Top 20 # Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Brandsquatet.com

Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ / 2023

Ung thư phổi tế bào nhỏ là một dạng ung thư phổi ác tính, có nguy cơ gây tử vong rất cao nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của ngành y học, hầu hết các căn bệnh ung thư đã có thể kiểm soát và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

1. Ung thư phổi tế bào nhỏ là gì?

Ung thư phổi là một căn bệnh ung thư ác tính, xảy ra khi các tế bào gây ung thư phát triển mạnh mẽ trong các mô phổi. Các tế bào này tăng sinh nhanh chóng và khó có thể kiểm soát được, dần dần hình thành nên các khối u ác tính và có khả năng xâm lấn vào các bộ phận khác rất cao nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh ung thư phổi thường có hai loại chính, bao gồm ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) và ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC).

Đối với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) còn được biết đến với cái tên là ung thư biểu mô tế bào nhỏ. Loại ung thư này chiếm khoảng 15% trong các bệnh ung thư phổi và nó thường có hai dạng chính, bao gồm ung thư biểu mô tế bào nhỏ và ung thư biểu mô tế bào nhỏ kết hợp.

Những người đã có tiền sử hút thuốc lá, hoặc nghiện thuốc lá nặng thường có nguy cơ cao mắc phải ung thư phổi tế bào nhỏ. Đặc tính của loại ung thư này là “hung hăng”, phát triển nhanh và dễ lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Chính vì vậy, những bệnh nhân bị SCLC ở giai đoạn tiến triển thường rất khó có thể điều trị được dứt điểm bệnh.

2. Các giai đoạn của ung thư phổi tế bào nhỏ

Các giai đoạn chính của ung thư phổi tế bào nhỏ bao gồm:

Giai đoạn giới hạn: trong giai đoạn này, ung thư chỉ xuất hiện ở một bên phổi hoặc ở các hạch bạch huyết vùng trung thất. Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện được ung thư trong giai đoạn này là rất ít (khoảng 30%), thêm vào đó, nhiều trường hợp không phát hiện ra ung thư qua xét nghiệm mặc dù các khối u đã lan ra ngoài vùng ngực. Ung thư phổi tế bào nhỏ ở giai đoạn giới hạn thường được điều trị ban đầu bằng liệu pháp hóa trị kết hợp với xạ trị. Sau đó, bệnh nhân sẽ tiếp tục được xạ trị vào não để ngăn không cho khối u di căn sang não, giúp người bệnh có cơ hội thoát khỏi ung thư.

Giai đoạn mở rộng: các tế bào ung thư phát triển mạnh mẽ và đã xâm lấn sang bên phổi còn lại, thậm chí nó có thể di căn sang các khu vực xa hơn trong cơ thể, chẳng hạn như não, gan, xương hoặc tuyến thượng thận. Đa số, những người mắc ung thư phổi tế bào nhỏ đều phát hiện bệnh khi ung thư đã bước sang giai đoạn này. Ung thư trong giai đoạn này thường có mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu, vì vậy rất khó có thể loại bỏ hoàn toàn được các khối u ác tính. Các phương pháp điều trị được thực hiện trong giai đoạn mở rộng chỉ nhằm làm giảm nhẹ các triệu chứng do bệnh và giúp kéo dài tuổi thọ.

3. Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ

3.1 Ung thư phổi tế bào nhỏ có chữa được không?

Ung thư phổi tế bào nhỏ là căn bệnh ung thư ác tính, đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng người bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Loại ung thư này thường có mức độ nguy hiểm cao hơn so với ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC), vì vậy khả năng để chữa khỏi căn bệnh này là không cao. Các phương pháp điều trị như xạ trị, hóa trị hoặc phẫu thuật không thể loại bỏ tận gốc được các tế bào ung thư, nó chỉ có thể làm thu nhỏ các khối u và ngăn chặn sự phát triển của chúng trong cơ thể.Ngoài ra, các biện pháp điều trị dành cho ung thư phổi tế bào nhỏ cũng giúp bệnh nhân nâng cao chất lượng cuộc sống và đem lại tỷ lệ sống sót cao hơn. Tỷ lệ sống của mỗi bệnh nhân sẽ khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như độ tuổi, tình trạng sức khỏe của người bệnh và diễn biến của bệnh. Nếu ung thư được phát hiện ngay trong giai đoạn đầu thì tỷ lệ sống sót là khoảng 23% sau năm năm. Trong trường hợp ung thư đã di căn sang các bộ phận lân cận thì tỷ lệ sống sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 14% và khoảng 2% nếu ung thư đã lan sang các vị trí xa hơn trong cơ thể.

3.2 Các phương pháp điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ

Phẫu thuật: phương pháp này thường được áp dụng cho các trường hợp chỉ xuất hiện một khối u trong phổi và ung thư vẫn chưa lan sang các vị trí khác. Một số loại phẫu thuật có thể được thực hiện như:

Phẫu thuật cắt bỏ thùy (lý tưởng nhất dành cho ung thư phổi tế bào nhỏ)

Phẫu thuật cắt bỏ phổi

Phẫu thuật cắt bỏ một đoạn của thùy phổi (Segmentectomy)

Phẫu thuật tạo hình khí phế quản

Trong quá trình phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được gây mê toàn thân. Sự thành công và tính hiệu quả của phương pháp này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi thực hiện phẫu thuật. Tuy nhiên, thủ thuật này cũng có thể đem lại một số biến chứng khác cho người bệnh như nhiễm trùng, chảy máu nặng hoặc viêm phổi. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần ít nhất một vài tháng để cơ thể dần hồi phục trở lại.

Xạ trị: là phương pháp sử dụng chùm tia bức xạ năng lượng cao tập trung vào khối u để tiêu diệt các tế bào ung thư trong phổi. Bức xạ tia ngoài là hình thức xạ trị được sử dụng nhiều nhất. Để nâng cao hiệu quả điều trị, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện kết hợp điều trị giữa xạ trị và hóa trị. Phương pháp xạ trị thường được thực hiện hai lần một ngày và kéo dài trong vòng 3 tuần. Đối với những trường hợp yêu cầu phải tiến hành xạ trị liều cao thì cần thực hiện mỗi ngày một lần. Xạ trị cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn cho bệnh nhân, tuy nhiên nó sẽ dần biến mất sau 2 tháng điều trị.

Hóa trị: Đối với những người bị ung thư phổi tế bào nhỏ, dù bất kể ở giai đoạn nào, hóa trị cũng được xem là một phần thiết yếu của điều trị. Hóa trị là liệu pháp đưa thuốc hoặc các loại hóa chất chống ung thư vào trong cơ thể bệnh nhân nhằm loại bỏ các tế bào ung thư đang phát triển trong phổi. Thuốc hóa trị thường được sử dụng thông qua đường tiêm (truyền) tĩnh mạch hoặc đường uống. Khi được đưa vào cơ thể, chúng sẽ xâm nhập vào trong máu, sau đó đi đến hầu hết các cơ quan để tấn công và tiêu diệt các tế bào ung thư. Đối với những người bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn, hóa trị có thể được thực hiện kết hợp với xạ trị nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị bệnh. Phác đồ hóa trị ban đầu được sử dụng phổ biến nhất là etoposide (Toposar hoặc Vepesid) kết hợp với cisplatin (Platinol), được gọi là EP. Ngoài ra, có thể kết hợp sử dụng hai loại thuốc là carboplatin (Paraplatin) và irinotecan (Camptosar) trong liệu trình điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.

Tuy nhiên, hóa trị là một phương pháp toàn thân, vì thế nó có thể gây ra một số triệu chứng nghiêm trọng cho người bệnh, bao gồm: buồn nôn, ói mửa, mệt mỏi, tiêu chảy, chán ăn, rụng tóc, khô miệng, loét miệng, tổn thương thần kinh gây đau.

Phát hiện những bất thường ở phổi càng sớm sẽ càng gia tăng tỷ lệ chữa khỏi và ngăn chặn tiến triển bệnh thành ung thư. Vì vậy, thực hiện việc tầm soát ung thư phổi định kỳ có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Việc này giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời tránh những điều đáng tiếc xảy ra.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ / 2023

Sau khi phát hiện và chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ, việc điều trị phải được thực hiện theo nguyên tắc, mục tiêu quy định của từng giai đoạn bệnh lý và các tình huống đặc biệt.

Đồng thời theo dõi sau điều trị, tiên lượng tiến triển, tầm soát và phòng ngừa bệnh cũng cần quan tâm nhằm phục hồi, bảo đảm sức khỏe cho người bệnh.

Nguyên tắc và mục tiêu điều trị

Nguyên tắc điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ được thực hiện cá thể hóa theo từng bệnh nhân, vì vậy cần cân nhắc tất cả các yếu tố gồm: yếu tố bệnh lý dựa vào thể mô bệnh học và sinh học phân tử, giai đoạn bệnh lý, diễn tiến sau các điều trị trước… Yếu tố bệnh nhân dựa vào thể trạng, tuổi tác, bệnh kết hợp, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, nguyên vọng của người bệnh… Yếu tố về điều kiện trang thiết bị, nguồn lực của cơ sở y tế…

Mục tiêu điều trị được phân theo từng giai đoạn như: Điều trị tiệt căn nhằm đạt được mục tiêu chữa khỏi bệnh sớm và thực hiện trong giai đoạn sớm khu trú tại chỗ, tại vùng thuộc giai đoạn I, II, IIIA. Điều trị mang tính giảm nhẹ, tăng chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống được áp dụng cho giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại vùng hoặc tái phát di căn thuộc giai đoạn IIIB, IIIC, IV. Đối với giai đoạn còn khu trú, phẫu thuật và xạ trị là phương pháp điều trị mang tính tiệt căn. Giai đoạn tiến triển gồm tái phát phát, di căn việc điều trị chủ yếu mang tính làm dịu triệu chứng và kéo dài thời gian sống. Giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại vùng hiện nay đang nghiên cứu áp dụng phương cách điều trị đa mô thức, trong đó phương thức hóa trị – xạ trị đồng thời được áp dụng ở nhiều nơi.

Đây là kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn với các ưu điểm như có thời gian nằm viện ngắn, ít đau sau mổ, bệnh nhân hồi phục nhanh nhưng cần phải chọn lọc bệnh nhân thật kỹ lưỡng; phương pháp VATS cho kết quả sống và tỷ lệ tái phát thấp tương đương như phẫu thuật cắt thùy mở; bệnh nhân có kết quả sống 5 năm khoảng 70 – 80% cho giai đoạn bệnh lý IA, 60% cho giai đoạn bệnh lý IB và 40 – 50% cho giai đoạn bệnh lý II; bệnh nhân N2 (giai đoạn IIIA) khu trú một nhóm hạch cũng đạt tỷ lệ 25 đến 30% sống 5 năm sau VATS; tỷ lệ tái phát sau 5 năm cũng rất thấp theo kích thước khối u với 5% cho giai đoạn T1 và 9% cho giai đoạn T2.

Đối với các trường hợp có thể phẫu thuật: phẫu thuật triệt để theo yêu cầu bao gồm việc cắt bỏ trọn thùy phổi mang khối u đạt diện cắt âm tính (không có tế bào bướu) lấy đi từ 16 đến 20 hạch thuộc ít nhất 3 nhóm hạch (2 từ trung thất cùng bên và đối diện) và rửa màng phổi cùng bên; đôi khi cần thiết phải cắt cả hai thùy phổi kế cận hoặc một bên phổi; nguy cơ tử vong thường chiếm khoảng 3% sau phẫu thuật cắt thùy và 7% sau cắt một bên phổi. Đối với các tổn thường nhỏ dưới 3cm ở ngoại biên với mô học là ung thư biểu mô tại chỗ AIS (adenocarcinoma in situ) hoặc xâm lấn tối thiểu MIA (minimally invasive adenocarcinoma), phẫu thuật cắt hình chêm (wedge resection) với bờ diện cắt âm tính cũng cho kết quả sống còn lâu dài; phẫu thuật cắt hình chêm cho các tổn thương trung tâm thường có nguy cơ tái phát tại chỗ cao hơn từ 3 – 5 lần phẫu thuật cắt thùy. Kỹ thuật cắt qua rôbốt đang được nghiên cứu và cũng cho kết quả ban đầu đầy hứa hẹn với ít di chứng và kết quả lâu dài về mặt ung bướu học tương đương.

Hóa trị tân bổ trợ trước khi mổ cho các trường hợp ung thư phổi giai đoạn còn khu trú nhằm hai mục đích là tiêu diệt các di căn vi thể đã có và giảm kích thước tổn thương tạo thuận lợi cho phẫu thuật tiếp theo. Hóa trị tân bổ trợ là lựa chọn tiêu chuẩn trong điều trị giai đoạn IIIA, vai trò này chưa được xác định rõ trong các giai đoạn sớm hơn.

Hóa trị bổ trợ sau mổ đã được nghiên cứu nhiều và các nghiên cứu cho kết quả khác nhau. Hóa trị bổ trợ hiện nay được chỉ định sau phẫu thuật cho các trường hợp ở giái đoạn từ IB trở lên và thường được thực hiện 4 chu kỳ với phối hợp thuốc có platin (cisplatin được ưu tiên chọn lựa so với carboplatin)

Xạ trị bổ trợ thực hiện sau mổ đối với các trường hợp ung thư phổi giai đoạn sớm cũng đã được nghiên cứu và cũng còn nhiều bàn cãi. Xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật giai đoạn I và II không được xác nhận có ích lợi. Trong thực hành lâm sàng, xạ trị bổ trợ thường được chỉ định sau mổ cho một số trường hợp có yếu tố nguy cơ cao tái phát tại chỗ, tại vùng như: xâm lấn trung thất, di căn nhiều hạch hay nhiều nhóm hạch, xâm lấn vỡ vỏ bao hạch, hạch di căn có kích thước lớn, bờ diện cắt xâm lấn đại thể, bờ diện cắt còn tế bào ung thư. Liều xạ trị thường dùng 54Gy phân bố qua 27 đến 30 phân liều. Trong trường hợp điều trị bổ trợ bao gồm cả hóa trị và xạ trị thì xạ trị được tiến hành sau hóa trị.

Đối với các trường hợp không thể phẫu thuật: ung thư phổi giai đoạn khu trú không thể phẫu thuật tiệt căn do nguy cơ phẫu thuật có ảnh hưởng cao thì có thể cân nhắc áp dụng một số biện pháp điều trị khác như: xạ trị tiệt căn được lựa chọn điều trị thay thế cho các tổn thương còn khu trú và có thể tiến hành theo kỹ thuật xạ trị quy ước hoặc xạ trị định vị thân SBRT (stereostatic body radiotherapy); xạ trị quy ước thường thực hiện với liều xạ trị mỗi ngày 2Gy cho mỗi phân liều trong 5 ngày mỗi tuần với tổng liều ít khi vượt quá 70Gy, tỷ lệ kiểm soát bướu khoảng 50%; xạ trị định vị thân SBRT mới được phát triển nghiên cứu và chưa phải là khuyến cáo thường quy, kỹ thuật xạ trị nhằm đưa một liều chiếu xạ vào vị trí chính xác qua một số ít phân liều với 3 – 5 lần chiếu xạ nhằm đạt liều tương đương sinh học BRDs (biologically equivalent doses) cao hơn 100Gy trong thời gian ngắn từ 1 đến 2 tuần, hiệu quả kiểm soát bướu tại chỗ lên tới 85 – 90%, kỹ thuật SBRT với liều 18 đến 20 Gy mỗi phân liều an toàn và hiệu quả cho các tổn thương ngoại biên nhưng thường kèm theo tác dụng phụ nặng độ 3 khi dùng cho các tổn thương trung tâm, liều thích hợp thường được khuyến cáo sử dụng từ 10 đến 12 Gy mỗi lần trong 3 hoặc 4 phân liều.

Điều trị giai đoạn tiến triển tại chỗ

Giai đoạn tiến triển tại chỗ được gọi là giai đoạn IIIA và IIIB, trong giai đoạn này việc điều trị thường được cá thể hóa theo từng trường hợp bệnh nhân cụ thể với nhiều mô thức áp dụng lần lượt hoặc đồng thời gồm xạ trị, phối hợp hóa trị và xạ trị đồng thời. Xạ trị có một thời được xem là mô thức điều trị chuẩn cho ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa tại chỗ thuộc giai đoạn IIIA và IIIB nhưng kết quả kiểm soát tại chỗ thường kém và tỷ lệ sống còn thấp; xạ trị tăng phân liều (CHART) có vẻ cải thiện được kết quả sống còn nhất là khi phối hợp với hóa trị, nhiều nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhằm tăng liều xạ vào bướu đồng thời giảm độc tính mô chung quanh.

Phối hợp hóa trị và xạ trị đồng thời được khuyến cáo sử dụng như một xử trí tiêu chuẩn cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không phẫu thuật được có chỉ số hoạt động cơ thể ECOG 0/1 và không bị giảm hơn 5% trọng lượng cơ thể; kỹ thuật xạ trị bao gồm xạ trị một phân liều mỗi ngày với tổng liều 74Gy thường kèm theo kết quả sống còn thấp hơn 60Gy, hóa trị kèm theo thường là platin hoặc bộ đôi platin với các thuốc thế hệ III như taxane, vinorelbine…; các thuốc nhắm trùng đích mới như cetuximab, gefitinib… hiện chưa xác định được vai trò trong phối hợp với xạ trị.

Tầm soát ung thư phổi bằng cách chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp

Bệnh nhân có đột biến EGFR (epidermal growth factor receptor) dạng hoạt động đa số thường gặp là đột biến mất đoạn exon 19, đột biến điểm L851R…; điều trị bước một có thể chọn lựa một trong các thuốc ức chế EGFR tyrosin kinase thế hệ I hoặc II gồm Gefitinib 250mg/ngày, Erlotinib 150mg/ngày, Afatinib 40mg/ngày, Osimertinib 80mg/ngày; thuốc được dùng kéo dài cho đến khi bệnh tiến triển, trong trường hợp này bệnh nhân cần được xét nghiệm tìm đột biến kháng thuốc mắc phải T790M qua các xét nghiệm sinh học phân tử, bệnh nhân có đột biến T790M cần được điều trị bằng thuốc ức chế EGFR tyrosin kinase thế hệ III như Osimertinib. Bệnh nhân có đột biến dạng tái sắp xếp ALK (anaplastic lymphoma kinase) thì điều trị bước một bằng Crizotinib, Ceritinib hoặc Alectinib.

Các đột biến hiếm gặp cần điều trị theo đích phân tử đặc hiệu, bệnh nhân không có các đột biến đích và có tăng biểu hiện PD L1 (progammed death ligand1) trên 50% có thể được điều trị bước một với thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch pembrolizumab. Bệnh nhân không có các đột biến đích, việc điều trị đặc hiệu toàn thân dựa vào hóa trị bộ đôi có platin phân theo hai nhóm lớn là ung thư biểu mô tế bào vảy và không vảy; nhóm tế bào vảy không sử dụng pemetrexed, bevacizumab; nhóm không tế bào vảy cân nhắc phối hợp thêm bevacizumab với hóa trị theo các yếu tố lâm sàng và hình ảnh như bướu ở vị trí ngoại biên, không triệu chứng ho ra máu, không hình ảnh phá hủy hang trung tâm, không xâm lấn mạch máu lớn.

Điều trị các tình huống đặc biệt

Các trường hợp đặc biệt bao gồm di căn xương và di căn não. Nếu bị di căn xương, việc xử trí thực hiện bằng cách điều trị đặc hiệu toàn thân, điều trị triệu chứng hướng xương với acid zoledronic 4mg truyền tĩnh mạch mỗi 2 đến 4 tuần, điều trị tăng cường tại chỗ với xạ thị tại chỗ hoặc dược chất phóng xạ toàn thân; dùng các biện pháp phẫu thuật thần kinh, chỉnh hình nhằm cố định xương hoặc giải áp chèn ép tủy…

Nếu bị di căn não, việc xử trí thực hiện bằng cách điều trị đặc hiệu toàn thân; điều trị triệu chứng phù não, chống động kinh; điều trị tăng cường tại chỗ với xạ phẫu dao gamma quay có hoặc không phối hợp xạ trị toàn bộ não 20Gy/5 phân liều hoặc 30Gy/10 phân liều, trong đó xạ trị toàn bộ não là quan trọng trong tình huống di căn não nhiều ổ.

Theo dõi sau điều trị

Sau điều trị, lịch trình theo dõi và xét nghiệm đánh giá thay đổi tùy theo bệnh cảnh lâm sàng. Ở giai đoạn sớm, cần theo dõi tái phát, di căn và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị bổ trợ; lịch trình thực hiện cứ mỗi 2 tháng một lần trong năm đầu, mỗi 3 tháng một lần trong 2 năm sau và mỗi 6 tháng một lần từ năm thứ tư; dùng phương tiện đánh giá gồm khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

Ở giai đoạn tiến xa tại chỗ, tại vùng; cần theo dõi bệnh tiến triển, di căn và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị; lịch trình thực hiện cứ mỗi 2 tháng một lần trong năm đầu, mỗi 3 tháng một lần trong các năm sau; dùng phương tiện đánh giá gồm khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

Ở giai đoạn tiến xa, di căn; cần theo dõi bệnh tiến triển, di căn mới và xử trí các tác dụng phụ của điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị đích; lịch trình thực hiện mỗi tháng 1 lần trong năm đầu, mỗi 2 tháng một lần trong các năm sau; dùng phương tiện đánh giá bằng khám lâm sàng, chụp phim X-quang, chụp cắt lớp vi tính…

Tiên lượng tiến triển bệnh

Các yếu tố tiên lượng bao gồm: xác định giai đoạn là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất, giai đoạn I và II phẫu thuật được có tiên lượng sống 5 năm với tỷ lệ từ 50 – 80%, giai đoạn III tỷ lệ này giảm xuống còn từ 20 đến 40%, riêng giai đoạn IV có tỷ lệ sống 5 năm rất thấp dưới 5%. Chỉ số hoạt động cơ thể có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn tiến xa. Một yếu tố tiên lượng xấu là sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 3 tháng, bạch cầu hạt tăng cao. Yếu tố sinh học phân tử ghi nhận tiên lượng xấu với đột biến K-ras, tăng biểu hiện EGFR (c-erbB-1), VEGF (vascular endothelial growth factor), c-Met đột biến p53…; tiên lượng tốt với đột biến hoạt hóa EGFR…

Tầm soát và phòng ngừa ung thư phổi

Lời khuyên của thầy thuốc

Tầm soát ung thư phổi bằng cách chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp với liều 1,5 mSv so với 8 mSv cho chụp cắt lớp điện toán lồng ngực thường quy có thể được sử dụng để tầm soát phát hiện sớm các tổn thương nhỏ ở phổi trên đối tượng người có nguy cơ cao mắc ung thư phổi như người lớn tuổi, tiền căn hút thuốc lá hơn 30 gói mỗi năm.

Phòng ngừa ung thư phổi với biện pháp hữu hiệu nhất là phòng chống tác hại ảnh hưởng của việc hút thuốc lá.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm tỷ lệ khoảng 85% các trường hợp ung thư phổi. Ở nước ta, ung thư phổi đứng hàng thứ hai sau ung thư gan, nam giới bị mắc nhiều hơn nữ giới; ước tính mỗi năm có khoảng hàng chục ngàn người mắc bệnh và tỷ lệ tử vong chiếm khoảng 89% các trường hợp do phần lớn đều phát hiện muộn. Vì vậy sớm phát hiện qua việc tầm soát, chẩn đoán sớm ở các đối tượng có nguy cơ và điều trị kịp thời là vấn đề cần được quan tâm. Điều trị bệnh phải bảo đảm các nguyên tắc, mục tiêu quy định và căn cứ vào các giai đoạn tiến triển để xử trí can thiệp phù hợp mới đạt được hiệu quả tốt.

BS. NGUYỄN TRÂM ANH

Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Tái Phát / 2023

Phương pháp điều trị chuẩn cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát bao gồm:

1. Hóa trị liệu.

2. Liệu pháp giảm nhẹ.

Hóa trị liệu

Mặc dù hóa trị liệu hàng thứ hai đã cho thấy thu nhỏ khối u, nhưng đáp ứng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn; thời gian sống thêm trung bình sau khi hóa trị liệu hàng thứ hai thường là dưới 6 tháng và hiếm khi sống được hơn 12 tháng. Đáp ứng với hóa trị liệu hàng đầu dự báo đáp ứng tiếp theo với hóa trị liệu hàng thứ hai.

Đối với các ung thư nhạy cảm với hóa chất khác (như u lympho Hodgkin và ung thư biểu mô buồng trứng), bệnh nhân điều trị hóa trị liệu hàng thứ hai có thể nhạy cảm và kháng với trị liệu. Bệnh nhân nhạy cảm có đáp ứng với hóa trị liệu hàng đầu kéo dài hơn 90 ngày sau khi hoàn thành điều trị. Những bệnh nhân này được lợi nhiều nhất từ hóa trị liệu hàng thứ hai. Những bệnh nhân bị bệnh nhạy cảm đáp ứng với cùng phác đồ ban đầu ở gần 50% số trường hợp; tuy nhiên ảnh hưởng độc hại tích lũy có thể xảy ra sau đó.

Những bệnh nhân kháng với trị liệu hoặc không đáp ứng với hóa trị liệu hàng đầu hoặc đáp ứng nhưng tái phát trong vòng 90 ngày từ khi hoàn thành liệu trình ban đầu.

Kết quả từ các nghiên cứu giai đoạn II đối với các thuốc như topotecan, irinotecan và gemcitabine cho thấy tỷ lệ đáp ứng với các loại thuốc khác nhau tùy thuộc vào bệnh nhân có bệnh nhạy cảm, kháng với trị liệu hay khó điều trị.

Topotecan là hóa trị liệu chuẩn cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát. Bệnh nhân nhạy cảm có thể đáp ứng với nhiều thuốc bao gồm topotecan, irinotecan, taxane, vinorelbine, paclitaxel, hay gemcitabine. Tỷ lệ đáp ứng khi dùng thuốc kết hợp thường cao hơn so với tỷ lệ khi dùng thuốc đơn lẻ.

Liệu pháp giảm nhẹ

Bệnh nhân bị tái phát bệnh tại hệ thần kinh trung ương có thể giảm nhẹ các triệu chứng bằng hóa trị liệu bổ sung và/hoặc xạ trị.

Một đánh giá hồi cứu cho thấy 43% số bệnh nhân được điều trị hóa trị liệu bổ sung ở thời điểm bệnh tái phát tại hệ thần kinh trung ương đã đáp ứng với hóa trị liệu hàng thứ hai. Đa số bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị có đáp ứng tích cực và cải thiện sau xạ trị.

Với các bệnh nhân có tổn thương tắc nghẽn nội phế quản từ bên trong hoặc khối u chèn ép từ bên ngoài có thể giảm nhẹ thành công bằng trị liệu laser nội phế quản (chỉ áp dụng cho tổn thương nội phế quản) và/hoặc trị liệu ngắn ngày.

Stent kim loại có thể giãn nở được đưa vào một cách an toàn nhờ gây tê tại chỗ qua ống soi phế quản, giúp cải thiện các triệu chứng và chức năng phổi cho những bệnh nhân bị tắc nghẽn đường thở ác tính.

Những bệnh nhân có khối u trong lồng ngực tiến triển sau khi hóa trị liệu lần đầu không thành công có thể đáp ứng khối u rõ rệt, giảm nhẹ các triệu chứng và kiểm soát bệnh tại chỗ trong thời gian ngắn nhờ xạ trị chùm tia ngoài. Tuy nhiên, chỉ một số ít bệnh nhân có thời gian sống thêm kéo dài sau xạ trị hỗ trợ.

Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ / 2023

Ung thư phổi không tế bào nhỏ là loại ung thư phổ biến nhất chiếm 84% trong tất cả các chẩn đoán ung thư phổi. Với mỗi loại bệnh sẽ có phương pháp điều trị khác nhau.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ

Ung thư phổi không tế bào nhỏ bắt đầu khi các tế bào khỏe mạnh trong phổi thay đổi và phát triển ngoài tầm kiểm soát, tạo thành một khối gọi là khối u, có tổn thương hoặc các nốt sần. Một khối u phổi có thể bắt đầu ở bất kỳ vị trí nào trong phổi.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ

Một khối u có thể là lành tính hoặc ung thư. Khi khối u phổi phát triển nó có thể làm bong các u phổi. Những tế bào này có thể được mang đi trong máu hoặc trôi đi trong chất lỏng (bạch huyết) bao quanh mô phổi. Bạch huyết chảy qua các mạch bạch huyết vào hạch bạch huyết (là những cơ quan nhỏ, hình hạt đậu giúp chống nhiễm trùng). Hạch bạch huyết nằm trong phổi, trung tâm của ngực và các nơi khác trong cơ thể. Dòng chảy tự nhiên của bạch huyết ra khỏi phổi về phía trung tâm của ngực, điều này có thể giải thích tại sao ung thư phổi thường lây lan ở đó trước tiên. Khi một tế bào ung thư di chuyển vào mạch hạch bạch huyết hoặc đến một phần xa hơn của cơ thể thông qua máu, nó được gọi là di căn.

Các loại ung thư phổi không tế bào nhỏ: ung thư phổi tế bào không nhỏ bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Nó cũng có thể được mô tả dựa trên các loại tế bào biểu mô nơi ung thư bắt đầu:

Ung thư tuyến bắt trong trong các tế bào sản xuất chất nhầy.

Ung thư biểu mô tế bào vảy bắt đầu trong các tế bào lót đường dẫn khí.

Ung thư biểu mô tế bào lớn bắt đầu trong các tế bào khác với hai loại được mô tả ở trên.

Để giúp cho quá trình chẩn đoán và điều trị, điều quan trọng nhất là các bác sĩ phải phân biệt được ung thư phổi bắt đầu trong các tế bào vảy với ung thư phổi bắt đầu trong các tế bào khác.

Các thống kê của bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

Ung thư phổi cần được phát hiện và điều trị sớm

Ung thư phổi tế bào không nhỏ là loại ung thư phổi phổ biến nhất, chiếm 84% trong số các chẩn đoán ung thư phổi. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm cho những người mắc tất cả các loại ung thư phổi là 19%. Tỷ lệ sống 5 năm đối với nam là 16%. Tỷ lệ sống 5 năm đối với phụ nữ là 22%. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với ung thư phổi tế bào không nhỏ là 23%, so với 6% đối với ung thư phổi tế bào nhỏ. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tỷ lệ sống sót phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại phụ của ung thư phổi và giai đoạn mắc bệnh.

Đối với những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ cục bộ, có nghĩa là ung thư không lan ra ngoài phổi, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 60%. Đối với ung thư phổi tế bào không nhỏ khu vực, có nghĩa là ung thư đã lan ra ngoài phổi đến các khu vực lân cận, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 33%. Nếu ung thư đã lan đến các bộ phận xa của cơ thể, được gọi là ung thư phổi di căn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 6%, nhưng do các liệu pháp mới có hiệu quả, con số này đang thay đổi.

Mỗi năm, hàng chục ngàn người được chữa khỏi bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ tại Hoa Kỳ. Và một số bệnh nhân bị ung thư phổi tiến triển có thể sống nhiều năm sau khi chẩn đoán. Điều quan trọng cần nhớ là ung thư phổi có thể điều trị được ở bất kỳ giai đoạn nào và những phương pháp điều trị này đã được chứng minh là giúp những người bị ung thư phổi sống lâu hơn với chất lượng cuộc sống tốt hơn.

Nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi không tế bào nhỏ

Thuốc lá và hút thuốc: Khói thuốc lá làm hỏng các tế bào trong phổi, khiến các tế bào phổi phát triển bất thường. Nguy cơ hút thuốc lá dẫn đến ung thư cao hơn đối với những người hút nhiều hoặc hút trong một thời gian dài. Tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc từ người khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi ngay cả khi người đó không hút thuốc.

Hút cần sa và sử dụng thuốc lá điện tử cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

A-mi-ăng: Đây là những tinh thể giống như tóc được tìm thấy trong nhiều loại đá và thường sử dụng là vật liệu cách nhiệt chống cháy trong các tòa nhà. Khi sợi amiăng được hít vào, chúng có thể gây kích ứng phổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa hút thuốc và phơi nhiễm amiang đặc biệt nguy hiểm.

Radon: Đây là một loại khí vô hình, không mùi được giải phóng tự nhiên bởi một số đất và đá. Nếu phơi nhiễm với radon sẽ có nguy cơ tăng cao mắc một số loại ung thư bao gồm cả ung thư phổi.

Các chất hóa học khác: Các chất hóa học khác như khí, hóa chất tại nơi làm việc hoặc trong môi trường có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi. Ở một số nơi trên thế giới, những người tiếp xúc với ngọn lửa nấu ăn từ than hoặc gỗ có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Ngoài ra, khói từ khí diesel hoặc từ kim loại hàn cũng có thể tăng nguy cơ ung thư phổi. Hoặc tiếp xúc với một số chất như bức xạ, asen, niken, crom cũng tăng nguy cơ ung thư phổi

Di truyền học: Một số người mắc bệnh có thể là do di truyền. Nếu có cha mẹ, anh trai hoặc em gái bị ung thư phổi, thì bạn cũng có thể có nguy cơ mắc ung thư phổi cao.

Hình ảnh của ung thư phổi giai đoạn 4

Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư phổi không tế bào nhỏ

Những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể gặp các triệu chứng hoặc dấu hiệu sau. Tuy nhiên, một số người khác không có bất kỳ dấu hiệu gì hoặc nguyên nhân của triệu chứng chỉ là một tình trạng y tế khác không phải là ung thư.

Mệt mỏi

Ho

Khó thở

Đau ngực, nếu một khối u lan đến niêm mạc phổi hoặc các bộ phận khác của cơ thể ở gần phổi

Ăn mất ngon

Ho ra đờm hoặc chất nhầy

Ho ra máu

Giảm cân không rõ nguyên nhân

Khàn tiếng

Đối với những người bị ung thư phổi tế bào không nhỏ không có triệu chứng có thể chụp Xquang hoặc CT để kiểm tra.

Hầu hết những người mắc bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ đều được chẩn đoán khi khối u phát triển, chiếm không gian hoặc bắt đầu gây ra các vấn đề với bộ phận của cơ thể gần phổi. Một khối u phổi cũng có thể tạo ra chất lỏng tích tụ lại trong phổi hoặc không gian xung quanh phổi hoặc đẩy không khí ra khỏi phổi và làm cho phổi bị xẹp. Điều này sẽ ngăn oxy đi vào cơ thể và carbon dioxide đi ra khỏi cơ thể bằng cách ngăn chặn luồng không khí vào phổi hoặc sử dụng hết không gian cần thiết để oxy đi vào và carbon dioxide đi ra khỏi phổi.

Ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể lan bất cứ nơi nào trong cơ thể thông qua quá trình di căn. Vị trí phổ biến nhất đến các hạch bạch huyết, các bộ phận khác của phổi, xương, não, gan và tuyến thượng thận. Di căn từ ung thư phổi tế bào không nhỏ có thể gây ra:

Hiếm khi, một khối u phổi có thể giải phóng ra hormone gây ra các vấn đề như nồng độ canxi trong máu thấp hoặc cao.

Các triệu chứng như: mệt mỏi, cảm thấy khó chịu hoặc không khỏe và chán ăn không nhất thiết là do di căn. Ung thư ở bất cứ vị trí trong cơ thể cũng có thể khiến người bệnh cảm thấy không khỏe theo cách chung.

Dấu hiệu ho ra máu ở người bệnh ung thư phổi

Nếu ung thư được chẩn đoán, việc giảm các triệu chứng vẫn là một phần quan trọng trong chăm sóc và điều trị ung thư. Điều này có thể được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ. Nó thường được bắt đầu ngay sau khi chẩn đoán và tiếp tục trong suốt quá trình điều trị.

Các giai đoạn bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ

Bệnh ung thư phổi tế bào không nhỏ được chia thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 0: Bệnh ở thời điểm này là ung thư tại chỗ và không phát triển thành các mô lân cận và lan ra ngoài phổi

Giai đoạn 1: Ung thư phổi tế bào không nhỏ ở giai đoạn này là một khối u nhỏ chưa lan đến bất kỳ hạch bạch huyết nào, nên bác sĩ có thể loại bỏ hoàn toàn. Giai đoạn này được chia thành hai thời kỳ theo kích thước của khối u: Khối u IA có kích thước nhỏ hơn 3 cm và Khối u IB có kích thước lớn hơn 3cm nhưng nhỏ hơn 4cm.

Giai đoạn 2: Giai đoạn này cũng được chia thành hai thời kỳ: ung thư IIA với những khối u lớn hơn 4cm nhưng nhỏ hơn 5cm (chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó) và ung thư IIB với những khối u có kích thước từ 5cm trở xuống đã di căn đến các hạch bạch huyết hoặc các khối u lớn hơn 5cm nhưng chưa lan đến các hạch bạch huyết.

Giai đoạn 3: Ung thư phổi tế bào không nhỏ giai đoạn này được phân loại là IIIA, IIIB hoặc IIIC. Giai đoạn ung thư phổi tế bào không nhỏ dựa trên kích thước khối u và các hạch bạch huyết ung thư đã di căn sang. Ung thư giai đoạn 3 chưa lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn 4: Có nghĩa là ung thư phổi đã lan đến hơn 1 vị trí trong phổi, chất lỏng bao quanh phổi hoặc tim hoặc các bộ phận xa của cơ thể thông qua máu. Ung thư phổi tế bào không nhỏ có nhiều khả năng lây lan đến não, xương, gan và tuyến thượng thận.

cơ quan khác trong cơ thể người bệnh

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ như thế nào?

Ung thư phổi không tế bào nhỏ cũng như những bệnh lý khác, phát hiện càng sớm, điều trị càng hiệu quả. Ung thư phổi phát triển qua các giai đoạn từ 0 đến 4. Tùy từng giai đoạn tiến triển của bệnh, thời điểm phát hiện và thể trạng người mắc mà áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau. Ngày nay, với sự tiến bộ của y học , ngày càng nhiều phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ ra đời, giúp người mắc bệnh có thêm cơ hội sống. Cụ thể các phương pháp điều trị bệnh trong từng giai đoạn như sau:

Ung thư phổi khi đến giai đoạn 4 di căn đến

Ở giai đoạn 0, tế bào ung thư chưa xâm lấn vào mô phổi hay các vùng khác trong cơ thể. Vì vậy, khối u này không cần đến xạ trị hay hóa trị mà có thể xử lý bằng phẫu thuật.

Nếu bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn 1, người mắc thường được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u. Đối với những trường hợp có nguy cơ tái phát sau phẫu thuật sẽ được chỉ định thêm hóa trị kết hợp để tiêu diệt tận gốc tế bào ung thư.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 0:

Khi ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển đến giai đoạn 2, người mắc vẫn được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ và hóa trị tùy vào sức khỏe toàn trạng.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 2:

Hóa trị và xạ trị có thể thực hiện cùng nhau, được gọi là hóa trị liệu đồng thời hoặc cũng có thể được thực hiện tuần tự.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3:

Phẫu thuật và xạ trị thường không phải là phương pháp điều trị chính đối với người bị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 4 bởi khi dó tế bào ác tính đã di căn đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Trong một số ít trường hợp, người mắc có thể được phẫu thuật nếu khối u di căn trong não hoặc tuyến thượng thận, nhưng với điều kiện đó là nơi duy nhất ung thư đã lan rộng.

Hầu hết những người ở giai đoạn này phải áp dụng phương pháp điều trị toàn thân như hóa trị liệu, liệu pháp mục tiêu hoặc liệu pháp miễn dịch.

Hỗ trợ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng sản phẩm thảo dược Fucoidan Vua đến từ Nhật Bản

Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Bên cạnh các phương pháp hóa, xạ trị, liệu pháp miễn dịch thì các chuyên gia Nhật Bản khuyên rằng, để nâng cao hiệu quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, người mắc nên kết hợp sử dụng sản phẩm có thành phần từ Fucoidan Mozuku và nấm Agaricus như TPBVSK King Fucoidan & Agaricus.

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 4:

Lý do khiến Fucoidan vua được đa số bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ sử dụng và giới chuyên môn đánh giá cao vì hàm lượng fucoidan tinh khiết có trong sản phẩm ở ngưỡng cao và được kết hợp với nấm Agaricus. Fucoidan từ lâu đã được thế giới công nhận có thể tấn công tế bào ung thư nhằm góp phần thúc đẩy chúng đi theo con đường Apoptosis tự hủy diệt. Bên cạnh đó, hợp chất này còn góp phần hỗ trợ ngăn chặn tái tạo mạch máu mới quanh tế bào ung thư, góp phần giảm bớt tác dụng phụ do phương thức điều trị gây ra. Đây chính là khác biệt của Fucoidan so với các phương pháp điều trị ung thư khác như hóa trị liệu. Nấm Agaricus làm tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch thông qua việc kích thích các tế bào miễn dịch hoạt động “mạnh mẽ” hơn.

Do đó, ngoài giúp hỗ trợ điều trị, 2 hoạt chất này còn phát huy vai trò phòng tránh mắc bệnh và giảm nguy cơ di căn của tế bào ung thư hiệu quả.

Sản phẩm Fucoidan vua là sản phẩm duy nhất đạt chứng nhận GMP Nhật Bản tại Việt Nam và được Bộ y té cấp phép ban hành.

Như vậy, TPBVSK King Fucoidan & Agaricus là công thức toàn diện dành cho những trường hợp mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ trước, trong và sau khi điều trị phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

Fucoidan Vua và phản hồi của khách hàng

King Fucoidan & Agaricus

“Sau khi dùng King Fucoidan & Agaricus – (Fucoidan Vua) thì tôi thấy thể trạng của mình tốt hơn. Sở dĩ sản phẩm cũng đã được chứng nhận bởi Bộ Y Tế, có tem nhãn chống hàng giả nên tôi rất yên tâm và sử dụng suốt. Sau 3-6 tháng đi xét nghiệm lại thì tôi thấy chỉ số sinh hóa của mình rất tốt, thể lực của mình càng ngày càng tăng. Sau xạ trị thì tôi có nám và tàn nhang nhưng sản phẩm này nó cũng giúp bay dần. Trước đây thì hay phải mua xách tay rất khó khăn nhưng giờ đã có công ty phân phối tại Việt Nam rồi nên tôi rất yên tâm”.

Ghi nhận hiệu quả của Fucoidan Vua từ các chuyên gia đầu ngành

THÔNG TIN HỮU ÍCH:

King Fucoidan & Agaricus (Fucoidan Vua) – Ức chế sự phát triển của tế bào ung thư phổi

Cô Kim Lan – Hà Nội chia sẻ về King Fucoidan & Agaricus (Fucoidan Vua) trên VTV2

Chứng nhận đạt chuẩn GMP Nhật Bản

Bác Vũ Tuấn Anh – Cao Bằng bị ung thư dạ dày và được bác sĩ trả về từ năm 2016 nhưng nhờ uống King Fucoidan & Agaricus – (Fucoidan Vua), kỳ tích đã xảy ra, bác vẫn duy trì sự sống cho đến nay Bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh – Bệnh viện 115 công nhận tác dụng của Fucoidan Vua Hình ảnh theo dõi tế bào ung thư phổi khi có hoạt chất Fucoidan