS là nhỏ, kỹ thuật này ít xâm lấn hơn so với thủ tục mở truyền thống.

    Bởi vì phẫu thuật sẽ loại bỏ một phần hoặc toàn bộ phổi, việc thở có thể khó khăn hơn sau đó, đặc biệt là ở những bệnh nhân mắc các bệnh phổi khác (ví dụ khí phế thũng). Các bác sĩ có thể kiểm tra chức năng phổi trước khi phẫu thuật, giúp xác định nguy cơ phẫu thuật và dự đoán chức năng phổi sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi phẫu thuật.

    Tùy thuộc vào mức độ ung thư đã lan rộng, điều trị có thể bao gồm hóa trị liệu (sử dụng thuốc chống ung thư) và xạ trị. Đây có thể được đưa ra trước và / hoặc sau khi phẫu thuật.

    Khi khối u đã lan rộng đáng kể, hóa trị có thể được khuyến nghị để làm chậm sự phát triển của nó, ngay cả khi nó không thể chữa khỏi bệnh. Hóa trị đã được chứng minh là làm giảm các triệu chứng và kéo dài cuộc sống trong trường hợp Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) tiến triển.

    Xạ trị cũng có thể làm giảm triệu chứng. Nó thường được sử dụng để điều trị Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) đã lan đến não hoặc xương và gây đau. Nó cũng có thể được sử dụng một mình hoặc với hóa trị liệu để điều trị ung thư bị giới hạn ở ngực. Thật không may, hóa trị và xạ trị không có tác dụng đối với ung thư phổi tế bào lớn như đối với các khối u phổi không phải tế bào nhỏ khác.

    Những người không chịu được phẫu thuật do các vấn đề y tế nghiêm trọng khác có thể được xạ trị, có hoặc không có hóa trị, để thu nhỏ khối u. Một phương pháp mới hơn trong việc cung cấp xạ trị, CyberKnife, sử dụng các chùm bức xạ tập trung cao độ. Nó đòi hỏi ít phương pháp điều trị hơn các loại xạ trị khác.

    Gọi cho bác sĩ kịp thời nếu bạn có bất kỳ triệu chứng ung thư phổi, đặc biệt là nếu bạn hút thuốc hoặc đã có một công việc tiếp xúc nhiều với amiăng.

    Những người hút thuốc nặng hiện tại và trước đây có thể muốn hỏi bác sĩ của họ một chương trình sàng lọc CT ngực có thể phù hợp với họ.

    Triển vọng phụ thuộc vào loại ung thư phổi, giai đoạn của nó và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Nhìn chung, tiên lượng kém, đặc biệt là nếu ung thư đã lan ra ngoài ngực.

    Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) 1599 Clifton Road, NEAtlanta, GA 30329-4251Toll-Free: 800-227-2345TTY: 866-228-4327

    Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ61 Broadway, Tầng 6 New York, NY 10006Phone: 212-315-8700Toll-Free: 800-548-8252

    Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia (NHLBI) PO Box 30105Bethesda, MD 20824-0105Phone: 301-592-8573TTY: 240-629-3255

    Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) Tòa nhà Ariel Rios1200 Pennsylvania Ave., NWWashington, DC 20460Phone: 202-272-0167

    Cục Quản lý An toàn & Sức khỏe Nghề nghiệp Hoa Kỳ (OSHA) 200 Hiến pháp Ave.Washington, DC 20220Phone: 202-693-1999Toll-Free: 800-321-6742TTY: 877-889-5627

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Và Không Phải Tế Bào Nhỏ
  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì? Hệ Thống Y Tế Thu Cúc
  • Ung Thư Phổi Không Nên Ăn Gì
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Và Những Hữu Ích. Click Xem Ngay!
  • Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Giai Đoạn Sớm Không Phẫu Thuật Được, Đâu Là Lựa Chọn Thay Thế?
  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Và Những Điều Mà Người Bệnh Cần Biết
  • ?ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ
  • Tìm Hiểu Ung Thư Phổi Di Căn Não
  • Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Di Căn Não Cải Thiện Ngoạn Mục Nhờ Liệu Pháp Điều Trị Nhắm Trúng Đích
  • Dấu Hiệu Ung Thư Phổi Di Căn Não
  • – Ung thư phổi tế bào nhỏ hay còn gọi là ung thư tế bào yến mạch. Khoảng 10% đến 15% ca mắc ung thư phổi thuộc loại này. Bệnh chia làm 2 loại là ung thư biểu mô tế bào nhỏ và ung thư biểu mô tế bào nhỏ kết hợp.

    – Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chiếm khoảng 80% đến 85% tổng số ca mắc bệnh. Ba loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chính là ung thư phổi tế bào tuyến, ung thư phổi biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào lớn.

    Ung thư phổi tế bào nhỏ là gì?

    Ung thư phổi tế bào nhỏ thường không có triệu chứng ở giai đoạn đầu. Một khi các triệu chứng xuất hiện, có nghĩa là tế bào ung thư đã xâm chiếm nhiều bộ phận khác của cơ thể. Triệu chứng thường tăng lên và nặng hơn khi tế bào ung thư phát triển rộng. Một số dấu hiệu có thể xuất hiện bao gồm:

    – Ho khan dai dẳng hoặc ho đờm có lẫn máu.

    – Khó thở, thở khò khè.

    – Đau ngực hoặc cảm giác nặng ngực.

    – Chán ăn, mệt mỏi.

    – Giảm cân nhanh chóng.

    Triệu chứng ung thư phổi tế bào nhỏ

    Ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển qua 2 giai đoạn chính là giai đoạn giới hạn và giai đoạn lan rộng.

    Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn

    Đây là giai đoạn mà tế bào ung thư chỉ xuất hiện một bên phổi hoặc trong các hạch bạch huyết ở trung thất (vùng giữa ngực, giữa hai lá phổi).

    Khoảng 1/3 người mắc ung thư phổi tế bào nhỏ ở giai đoạn giới hạn vào thời điểm chẩn đoán. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tế bào ung thư đã lan ra ngoài vùng ngực nhưng không nhìn thấy được trên các xét nghiệm hình ảnh.

    Mặc dù rất hiếm nhưng một số ít người mắc được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, khi mới chỉ có một khối u trong phổi. Khi đó, phẫu thuật cắt bỏ có thể được xem xét đồng thời kết hợp với hóa trị, xạ trị.

    Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ bằng hóa trị

    Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan rộng

    Đây là giai đoạn các tế bào ung thư đã lan sang phía bên phổi còn lại hoặc một số vị trí xa hơn trong cơ thể. Các vị trí di căn phổ biến bao gồm phổi, gan, tuyến thượng thận, xương hoặc não. Hầu hết người mắc phát hiện ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan rộng tại thời điểm chẩn đoán.

    Những trường hợp này thường được điều trị bằng hóa trị vì phẫu thuật không còn hiệu quả. Bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan rộng không có khả năng chữa khỏi hoàn toàn. Mục đích điều trị là giảm nhẹ triệu chứng do bệnh gây ra và kéo dài tuổi thọ cho người mắc. Ngoài hóa trị, người mắc có thể được xạ trị vào não để ngăn ngừa di căn, và cũng có thể được xạ trị vào ngực để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại.

    Nhìn chung, các phương pháp điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị có ưu điểm là tiêu diệt và loại bỏ tế bào ung thư ra khỏi cơ thể, nhưng bên cạnh đó cũng giết chết tế bào khỏe mạnh gây nhiều tác dụng không mong muốn, khiến sức khỏe người mắc ngày càng suy kiệt. Cụ thể, một số tác dụng phụ có thể gặp phải bao gồm: Rụng tóc, sạm da, thiếu máu, chán ăn, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, đau nhức cơ thể,…

    Ung thư phổi là bệnh lý nguy hiểm ảnh hưởng đến tính mạng. Các chuyên gia nhận định rằng, tỷ lệ sống của người mắc bệnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn phát hiện, tuổi tác, thể trạng,… Nếu được phát hiện và điều trị sớm ở giai đoạn đầu thì tỷ lệ sống cao, thời gian sống thêm kéo dài hơn.

    Với ung thư phổi tế bào nhỏ nếu khối u chưa lan sang các bộ phận khác của cơ thể thì có tỷ lệ sống sau 5 năm là 23,3%. Còn trường hợp khối u đã lan đến các khu vực khác thì tỷ lệ sống giảm xuống còn 14,4%, thời gian sống chỉ khoảng từ 7-9 tháng.

    – Chiết xuất thyme – cỏ xạ hương

    Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng cỏ xạ hương có tác dụng chống viêm, giảm đờm, kháng khuẩn hiệu quả. Đây cũng là một trong những thảo dược thiên nhiên giúp hỗ trợ điều trị, giảm nhẹ triệu chứng của ung thư phổi.

    – Cao khổ sâm bắc

    Chứa nhiều alcaloid thuộc nhóm quinolizidin, trong đó chủ yếu là matrin và oxymatrin đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm, kháng u an toàn, hiệu quả.

    Ngoài ra, Tumolung còn bao gồm nhiều thảo dược quý khác như: Cao quả khế, cao bán chi liên, cao hoàng kỳ, cao bồ công anh, cao mạch chủ, cao cọ xẻ giúp tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ giảm nhẹ triệu chứng của bệnh như mệt mỏi, khó thở, ho đờm, giảm nguy cơ mắc các loại ung thư, đặc biệt là ung thư phổi. Đặc biệt, do có nguồn gốc từ thảo dược nên có thể yên tâm sử dụng lâu dài mà không gây tác dụng phụ.

    Cụ thể những điểm ưu việt của sản phẩm đó là:

    – Có thể dùng đường uống nên dễ dàng tiện lợi sử dụng tại nhà.

    – Có tính chọn lọc trên tế bào ung thư, không ảnh hưởng đến tế bào lành nên có thể sử dụng lâu dài.

    – Tác dụng chủ yếu là ức chế sự nhân lên và phân chia của tế bào ung thư. Do đó có thể sử dụng cho ung thư phổi ở nhiều giai đoạn khác nhau.

    Từ khi ra đời, sản phẩm Tumolung đã được sự tin tưởng của nhiều người. Họ chia sẻ hiệu quả đạt trên từng giai đoạn cụ thể như sau:

    – Giai đoạn sau 2 – 4 tuần: Sức khỏe cải thiện, cơ thể đỡ mệt mỏi, ăn, ngủ tốt hơn,…

    – Giai đoạn sau 2 – 3 tháng sử dụng: Giảm hẳn tác dụng phụ của các phương pháp điều trị hiện đại như hóa trị, xạ trị. Người dùng thấy tự tin, tinh thần thoải mái, vui tươi, khối u được kiểm soát, cơ thể không còn mệt mỏi như trước.

    – Giai đoạn từ 3 – 6 tháng sử dụng: Hệ miễn dịch được nâng cao đáng kể, các chỉ số đều cho kết quả tốt, khối u có thể giảm về kích thước nếu người dùng đáp ứng tốt,…

    CƠ HỘI VÀNG: “Nhận quà to với TUMOLUNG”

    Nhằm tri ân sự đồng hành của Quý khách dành cho nhãn hàng Tumolung trong suốt thời gian qua, chúng tôi triển khai chương trình khuyến mãi “Mua 6 tặng 1”. Theo đó, khi mua 6 hộp sản phẩm Tumolung, bạn sẽ được tặng thêm 1 hộp sản phẩm Tumolung trị giá 480.000đ. Chương trình giúp người sử dụng tiết kiệm 16% chi phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ung Thư Phổi Di Căn Xương
  • Ung Thư Phổi Di Căn Xương Điều Trị Thế Nào? Chăm Sóc Bệnh Nhân Ra Sao?
  • Bị Bệnh Ung Thư Phổi Nên Ăn Và Kiêng Ăn Gì Tốt Cho Sức Khỏe
  • Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Nên Ăn Gì Để Có Sức Khỏe Tốt?
  • Ung Thư Phổi Di Căn, Người Đàn Ông Hà Nội Vẫn Sống Tốt Sau 6 Năm
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ (Utpktbn) Theo Giai Đoạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2B Có Chữa Được Không? Đặc Điểm Của Bệnh.
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Giai Đoạn 2B Như Nào ?
  • Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2: Đặc Điểm, Dấu Hiệu Và Phương Pháp Điều Trị
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Ung Thư Phổi Giai Đoạn 2
  • Triệu Chứng Bệnh Ung Thư Phần Mềm.
  • Nói chung, giai đoạn I và giai đoạn II UTPKTBN được điều trị bằng phẫu thuật, thường được thực hiện bởi bác sĩ ngoại khoa ung thư, ngoài ra với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được có thể sử dụng phương pháp xạ trị. Trước hoặc sau khi phẫu thuật, bệnh nhân có thể gặp bác sĩ nội khoa ung thư để hỏi thêm về lựa chọn điều trị. Hóa trị (điều trị hóa chất) có thể giúp ích cho một số ca có khối u lớn hoặc dấu hiệu di căn đến hạch bạch huyết. Hoá trị có thể được thực hiện trước ca mổ (neoadjuvant), hoặc tiến hành sau ca mổ (adjuvant chemotherapy, còn gọi là hoá trị bổ trợ) để giảm nguy cơ ung thư tái phát.

    Hóa trị bổ trợ dựa trên thuốc có tên là cisplatin thường được đề nghị cho bệnh nhân với UTPKTBN giai đoạn II đã được cắt bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật. Bệnh nhân với UTPKTBN giai đoạn II nên hỏi bác sĩ về việc sử dụng phương pháp này.

    Nói chung, những người bị UTPKTBN giai đoạn III thường được điều trị kết hợp ít nhất 2 loại điều trị khác nhau, đôi khi là cả 3 loại nói trên. Thông thường, các bác sĩ thường đề nghị kết hợp hóa trị và xạ trị. Hóa trị và xạ trị có thể được dùng cùng lúc với nhau, được gọi là Hóa-xạ trị đồng thời. Chúng cũng có thể được dùng kế tiếp nhau, gọi là Hoá-xạ trị liệu tuần tự. Hóa trị bổ trợ dựa trên cisplatin thường được đề nghị cho những người bị ung thư phổi giai đoạn IIIA đã được cắt bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật. Bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ về các lựa chọn điều trị tốt nhất cho mình.

    Phẫu thuật có thể là một lựa chọn sau khi tiến hành hóa trị ban đầu hoặc hóa-xạ trị. Đôi khi, phẫu thuật là phương pháp điều trị đầu tiên, đặc biệt là khi bệnh nhân ung thư trước phẫu thuật được đánh giá là bệnh ở giai đoạn I hoặc giai đoạn II. Trong một số trường hợp, nếu sau phẫu thuật các bác sĩ bất ngờ tìm thấy tế bào ung thư trong các hạch bạch huyết ám chỉ bệnh ở giai đoạn III (đánh giá bằng các chẩn đoán hình ảnh trước mổ có thể không phát hiện ra), phẫu thuật thường được theo sau bởi hóa trị và xạ trị.

    UTPKTBN di căn hoặc giai đoạn IV

    Nếu ung thư đã lây lan sang một bộ phận khác trong cơ thể, các bác sĩ gọi đó là ung thư di căn. Nếu điều này xảy ra, bệnh nhân nên nói chuyện với bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị. Các bác sĩ có thể có ý kiến khác nhau về kế hoạch điều trị tiêu chuẩn tốt nhất. Ngoài ra, thử nghiệm lâm sàng có thể là một lựa chọn. Tìm hiểu thêm về lợi ích của việc có ý kiến thứ hai trước khi bắt đầu điều trị, vì nó có thể giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn với kế hoạch điều trị của mình.

    Ở những bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn IV, hóa trị, điều trị nhắm đích hoặc liệu pháp miễn dịch thường là phương pháp điều trị chủ đạo. Những loại điều trị này thường được gọi là liệu pháp toàn thân vì chỉ có truyền thuốc toàn thân mới có hi vọng kìm hãm hay ngăn chặn những khối u đã lan nhiều nơi trong cơ thể. Đôi khi, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật hay xạ trị ổ di căn trong não hoặc tuyến thượng thận nếu đó là nơi duy nhất mà ung thư lan tới.

    Chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng cũng rất quan trọng để giúp làm giảm các triệu chứng và các phản ứng phụ. Nhiều trường hợp bệnh nặng và quá yếu thì bác sĩ sẽ đề nghị không hóa trị nữa mà chỉ tập trung vào chăm sóc giảm nhẹ.

    Liệu pháp toàn thân cho UTPKTBN di căn hoặc giai đoạn IV

    Mục đích của liệu pháp toàn thân là làm giảm kích thước khối u, giảm bớt sự khó chịu do ung thư gây ra, ngăn ngừa ung thư lan rộng hơn và kéo dài thời gian sống của bệnh nhân. Những phương pháp điều trị này đôi khi có thể làm ung thư phổi di căn biến mất. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các bác sĩ thì ung thư thường sẽ trở lại. Do đó, bệnh nhân ở giai đoạn IV không bao giờ được coi là “chữa khỏi” ung thư cho dù thành quả điều trị ban đầu rất tốt. Điều trị thường sẽ tiếp tục cho tới chừng nào căn bệnh còn được kiểm soát (được gọi là điều trị duy trì). Liệu pháp toàn thân kết hợp với chăm sóc giảm nhẹ đã được chứng minh là có thể cải thiện thời gian sống và và chất lượng cuộc sống cho nhiều bệnh nhân với UTPKTBN giai đoạn IV.

    Nếu ung thư không được kiểm soát làm các triệu chứng tồi tệ hơn hoặc thuốc gây ra quá nhiều tác dụng phụ/tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, bệnh nhân có thể phải thay đổi phác đồ hoặc dừng việc điều trị toàn thân. Tuy nhiên, bệnh nhân sẽ vẫn nên tiếp tục được chăm sóc giảm nhẹ để có một cuộc sống dễ chịu hơn. Ở một số nước, bệnh nhân có thể tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng.

    Loại thuốc hoặc nhóm thuốc đầu tiên mà bệnh nhân dùng đầu tiên còn được gọi là “phác đồ thứ nhất”. Bệnh nhân có thể được điều trị tiếp bởi các “phác đồ thứ hai”“phác đồ thứ ba”. Lưu ý rằng không có một phác đồ hay phương pháp cụ thể nào có hiệu quả cho mọi bệnh nhân. Các lựa chọn thường phải được cân nhắc phù hợp cho từng đối tượng. Điều này gọi là Cá nhân hóa trong điều trị để nâng cao hiệu quả của mỗi phương pháp và giảm thiểu việc sử dụng những loại thuốc vô ích hay thậm chí có hại. Nếu một phác đồ gây ra tác dụng ngoại ý nguy hiểm hoặc khó chịu ảnh hưởng nhiều lên cuộc sống của bệnh nhân, có vẻ không hiệu quả hoặc không còn hiệu quả nữa, các bác sĩ sẽ đề nghị thay đổi cách điều trị.

    Liệu pháp toàn thân đầu tiên (hay tuyến 1, first line) cho UTPKTBN thường phụ thuộc vào những thay đổi di truyền tìm thấy trong khối u.

    • Đối với những bệnh nhân mà khối u không có thay đổi (đột biến) trong gene EGFR, ALK, hoặc ROS1, các lựa chọn bao gồm:
      • Đối với bệnh nhân mà khối u có mức protein PD-L1 cao: Pembrolizumab là một lựa chọn.
      • Đối với bệnh nhân mà khối u không có mức PD-L1 cao: Bác sĩ thường đề nghị kết hợp một số thuốc hoá trị. Chúng có thể bao gồm thêm cả bevacizumab vào carboplatin và paclitaxel ở một số bệnh nhân ung thư biểu mô không phải tế bào vảy (non-squamous cell carcinoma).
      • Pembrolizumab cũng có thể được thêm vào hóa trị kết hợp carboplatin và pemetrexed ở một số bệnh nhân ung thư biểu mô không phải tế bào vảy.
    • Đối với bệnh nhân mà khối u có sự thay đổi (đột biến) di truyền trên gen EGFR: Thuốc nhắm đích với Afatinib, Erlotinib, Gefitinib (gọi là TKI) có thể là các lựa chọn.
    • Đối với bệnh nhân mà khối u thay đổi (đột biến) di truyền trên gen ALK: Alectinib, brigatinib, ceritinib, hoặc crizotinib là những lựa chọn.
    • Đối với những bệnh nhân mà khối u có thay đổi (đột biến) di truyền trên gene ROS1: Crizotinib là một lựa chọn.

    Phác đồ thứ hai (hay tuyến 2, second line) đối với UTPKTBN phụ thuộc vào đột biến gene trong khối u và các điều trị đã dùng trước đó.

    Đối với những bệnh nhân mà khối u không chứa thay đổi trong gene EGFR, ALK, hoặc ROS1, các lựa chọn bao gồm:

    • Nivolumab, pembrolizumab, hoặc atezolizumab nếu bệnh nhân có mức PD-L1 cao, đã dùng hóa trị thông thường trong phác đồ thứ nhất, và chưa dùng liệu pháp miễn dịch.
    • Nivolumab, atezolizumab hoặc hóa trị nếu khối u có mức PD-L1 thấp hoặc không rõ và đã điều trị bằng hóa trị thông thường.
    • Hóa trị cho bệnh nhân đã dùng liệu pháp miễn dịch.
    • Docetaxel cho bệnh nhân có các phản ứng phụ/ngoại ý nghiêm trọng do liệu pháp miễn dịch.
    • Pemetrexed cho bệnh nhân ung thư biểu mô không phải tế bào vảy (non-squamous cell carcinoma) nhưng chưa dùng pemetrexed trong phác đồ thứ nhất.

    + Osimertinib

    + Hóa trị bổ sung

    + Tiếp tục điều trị bằng TKI, cộng với phẫu thuật hoặc xạ trị cho những khu vực mà ung thư lan rộng

    Đối với bệnh nhân mà khối u có đột biến gen ROS1, các lựa chọn điều trị phụ thuộc vào các phương pháp điều trị trước đó:

    • Crizotinib, nếu bệnh nhân chưa dùng.
    • Hóa trị, đôi khi dùng kèm với bevacizumab.

    Đối với bệnh nhân mà khối u có đột biến BRAF, các lựa chọn phụ thuộc vào việc bệnh nhân đã dùng điều trị miễn dịch chưa:

    • Atezolizumab, nivolumab, hoặc pembrolizumab có thể là lựa chọn cho những bệnh nhân chưa dùng điều trị miễn dịch.
    • Dabrafenib hoặc kết hợp giữa dabrafenib và trametinib đối với những người đã dùng liệu pháp miễn dịch.

    Phác đồ thứ ba (tuyến 3, third line) đối với UTPKTBN thường là hóa trị với pemetrexed hoặc docetaxel.

    Hóa trị thường không hiệu quả như xạ trị hoặc phẫu thuật để điều trị UTPKTBN di căn não. Vì lý do này, UTPKTBN di căn não được điều trị bằng xạ trị, phẫu thuật, hoặc cả hai. Các phương pháp này có thể gây ra các tác dụng ngoại ý như rụng tóc, mệt mỏi, và ửng đỏ da đầu. Nếu kích thước khối u nhỏ, một loại xạ trị đặc biệt gọi là Xạ phẫu (stereotactic radiosurgery) có thể được sử dụng, vì nó có thể chiếu một lượng tia lớn tập trung vào khối u và làm giảm các phản ứng phụ.

    Chăm sóc giảm nhẹ cũng rất quan trọng để giúp làm giảm các triệu chứng và các tác dụng phụ/ngoại ý. Xạ trị hoặc phẫu thuật cũng có thể được sử dụng để điều trị các ổ di căn gây đau hoặc các triệu chứng khác. Điều trị bằng phẫu thuật hoặc sử dụng các dụng cụ cấy ghép kim loại có thể dùng để điều trị các ổ di căn xương ở các xương lớn trong cơ thể.

    Vì hầu hết bệnh nhân cảm thấy căng thẳng và không thoải mái khi nhận chẩn đoán ung thư di căn, bệnh nhân và gia đình nên nói lên cảm xúc của mình với bác sĩ, y tá, nhân viên xã hội hoặc các thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khoẻ. Nói chuyện với những bệnh nhân khác, kể cả thông qua một nhóm hỗ trợ cũng có thể hữu ích.

    Thuyên giảm và nguy cơ tái phát

    Thuyên giảm (remission) là hiện tượng mà ung thư không còn được phát hiện trong cơ thể và bệnh nhân không còn triệu chứng. Điều này cũng có thể được gọi là ” không có bằng chứng về bệnh tật ” (no evidence of disease).

    Tình trạng ung thư xuất hiện trở lại sau khi điều trị ban đầu được gọi là ung thư tái phát. Khi xuất hiện trở lại cùng một nơi gọi là tái phát cục bộ, gần nơi cũ gọi là tái phát khu vực, hoặc ở một nơi khác gọi là tái phát di căn. Thông thường, tái phát được tính là giai đoạn IV.

    Khi tái phát xảy ra, một loạt xét nghiệm mới có thể được đề nghị để tìm hiểu tình hình chi tiết hơn. Dựa trên các thông tin cụ thể, bác sĩ sẽ bàn với bạn về các lựa chọn điều trị sắp đến. Thông thường, kế hoạch điều trị sẽ bao gồm các phương pháp nói trên, như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị, nhưng chúng có thể được sử dụng kết hợp theo cách khác hoặc được tiến hành với nhịp độ khác. Bác sĩ cũng có thể đề nghị tham gia các thử nghiệm lâm sàng nếu có. Đây là những thử nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt để nghiên cứu cách điều trị mới. Cho dù bạn chọn cách điều trị nào, chăm sóc giảm nhẹ sẽ rất quan trọng để giảm triệu chứng và các phản ứng phụ/ngoại ý.

    Những người bị ung thư tái phát thường cảm thấy những cảm xúc phức tạp như hoài nghi hay sợ hãi. Bệnh nhân nên nói chuyện với nhóm chăm sóc về những cảm giác này và hỏi về các dịch vụ hỗ trợ để giúp bệnh nhân vượt qua. Tìm hiểu thêm về cách đối phó với sự tái phát ung thư qua các bài viết khác.

    Nếu điều trị không hiệu quả

    Chữa lành hẳn bệnh ung thư là ước mơ không phải lúc nào cũng có thể làm được. Nếu không thể kiểm soát, bệnh ung thư sẽ tiến triển vào giai đoạn cuối.

    Việc nói tới chẩn đoán giai đoạn này là căng thẳng cho cả bác sĩ, và nhiều bệnh nhân/người thân gặp khó khăn khi trao đổi về ung thư tiến triển. Tuy nhiên, điều quan trọng là bạn nên có cuộc trò chuyện cởi mở và trung thực với bác sĩ và nhóm chăm sóc để diễn tả cảm xúc và mối quan tâm của mình. Sự chăm sóc theo dõi liên tục sau đó cũng rất quan trọng. Nhóm chăm sóc sẽ cố gắng sẵn sàng giúp đỡ bệnh nhân, nhiều thành viên trong nhóm sẽ có kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức đặc biệt để hỗ trợ bệnh nhân và gia đình. Việc đảm bảo bệnh nhân được thoải mái về mặt thể chất, tinh thần, nhất là không bị đau đớn, là điều cực kỳ quan trọng.

    Những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn muộn và những người có tiên lượng sống dưới 6 tháng có thể cân nhắc một loại chăm sóc giảm nhẹ được gọi là chăm sóc cận tử (hospice care). Chăm sóc cận tử là chương trình được thiết kế để cung cấp cho bệnh nhân chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể khi gần đến cuối cuộc đời. Bệnh nhân và gia đình nên nói chuyện với nhóm chăm sóc về các lựa chọn như chăm sóc tại nhà, tại khoa chăm sóc giảm nhẹ trong bệnh viện, hospice, hoặc những nơi khác. Chăm sóc điều dưỡng và các trang thiết bị đặc biệt có thể giúp việc bệnh nhân sống ở nhà, nơi quen thuộc bên cạnh người thương yêu trở nên khả thi.

    https://www.cancer.net/cancer-types/lung-cancer-non-small-cell/treatment-options

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Tái Phát Sau Gần 3 Năm Điều Trị
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Tái Phát Như Thế Nào Để Đạt Được Hiệu Quả
  • Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Tái Phát
  • Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Sống Được Bao Lâu? 5 Yếu Tố Tăng Tỷ Lệ Sống
  • 10 Dấu Hiệu Cảnh Báo Sớm Bệnh Ung Thư Phổi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100