【#1】Kiểm Tra Gen Ung Thư|Eri Clinic Omotesando

Để có một cơ thể không mắc ung thư

Định lượng các nguy cơ tiềm tàng gây ung thư từ gene di truyền trong máu bằng công nghệ phân tích gene di truyền tiên tiến nhất, từ đó kiểm tra gene di truyền để phát hiện bệnh sớm.

Nhìn chung, thiết bị kiểm tra ung thư bao gồm chẩn đoán hình ảnh như PET, CT, MRI, …và khám nội soi. Tuy nhiên không thể phát hiện được khối u phát triển đến một kích thước nhất định. Bên cạnh đó, người ta cho rằng khi khối u đã phát triển đến kích thước nhìn thấy được, thì 1 tế bào ung thư đã phát triển trong một thời gian dài từ 5-20 năm.

Tại Eri Clinic Omotesando, chúng tôi không chỉ điều trị khi đã phát bệnh mà còn thực hiện kiểm tra gene để hỗ trợ mang lại một cơ thể khỏe mạnh không bị đe dọa bởi ung thư nhờ đánh giá được nguy cơ tiềm tàng gây nên ung thư từ trước đó.

Nội dung kiểm tra

1. Kiểm tra những biến đổi phát sinh sau của những gene ung thư có trong máu

Trong thử nghiệm này, chúng tôi điều tra nguy cơ tiềm tàng của các tế bào ung thư cực nhỏ từ trước khi chúng tăng lên bởi các nguyên nhân như thói quen sinh hoạt, môi trường sống, căng thẳng, sự lão hóa và phát triển thành ung thư, chứ không phải là nguy cơ di truyền (thể chất) thừa hưởng từ cha mẹ. Biết trước nguy cơ ung thư trong tương lai, chúng ta có thể xây dựng kế hoạch phòng ngừa.

2. Đánh giá định lượng từ 1-100 các nguy cơ tiềm tàng gây ung thư nhờ sử dụng kỹ thuật phân tích tiên tiến nhất.

Quy trình kiểm tra

Từ khi lấy máu đến khi đánh giá được báo cáo kết quả kiểm tra mất khoảng 3 tuần.

1. Tư vấn
Viện trưởng sẽ giải thích nội dung kiểm tra.

Xin vui lòng điền vào phiếu câu hỏi.

2. Lấy máu
Chúng tôi sẽ lấy khoảng 25ml máu để phục vụ cho việc kiểm tra cần thiết.
3. Kiểm tra
Thực hiện kiểm tra gene ung thư trong máu trong khoảng 3 tuần.
4. Đánh giá
Viện trưởng sẽ giải thích kết quả đánh giá dựa trên báo cáo kết quả kiểm tra. Sau đó sẽ chỉ định những phương pháp phòng chống ung thư phù hợp với kết quả của từng bệnh nhân.

【#2】Xét Nghiệm Tại Nhà Đầu Tiên Tìm Gen Ung Thư Vú “jolie”

Ước tính khoảng 1/300 đến 1/800 người Mỹ mang đột biến BRCA, thường được gọi là gen Angelina Jolie do nữ minh tinh đã phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên ngực vào năm 2013 sau khi phát hiện ra mình thừa hưởng đột biến gen từ mẹ.

Công ty cho biết việc có được một xét nghiệm thuận tiện, hợp túi tiền sẽ đặc biệt có giá trị đối với những người không biết về tiền sử bệnh ung thư của gia đình, nhưng FDA cảnh báo rằng có những hạn chế nghiêm trọng đối với kết quả.

Các hướng dẫn lâm sàng hiện nay về đánh giá nguy cơ di truyền của một người khi có đột biến BRCA dựa trên các dữ liệu tiền sử cá nhân và gia đình của một số bệnh ung thư nhất định.

Tuy nhiên, một nghiên cứu của chuyên gia di truyền học và ung thư vú Mary Claire-King cho thấy 50% gia đình có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2 “không có tiền sử ung thư vú hoặc buồng trứng có thể gây ra chú ý trên lâm sàng”.

Điều này nêu bật nhu cầu cần có những xét nghiệm dễ tiếp cận hơn cho mọi người, chứ không chỉ những người biết rằng họ có thể có nguy cơ mang gen đột biến.

1/8 số phụ nữ ở Mỹ sẽ phát triển ung thư vú trong đời. Khoảng 5 đến 10% trường hợp ung thư vú là di truyền và có thể do đột biến BRCA.

Một nghiên cứu gần đây của Đại học Cambridge ước tính khoảng 72% phụ nữ kế thừa đột biến gen BRCA1 và khoảng 69% kế thừa đột biến BRCA2 có hại sẽ phát triển ung thư vú cho đến tuổi 80.

1/73 số phụ nữ sẽ phát triển ung thư buồng trứng, và nghiên cứu của Cambridge này cũng ước tính rằng khoảng 44% phụ nữ mang đột biến BRCA1 và khoảng 17% mang đột biến BRCA2 sẽ phát triển ung thư buồng trứng cho đến tuổi 80.

Xét nghiệm dự kiến có giá 199 đô la gồm một tăm bông được đưa vào miệng để lấy mẫu nước bọt trước khi cho vào hộp đựng đậy kín và gửi cho phòng thí nghiệm của công ty tại California.

Nó có thể phát hiện ra ba trong số hơn 1.000 đột biến gen BRCA di truyền nhưng không thể xác định được nguy cơ phát triển ung thư nói chung của một người.

Phụ nữ mang một trong những biến thể này có 45-85% khả năng phát triển ung thư vú cho đến tuổi 70.

FDA cho biết, hầu hết các trường hợp ung thư không phải do đột biến di truyền, và những mẫu được theo dõi bằng xét nghiệm này không phải là những đột biến BRCA phổ biến nhất.

Các biến dị phổ biến nhất là ở người gốc Do Thái Ashkenazi, nhưng có tỷ lệ thấp hơn nhiều ở các dân tộc khác.

FDA đã cảnh báo rằng xét nghiệm không phải là cách thay thế cho việc định kỳ đi khám bác sĩ và không nên dựa vào đó để đưa ra bất kỳ quyết định y khoa nào.

23andMe sẽ được yêu cầu phải in các cảnh báo về những hạn chế của thông tin di truyền được cung cấp.

Công ty có trụ sở tại Thung lũng Silicon này là công ty đầu tiên được FDA cho phép cung cấp các xét nghiệm ADN đặt hàng qua thư từ năm 2007.

Sản phẩm phổ biến nhất mà họ cung cấp là một bộ dụng cụ xét nghiệm thông tin về tổ tiên và phác thảo khả năng phát triển các bệnh như béo phì, tiểu đường, bệnh tim hoặc ung thư.

Hệ thống này đã bị các chuyên gia phê phán rằng kết quả đã bị đơn giản hóa quá mức và vô bổ.

FDA đã không cho 23andMe chào hàng thông tin y tế di truyền vào năm 2013, nhưng công ty đã nộp đơn lại và tháng 4 năm 2021 đã được phép đưa ra thị trường 10 xét nghiệm di truyền đối với các bệnh như Parkinsons và Alzheimer.

Đột biến gen BRCA là gì?

Angelina Jolie đã thu hút sự chú ý đến gen BRCA vào năm 2013 khi cô phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên ngực sau khi biết mình được thừa hưởng một đột biến từ mẹ.

Gen BRCA1 và BRCA2 sản sinh ra các protein ức chế khối u giúp sửa chữa ADN bị tổn thương.

Khi một trong hai gen này bị đột biến, các tế bào dễ phát triển những biến đổi di truyền phụ có thể dẫn đến ung thư.

Những người mang một số đột biến BRCA nhất định có xu hướng phát triển ung thư vú và buồng trứng ở tuổi trẻ hơn những người không mang những đột biến này.

Các đột biến có thể là di truyền từ cha mẹ, và trẻ có cha hoặc mẹ mang đột biến ở một trong những gen này có 50% khả năng thừa hưởng đột biến đó.

Cẩm Tú

Theo DM

【#3】Công Khai 6 Thông Tin Cần Biết Về Xét Nghiệm Gen Ung Thư

Ung thư là bệnh lý nguy hiểm có tỷ lệ tử vong hàng đầu thế giới. Đa số bệnh nhân đều phát hiện ở giai đoạn muộn vì quá trình ẩn bệnh lâu dài, không có biểu hiện bất thường rõ rệt trên cơ thể. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này, trong đó có sự lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bằng cách xét nghiệm gen ung thư có thể chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả.

1. Xét nghiệm gen ung thư là gì?

Hiện nay, với kỹ thuật xét nghiệm đa gen bằng kỹ thuật giải trình thế hệ mới, đã cho phép phân tích nhiều gen đột biến cùng lúc chỉ với một xét nghiệm. Chi phí của phương pháp này cũng ít tốn kém hơn so với xét nghiệm đơn gen truyền thống. Bên cạnh đó, nhiều người có thể cùng tham gia vào chương trình sàng lọc ung thư di truyền được khuyến cáo bởi hiệp hội ung thư trên thế giới.

Xét nghiệm gen ung thư có ý nghĩa trong chẩn đoán và điều trị bệnh

2. Xét nghiệm gen ung thư có thể tầm soát được những loại ung thư nào?

Ung thư có khả năng lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nên việc thực hiện xét nghiệm sẽ cho biết sớm khả năng có thể mắc phải. Xét nghiệm gen ung thư có thể tầm soát được những loại ung thư sau:

+ Ung thư vú;

+ Ung thư buồng trứng;

+ Ung thư ruột kết;

+ Ung thư tuyến giáp;

+ Ung thư tuyến tiền liệt;

+ Ung thư tuyến tụy;

+ Ung thư mô liên kết;

+ Ung thư thận;

+ Ung thư dạ dày.

Xét nghiệm gen có thể tầm soát được nhiều loại ung thư

3. Trường hợp có nguy cơ mắc phải ung thư do đột biến gen di truyền

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ung thư, trong đó phải kể đến do đột biến gen, ung thư lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với những sự tác động bên ngoài cùng thay đổi trong gen, gây nên đột biến là điều không tránh khỏi. Biết được nguy cơ và chẩn đoán sớm sẽ có phương pháp điều trị hợp lý nhất để sức khỏe tốt hơn.

Đột biến gen di truyền có thể tăng nguy cơ ung thư trong các trường hợp sau:

+ Trong gia đình có tiền sử ung thư mắc phải từ 3 người trở lên ở các dạng giống hoặc gần giống nhau;

+ Một người trong gia đình mắc từ 2 loại bệnh ung thư khác nhau trở lên;

+ Có 2 người thân trong gia đình được chẩn đoán mắc phải ung thư trở lên khi họ còn nhỏ;

+ Người thân trong gia đình mắc phải các loại bệnh ung thư hiếm gặp như: ung thư buồng trứng, thận hay mô liên kết.

4. Ý nghĩa của xét nghiệm gen ung thư

Xét nghiệm gen ung thư cho biết khả năng có thể mắc phải loại ung thư nào đó khi tiền sử gia đình có người thân đã từng được chẩn đoán. Từ kết quả xét nghiệm, bác sĩ sẽ đánh giá được mức độ di truyền ung thư cao hay thấp để có tư vấn cho bệnh nhân về cách thức điều trị và cải thiện sức khỏe.

Xét nghiệm gen cho biết nguy cơ có thể mắc phải ung thư do yếu tố di truyền

Hơn hết, khi có nhu cầu xét nghiệm, người bệnh sẽ được cung cấp thêm thông tin và giải thích về các vấn đề như:

+ Những ai trong gia đình nên thực hiện xét nghiệm gen ung thư;

+ Quy trình xét nghiệm gen ung thư được thực hiện như thế nào;

+ Những nguy cơ có thể xảy ra do đột biến gen;

+ Sau khi xét nghiệm sẽ thu được kết quả như thế nào và ý nghĩa của kết quả đó trong chẩn đoán, điều trị ung thư sớm;

+ Những việc cần làm sau khi thực hiện xét nghiệm gen ung thư.

5. Quy trình xét nghiệm gen ung thư

Xét nghiệm gen ung thư nên được thực hiện càng sớm càng tốt với các trường hợp sau:

+ Tiền sử ung thư của bản thân hay người thân trong gia đình. Nếu thực hiện xét nghiệm đơn lẻ không tìm ra mầm mồng hoặc không cho kết quả chính xác thì nên xét nghiệm đa gen.

Quy trình này được thực hiện chỉ qua vài bước đơn giản mà mang lại hiệu quả cao:

Bước 2: Tìm thời điểm thích hợp để thực hiện xét nghiệm;

Bước 3: Lắng nghe tư vấn di truyền và đăng ký xét nghiệm;

Bước 4: Lấy mẫu xét nghiệm. Có thể lấy mẫu máu hoặc niêm mạc miệng;

Bước 5: Trả kết quả và tư vấn về kết quả đó.

Có thể thấy những bước này đều được thực hiện nhanh chóng, không mất nhiều thời gian và chi phí, cũng không ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Vì vậy nếu bạn là một trong những đối tượng có nguy cơ thì nên xét nghiệm sớm để tăng hiệu quả điều trị nếu như có phát hiện bệnh.

6. Xét nghiệm gen ung thư tại MEDLATEC để tăng hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị

Với những kỹ thuật hiện đại ngày nay, xét nghiệm gen ung thư đã cho phép phát hiện sớm bệnh nhân có nguy cơ mắc phải ung thư do di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác hay không. Từ đó đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả. Kỹ thuật nào cũng có những ưu và nhược điểm nhất định. Nên bác sĩ sẽ cân nhắc và tư vấn cho bệnh nhân để thực hiện kỹ thuật này mang lại nhiều ý nghĩa nhất.

Đến với Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, khách hàng sẽ được đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn khám và tư vấn kết quả. Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị hiện đại là yếu tố quan trọng để mang đến kết quả nhanh chóng, chính xác cho bệnh nhân. Sẽ không phải mất nhiều thời gian chờ đợi khám và lấy kết quả. Khi có bất kỳ thắc mắc hay khó khăn nào, nhân viên y tế sẽ giải đáp và giúp đỡ tận tình.

【#4】Nữ Tiến Sỹ Trẻ Với Công Trình Giải Mã Và Phân Tích Hệ Gen Ung Thư Gan

Tin vui nhân ngày Phụ nữ Quốc tế 8 tháng 3 năm 2021: nữ tiến sỹ trẻ Nguyễn Hải Hà, Phó Trưởng phòng Phân tích hệ gen của Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN, cùng với các nhà khoa học Nhật Bản tại RIKEN và nhiều trường, viện khác vừa công bố công trình giải mã và phân tích hệ gen của 98 bệnh nhân ung thư gan mật trên tạp chí quốc tế nổi tiếng Nature Communications (IF 10,742)

Ung thư đường mật vùng trong gan và thể hỗn hợp ung thư đường mật – biểu mô tế bào gan được gọi chung là ung thư gan dạng đường mật (LCB). LCB chiếm tỷ lệ cao thứ 2 trong nhóm bệnh nhân ung thư gan phát triển và không phát triển từ viêm gan mạn tính và nguy hiểm hơn so ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Để hiểu rõ hơn về các biến đổi di truyền phân tử của LCB, nhóm nghiên cứu đã thực hiện giải mã và phân tích trình tự toàn bộ hệ gen của 30 mẫu LCB. Kết quả cho thấy, các kiểu biến đổi phân tử di truyền trên toàn bộ hệ gen của LCB phát triển từ gan bị viêm gan mãn tính giống với của HCC và khác với LCB không phát triển từ viêm gan. Khi nghiên cứu mở rộng trên 68 bệnh nhân LCB, các nhà khoa học đã xác định được các đột biến tái xuất hiện trên 7 gen khác nhau gồm TERT, BAP1, PBRM1 và ARID2, PCLO, IDH và KRAS. Tần số đột biến của các gen KRAS và IDH cao hơn ở các bệnh nhân LCB không phát triển từ viêm gan. Các kết quả nghiên cứu này cho thấy tác động mạnh mẽ của viêm gan mãn tính đến kiểu đột biến trong ung thư gan cũng như tính đa dạng di truyền giữa các LCB.

TS. Hidewaki Nakagawa, Trưởng Nhóm Phân tích trình tự Hệ gen, Trung tâm Y học Liên hợp, RIKEN, cho biết: Đây là một phát hiện thú vị, có thể chỉ ra rằng các loại ung thư, thậm chí khác nhau về loại mô học ở bệnh nhân viêm gan, có thể được bắt nguồn từ các tế bào tương tự nhau, có lẽ là các tế bào tiền thân của gan. Ở những bệnh nhân không viêm gan, không tìm thấy bất kỳ phân nhóm nào, điều này chỉ ra rằng bệnh ung thư của họ có thể có nguồn gốc tế bào rất khác nhau. Nhìn về tương lai, TS. Hidewaki Nakagawa cho biết thêm: Qua phân tích, có thể xác định ung thư gan dạng đường mật ở một số bệnh nhân giống với bệnh ung thư gan hơn, còn số khác lại giống với ung thư đường mật. Hy vọng rằng phát hiện này sẽ cho phép tạo ra phương pháp điều trị phù hợp cho từng loại trong tương lai. Ngoài ra, cũng hy vọng các đột biến mới được phát hiện có thể được sử dụng như là đích cho phương pháp điều trị trong tương lai.

Trước đó, trong khuôn khổ của Thỏa thuận hợp tác giữa Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN và Trung tâm Y học Liên hợp, Viện Nghiên cứu Lý Hóa (RIKEN), Nhật Bản, TS. Nguyễn Hải Hà, sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ tại CHLB Đức, đã tiến hành nghiên cứu sau tiến sỹ (postdoc) 2 năm với sự tài trợ của RIKEN. Trong thời gian này, chị đã tham gia giải mã hệ gen và phân tích chức năng các gen trong hệ gen ung thư tuyến tiền liệt và ung thư gan. Với các kết quả nghiên cứu thu được, chị là đồng tác giả 1 công trình trên tạp chí quốc tế danh tiếng về Di truyền học là Nature Genetics (IF 29, 648) và tác giả chính của 1 công trình trên tạp chí quốc tế hàng đầu về Di truyền phân tử người Human Molecular Genetics (IF 6,677).

TS. Nguyễn Hải Hà vận hành máy giải trình tự gen thế hệ mới tại Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN

Bài báo: “Whole-genome mutational landscape of liver cancers displaying biliary phenotype reveals hepatitis impact and molecular persity” đã được công bố Online trên tạp chí Nature Communications ngày 30 tháng 1 năm 2021.

Website Viện Hàn lâm KHCNVN http://vast.ac.vn/tin-tuc-su-kien/tin-khoa-hoc/trong-nuoc/2230-nu-tie-n-sy-tre-voi-cong-tri-nh-gia-i-ma-va-phan-ti-ch-he-gen-ung-thu-gan-ma-t

【#5】Giải Mã Và Phân Tích Hệ Gen Ung Thư Gan Mật

Nữ tiến sỹ trẻ Nguyễn Hải Hà, Phó Trưởng phòng Phân tích hệ gen của Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN, cùng với các nhà khoa học Nhật Bản tại RIKEN và nhiều trường, Viện khác vừa công bố công trình giải mã và phân tích hệ gen của 98 bệnh nhân ung thư gan mật trên tạp chí quốc tế nổi tiếng Nature Communications (IF 10,742).

Ung thư đường mật vùng trong gan và thể hỗn hợp ung thư đường mật – biểu mô tế bào gan được gọi chung là ung thư gan dạng đường mật (LCB). LCB chiếm tỷ lệ cao thứ 2 trong nhóm bệnh nhân ung thư gan phát triển và không phát triển từ viêm gan mạn tính và nguy hiểm hơn so ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Để hiểu rõ hơn về các biến đổi di truyền phân tử của LCB, nhóm nghiên cứu đã thực hiện giải mã và phân tích trình tự toàn bộ hệ gen của 30 mẫu LCB. Kết quả cho thấy, các kiểu biến đổi phân tử di truyền trên toàn bộ hệ gen của LCB phát triển từ gan bị viêm gan mãn tính giống với của HCC và khác với LCB không phát triển từ viêm gan. Khi nghiên cứu mở rộng trên 68 bệnh nhân LCB, các nhà khoa học đã xác định được các đột biến tái xuất hiện trên 7 gen khác nhau gồm TERT, BAP1, PBRM1 và ARID2, PCLO, IDH và KRAS. Tần số đột biến của các gen KRAS và IDH cao hơn ở các bệnh nhân LCB không phát triển từ viêm gan. Các kết quả nghiên cứu này cho thấy tác động mạnh mẽ của viêm gan mãn tính đến kiểu đột biến trong ung thư gan cũng như tính đa dạng di truyền giữa các LCB.

TS. Hidewaki Nakagawa, Trưởng Nhóm Phân tích trình tự Hệ gen, Trung tâm Y học Liên hợp, RIKEN, cho biết: Đây là một phát hiện thú vị, có thể chỉ ra rằng các loại ung thư, thậm chí khác nhau về loại mô học ở bệnh nhân viêm gan, có thể được bắt nguồn từ các tế bào tương tự nhau, có lẽ là các tế bào tiền thân của gan. Ở những bệnh nhân không viêm gan, không tìm thấy bất kỳ phân nhóm nào, điều này chỉ ra rằng bệnh ung thư của họ có thể có nguồn gốc tế bào rất khác nhau. Nhìn về tương lai, TS. Hidewaki Nakagawa cho biết thêm: Qua phân tích, có thể xác định ung thư gan dạng đường mật ở một số bệnh nhân giống với bệnh ung thư gan hơn, còn số khác lại giống với ung thư đường mật. Hy vọng rằng phát hiện này sẽ cho phép tạo ra phương pháp điều trị phù hợp cho từng loại trong tương lai. Ngoài ra, cũng hy vọng các đột biến mới được phát hiện có thể được sử dụng như là đích cho phương pháp điều trị trong tương lai.

Trước đó, trong khuôn khổ của Thỏa thuận hợp tác giữa Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN và Trung tâm Y học Liên hợp, Viện Nghiên cứu Lý Hóa (RIKEN), Nhật Bản, TS. Nguyễn Hải Hà, sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ tại CHLB Đức, đã tiến hành nghiên cứu sau tiến sỹ (postdoc) 2 năm với sự tài trợ của RIKEN. Trong thời gian này, chị đã tham gia giải mã hệ gen và phân tích chức năng các gen trong hệ gen ung thư tuyến tiền liệt và ung thư gan. Với các kết quả nghiên cứu thu được, chị là đồng tác giả 1 công trình trên tạp chí quốc tế danh tiếng về Di truyền học là Nature Genetics (IF 29, 648) và tác giả chính của 1 công trình trên tạp chí quốc tế hàng đầu về Di truyền phân tử người Human Molecular Genetics (IF 6,677).

TS. Nguyễn Hải Hà vận hành máy giải trình tự gen thế hệ mới tại Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KHCNVN

Tin: Minh Tâm

【#6】Hiệu Quả Của Thuốc Điều Trị Đích Trên Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Giai Đoạn Muộn Có Đột Biến Gen Egfr

PGS.TS. Phạm Cẩm Phương, ThS. Trần Văn Oai Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

Khoảng 10 năm trở về trước, ung thư phổi không tế bào nhỏ là loại ung thư có tiên lượng xấu, đặc biệt ở Việt Nam bệnh nhân thường phát hiện bệnh ở giai đoạn tiến triển và di căn nên thời gian sống còn toàn bộ chỉ khoảng dưới 1 năm. Với sự phát triển của sinh học phân tử khi tìm ra các dạng đột biến gen ở Ung thư phổi không tế bào nhỏ, cùng với đó là sự có mặt của các loại thuốc điều trị nhắm trúng đích tương ứng với các dạng đột biến đó, đã cải thiện đáng kể thời gian sống không bệnh tiến triển và thời gian sống toàn bộ cho bệnh nhân.

Đột biến gen EGFR (Epidemal Growth Factor Receptor: Thụ thể yếu tố phát triển biểu bì) là dạng đột biến phổ biến nhất, xảy ra ở 50% bệnh nhân Ung thư phổi không tế bào nhỏ ở châu Á. Trong các dạng đột biến EGFR thì 85% là đột biến “cổ điển” ở Exon 19 và Exon 21, số còn lại 15% là các đột biến hiếm từ Exon 18 đến Exon 25 của nhiễm sắc thể số 7. Hiện nay, tại Đơn vị Gen và Tế bào gốc của Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành thực hiện nhiều phân tích sinh học phân tử cho nhiều loại ung thư, và xét nghiệm đột biến gen EGFR ở bệnh nhân Ung thư phổi không tế bào nhỏ gần như được thực hiện thường quy để đánh giá tình trạng đột biến gen, cũng như xác định chính xác vị trí đột biến (trên exon bao nhiêu?) và loại đột biến (chuyển đoạn, mất đoạn, đột biến thay thế…), từ đó các bác sỹ lâm sàng có cơ sở để đưa ra quyết định điều trị phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất cho người bệnh.

Bệnh nhân N.T.H.T, nữ, 55 tuổi.

Quê quán : Nam Định

Ngày vào viện : 20.7.2019

Cách vào viện hơn 1 tháng, bệnh nhân xuất hiện tình trạng đau tức ngực phải, kèm theo ho khan nhiều, và khó thở nhẹ, gầy sút 3kg/1 tháng, đau nhức xương vùng chậu 2 bên, không ho khạc máu, không sốt. Bệnh nhân đi khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (CLVT) phát hiện khối u phổi gây xẹp phổi phải và tràn dịch màng phổi phải (hình 1), nên bệnh nhân được chuyển Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai để đánh giá và xét điều trị.

(Vòng xanh: tràn dịch màng phổi, vòng đỏ: khối u phổi và xẹp phổi phải) Khám lúc vào viện: Cận lâm sàng:

Chẩn đoán xác định:

– Ung thư phổi phổi phải di căn hạch trung thất, màng phổi, xương T 3N 3M 1c, giai đoạn IV.

Sau khi hội chẩn hội đồng giáo sư, bệnh nhân được điều trị:

Ngoài ra, bệnh nhân thỉnh thoảng vẫn còn triệu chứng khó thở khi vận động nên được dẫn lưu dịch màng phổi phải 4 lần tại Trung tâm.

Trong 1 tháng đầu điều trị bệnh nhân chỉ xuất hiện tình trạng nổi mẩn da mức độ nhẹ vùng mặt và 2 tay do tác dụng phụ của thuốc, tuy nhiên sau đó triệu chứng này giảm dần và biến mất.

Sau 3 tháng điều trị Afatinib bệnh nhân được đánh giá lại:

+ Xét nghiệm sinh hóa máu: các chỉ số đánh giá chức năng gan thận trong giới hạn bình thường, chỉ số chỉ điểm ung thư giảm về bình thường với CEA: 1,71 ng/mL, Cyfra 21-1: 1,61ng/mL.

+ Chụp cộng hưởng từ sọ não: Không thấy tổn thương thứ phát tại não.

+ Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Hình ảnh nốt ngấm thuốc nhỏ thùy dưới phổi phải kích thước 5x8mm, kèm theo xẹp phổi, không thấy dịch màng phổi. Có một số hạch trung thất, với hạch lớn nhất kích thước 16mm (hình 4).

+ Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: không phát hiện tổn thương thứ phát các tạng trong ổ bụng. Hình ảnh tổn thương đặc xương cuống sống T12 và cánh chậu 2 bên chưa loại trừ tổn thương thứ phát.

+ Xạ hình xương toàn thân: hình ảnh tổn thương xương khớp háng bên phải, khớp chậu cùng bên trái theo dõi tổn thương thứ phát (hình 5).

Hình 4. Hình ảnh Cắt lớp vi tính lồng ngực sau điều trị Afatinib 3 tháng

Như vậy, sau 3 tháng điều trị, bệnh nhân có đáp ứng rất tốt với điều trị, các triệu chứng lâm sàng cải thiện nhiều, bệnh nhân đã có thể sinh hoạt và lao động bình thường và các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy các tổn thương ở phổi, màng phổi đã không còn. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạch trung thất nhỏ và các tổn thương xương nên bệnh nhân sẽ tiếp tục được điều trị Afatinib và truyền thuốc chống hủy xương. Ngoài ra chúng tôi cũng phổi hợp với chuyên khoa dinh dưỡng để tư vấn cho bệnh nhân có chế độ ăn và chế độ sinh hoạt phù hợp nhất. Trong quá trình điều trị bệnh nhân sẽ được đánh giá định kì để theo dõi sự đáp ứng của bệnh.

【#7】Vi Rút Biến Đổi Gen Chữa Khỏi Ung Thư Da

Dân trí Một vi rút biến đổi gen đã chữa khỏi cho bệnh nhân ung thư da. Đây được coi là bước đột phá đầu tiên trên thế giới, làm tăng mối hy vọng về sự cáo chung của hóa trị liệu.

Trong nghiên cứu trên toàn thế giới, do Viện Nghiên cứu ung thư Anh tiến hành, các nhà khoa học thấy rằng cách điều trị mới này cho phép một số bệnh nhân ung thư da sống thêm được hơn 3 năm – một mốc mà nhiều chuyên gia về bệnh ung thư sử dụng để định nghĩa về khỏi bệnh.

Liệu pháp có tên là T-VEC, gây nhiễm và tiêu diệt tế bào ung thư, đồng thời cũng thúc đẩy hệ miễn dịch tấn công khối u.

Hiện nay hầu hết các trường hợp ung thư được điều trị bằng hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, tất cả những biện pháp này đều có nguy cơ gây hại.

Liệu pháp mới có ít tác dụng phụ hơn nhiều và không gây tổn thương cho tế bào hoặc mô bình thường.

Các thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành trong hơn 3 năm ở 64 cơ sở tại Anh, Mỹ, Canada và Nam Phi.

Kết quả cho thấy 163 bệnh nhân bị u hắc tố giải đoạn 3 và đầu giai đoạn 4 được điều trị bằng T-VEC đã sống thêm được trung bình 41 tháng, so với thời gian sống thêm trung bình chỉ 21,5 tháng ở 66 bệnh nhân được dùng các thuốc hóa trị tốt nhất hiện nay.

Và đáp ứng cũng rõ nhất ở những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn sớm hơn, cho thấy lợi ích của phương pháp này như một trị liệu đầu bảng cho những trường hợp ung th di căn không thể phẫu thuật được.

T-VEC là dạng vi rút herpes biến đổi nhân lên trong tế bào ung thư và phá hủy tế bào ung thư từ trong ra. Vi rút này đã được biến đổi gen để sinh ra một phân tử là GM-CSF, kích thích hệ miễn dịch tấn công và phá hủy khổi u.

Vi rút cũng được biến đổi để loại đi 2 gen chính khiến nó không thể nhân lên trong tế bào khỏe mạnh. Tế bào bình thường sẽ phát hiện và phá hủy T-VEC trước khi nó có thể gây hại, nhưng vi rút sẽ dễ dàng nhân lên trong tế bào ung thư vì hệ thống phòng ngự của những tế bào này bị giảm sút do những sai sót về di truyền.

Đây là một trong những thuốc mới từ vi rút cho thấy lợi ích trong các thử nghiệm về ung thư, là hiện là thuốc đầu tiên chứng minh hiệu quả trong thử nghiệm lớn giai đoạn III.

U hắc tố ác tính, hay ung thư da, là một trong năm ung thư hay gặp nhất ở Anh, với 13.000 trường hợp được chẩn đoán và hơn 2000 người chết mỗi năm

【#8】Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ, Không Tế Bào Vảy Giai Đoạn Tiến Xa Không Có Đột Biến Gen Egfr

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh nhân Nguyễn T. T, nữ, 58 tuổi. Vào viện vì: ho, khó thở. Khởi bệnh 10/2015 với các triệu chứng ho, đau tức ngực phải.

Hình ảnh PET/CT trước điều trị

Tổn thương xương cánh chậu phải max SUV=5,34, Tổn thương S1,Max SUV=4,4

U phế quản gốc phải

KT: 1,6×2,9cm, Max SUV=5,76

Chẩn đoán: K phổi di căn hạch trung thất di căn xương T4N2M1, giai đoạn IV

Mô bệnh học: Ung thư biểu mô tuyến, không có đột biết gen EGFR, ALK.

Bệnh nhân được điều trị phác đồ Cisplatin – Pemetrexed 6 chu kỳ:

+ Cisplatin 75 mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1

+ Pemetrexed (Alimta) 0,5 g/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1

Sau 6 chu kỳ điều trị hóa chất, bệnh nhân đỡ khó thở, không đau tức ngực, không ho, thể trạng tốt lên.

Hình ảnh PET/CT trước và sau 6 chu kỳ điều trị với Cisplatin-Pemetrexed

Trước điều trị: U phế quản gốc phải, kích thước: 1,6×2,9cm, Max SUV=5,76

Sau điều trị: U tan hết, không còn tổ chức tăng hấp thu FDG

Trước điều trị: Hạch cạnh phải khí quản

Sau điều trị: Hạch cạnh phải khí quản tan hết

KT 1,2×2,0 cm, Max SUV=5,08

Sau 6 chu kỳ điều trị hóa chất, bệnh nhân được điều trị duy trì liên tục bằng Pemetrexed. Hiện tại bệnh ổn định 20 tháng, đã điều trị duy trì 12 đợt Pemetrexed. Trên lâm sàng bệnh ổn định, không khó thở, không ho, tăng cân, thể trạng tốt lên. Tác dụng phụ ở mức độ nhẹ: mệt mỏi, buồn nôn. Chụp PET/CT: u, hạch, di căn xương tan biến.

2. Vài lời bàn luận

Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư hàng đầu về tỉ lệ mắc tại Việt Nam, bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV). Các phương pháp điều trị bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất, đích, miễn dịch sinh học. Lựa chọn và lập kế hoạch điều trị phụ thuộc giai đoạn bệnh, mô học, tình trạng đột biến gen, thể trạng của từng bệnh nhân. Đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa, điều trị chủ yếu dùng các phương pháp toàn thân như hóa chất, điều trị đích, miến dịch sinh học.

Điều trị đích gồm 2 nhóm: thuốc điều trị đích ức chế enzyme tyrosin kinanse (TKIs) hoặc chất ức chế tăng sinh mạch (anti-VEGF, Bevacizumab). Nhóm thuốc TKIs (Gefitinib hay Elortinib) là lựa chọn bước 1 với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến tại các exon 19 và 21 sẽ làm tăng sự nhạy cảm của thuốc; ngược lại đột biến tại exon 20 có thể gây kháng thuốc, những trường hợp này hóa chất là sự lựa chọn thích hợp. Những bệnh nhân phát hiện có đột biến gen EML4-ALK, có thể dùng thuốc crizotinib. Nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, nếu không phải biểu mô vảy thì có thể điều trị hóa chất phối hợp với Bevacizumab.

Điều trị miễn dịch sinh học là một xu hướng mới có nhiều hứa hẹn trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. Nguyên lý của liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư đó là: các tế bào lympho T của hệ miễn dịch trong cơ thể có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư, tuy nhiên các “điểm kiểm soát miễn dịch” (immune checkpoint) trên một số tế bào ung thư như CTLA-4 và PD-L1 có khả năng giúp các tế bào này thoát khỏi sự tiêu diệt của tế bào T. Vì vậy, nếu ức chế hoạt động của CTLA-4 và PD-L1 có thể làm tăng khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư của các lympho T. Hiện nay, những thuốc đã được FDA chấp thuận cho điều trị UTPKTBN giai đoạn tiến xa, được xếp vào 3 nhóm chính theo cơ chế tác dụng: các kháng thể kháng PD-1 như Nivolumab, Pembrolizumab; kháng thể kháng PD-L1 như Durvalumab, Atezolizumab, Avelumab; kháng thể kháng CTLA-4 như Ipilimumab, Tremelimumab.

Điều trị hóa chất phù hợp với bệnh nhân thể trạng khỏe, loại biểu mô tuyến nhưng không có đột biến gen EGFR, ung thư loại tế bào vảy… Các phác đồ hóa chất thường dùng là phác đồ phối hợp platinium (Cisplatin, Carboplatin) với nhóm Taxane (Paclitaxel, Docetaxel), Gemcitabine, Etoposide, Vinorelbine, Pemetrexed… Pemetrexed là thuốc hóa chất mới được minh chứng có hiệu quả tốt, ít tác dụng phụ trong điều trị ung thư phổi giai đoạn tiến xa.

Pemetrexed được chỉ định điều trị bước 1, điều trị bước 2, điều trị duy trì (điều trị duy trì liên tục hoặc duy trì chuyển đổi) trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh Pemetrexed giúp kéo dài thời gian sống còn toàn bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống trong điều trị duy trì ung thư phổi không tế bào nhỏ, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Nghiên cứu JMEI Pha III so sánh ALIMTA (n= 283) với docetaxel (n=288) trong điều trị bước 2 UTP không TB nhỏ giai đoạn tiến xa, thời gian sống thêm trung bình tăng không đáng kể (8,3 tháng so với 7,9 tháng) nhưng các tác dụng phụ khi điều trị Alimta ít gặp hơn so với Docetaxel đặc biệt là biến chứng giảm bạch cầu hạt và giảm bạch cầu hạt có sốt.

Điều trị duy trì chuyển đổi tức là bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ không có Pemetrexed và được xác định là bệnh không tiến triển trên lâm sàng và cận lâm sàng, sau đó được điều trị duy trì bằng Pemetrexed. Điều trị duy trì liên tục tức là bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ có Pemetrexed và được xác định là bệnh không tiến triển trên lâm sàng và cận lâm sàng, sau đó được điều trị duy trì bằng Pemetrexed. Các nghiên cứu lâm sàng như nghiên cứu JMEN, nghiên cứu PARAMOUT đều cho thấy điều trị duy trì bằng Pemetrexed giúp cải thiện thời gian sống toàn bộ và thời gian sống bệnh không tiến triển.

Nghiên cứu JMEN là nghiên cứu lâm sàng pha III, mù đôi, ngẫu nhiên, để đánh giá vai trò Pemetrexed khi được điều trị duy trì chuyển đổi trong UTPKTBN, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa. Bệnh nhân được điều trị 4 chu kỳ hóa chất với phác đồ nhóm Taxans (Paclitaxel, Docetaxel) hoặc Gemcitabine kết hợp với nhóm Platinum (Cisplatine, Carboplatine). Nếu bệnh không tiến triển thì bệnh nhân được phân ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân điều trị duy trì với Pemetrexed và nhóm không điều trị duy trì (bệnh nhân dùng giả dược, chăm sóc giảm nhẹ). Kết quả cho thấy điều trị duy trì với Pemetrexed giúp tăng thời gian sống thêm toàn bộ trung bình (15,5 tháng so với 10,3 tháng) và thời gian sống bệnh không tiến triển trung bình ( 4,5 tháng so với 2,6 tháng) với p < 0,001.

Nghiên cứu PARAMOUNT là nghiên cứu đánh giá vai trò của Pemetrexed trong điều trị duy trì liên tục. Nghiên cứu gồm những bệnh nhân UTPKTBN, không tế bào vảy giai đoạn tiến xa, chưa được điều trị trước đó, thể trạng tốt. Bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ Pemetrexed và Cisplatine 4 chu kỳ, sau đó đánh giá theo tiêu chuẩn Recist nếu bệnh không tiến triển thì bệnh nhân phân ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân được điều trị duy trì bằng Pemetrexed, nhóm bệnh nhân điều trị bằng giả dược và chăm sóc triệu chứng. Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian sống còn toàn bộ trung bình của nhóm điều trị duy trì bằng Pemetrexed tăng hơn so với nhóm không điều trị (13,9 tháng so với 11 tháng) với p < 0,001.

Tóm lại: Ung thư phổi không tế bào nhỏ, không vảy giai đoạn tiến xa được điều trị duy trì với pemetrexed giúp cải thiện thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống bệnh không tiến triển. Pemetrexed được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ, tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ, thường gặp như mệt mỏi, buồn nôn, nôn, thiếu máu…

【#9】Đã Tìm Ra Thuốc Điều Trị Ung Thư Da Bằng Virus Herpes Biến Đổi Gen

Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu ung thư ở London đã điều chế ra loại thuốc điều trị ung thư da bằng phương pháp biến đổi gen. Họ tiến hành tiêm thuốc điều trị ung thư T-VEC cho 436 bệnh nhân bị u ác tính được chọn lựa ngẫu nhiên. Thuốc được tiêm sau mỗi hai tuần và kéo dài tối đa 18 tháng. Kết quả, 25% số bệnh nhân có phản ứng tích cực với thuốc; 10% bệnh nhân hoàn toàn thuyên giảm, không còn tìm thấy tế bào ung thư, 16% bệnh nhân có dấu hiệu thuyên giảm bệnh sau 6 tháng. Trong khi đó, 163 bệnh nhân ung thư giai đoạn III và đầu giai đoạn IV được trị liệu bằng thuốc T-VEC sống được thêm 41 tháng, gấp 2 lần thời gian sống thêm của 66 bệnh nhân ung thư da giai đoạn thấp hơn được chữa trị bằng liệu pháp kiểm soát.

Phương pháp điều trị này có hiệu quả và cực kỳ an toàn bởi chúng tấn công tế bào ung thư bằng cả hai hướng, thứ nhất tiêu diệt tế bào ung thư và đồng thời kích thích hệ thống miễn dịch chống lại tế bào ung thư. Đặc biệt, liệu pháp này có triển vọng tiêu diệt được tế bào ung thư ngay cả khi cả khi bệnh đã lây lan đến các cơ quan nội tạng; điều này mang đến hy vọng cho những bệnh nhân đã không còn khả năng chữa trị ung thư bằng những loại thuốc điều trị ung thư da thường, giáo sư Kevin Harrington (Ke-vin Ha-ring-tơn), người đứng đầu nhóm nghiên cứu trên cho biết.

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc điều trị ung thư da T-VEC do hãng Amgen của Mỹ điều chế có kết quả khá tốt và hiện đã được trình lên các cơ quan quản lý dược phẩm của Mỹ và châu Âu và được chấp thuận. Trong thuốc điều trị ung thư da này, virus herpes- loại virus có thể lây nhiễm hay gây ra mụn rộp trên da, đã được loại bỏ hai gien chính nhằm ngăn chúng ảnh hưởng đến các tế bào bình thường của cơ thể.

Theo thống kê mỗi năm nước Anh có khoảng hơn 13.000 người bị chẩn đoán mắc ung thư da ác tính và trong số đó có 88% bệnh nhân chỉ sống được hơn 5 năm kể từ khi mắc bệnh. Do đó, loạithuốc điều trị ung thư da này đang mang đến hy vọng cho rất nhiều người trên thế giới.

Nguồn: http://dangcongsan.vn/pview/newid/305282.html

Bài thuốc hữu ích:

Bác sĩ Nguyễn Thu Hương

DƯỢC SỸ TƯ VẤN NẤM LIM XANH CHỮA UNG THƯ

error: Content is protected !!

【#10】Giải Mã Gen Để Trả Lời Câu Hỏi Ung Thư Có Di Truyền Không

Nếu gia đình có người mắc bệnh ung thư, những người thân không chỉ mang tâm lý đau buồn mà còn hoang mang, lo lắng và thắc mắc ung thư có di truyền không ? Giải mã gen chính là “chìa khóa” quan trọng giúp trả lời câu hỏi này chính xác nhất.

Tại sao con người mắc bệnh ung thư?

Ung thư là một trong những bệnh lý gây ám ảnh nhân loại với tỷ lệ tử vong cao thứ hai. Mặc dù giới khoa học đã nghiên cứu các loại thuốc và liệu pháp điều trị ung thư, nhưng xác suất thành công vẫn chưa ổn định. Tuy nhiên, ung thư không phải “án tử”, đặc biệt với trường hợp phát hiện ở giai đoạn sớm, hầu như 80% đều chữa khỏi. Thời gian là yếu tố tiên quyết trong cuộc chiến với ung thư.

Khi đó, hậu quả của quá trình này chính là sự hình thành khối u (hay còn gọi là bướu). Khối u có thể phát triển lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (đã mắc ung thư). Khối u lành tính vô hại và không có khả năng xâm lấn sang các mô xung quanh. Ngược lại khối u ác tính sẽ liên tục phát triển, xâm lấn các mô, xương cùng các cơ quan khỏe mạnh xung quanh. Cuối cùng, các tế bào ung thư “xâm chiếm” dần cơ thể, theo hạch bạch huyết lan sang các bộ phận khác tạo thành khối u tại khu vực mới (ung thư giai đoạn di căn).

Tùy loại gen đột biến sẽ gây ra bệnh ung thư nhất định như: ung thư vú, ung thư gan, ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng…

Bệnh ung thư có di truyền không?

Nếu không dựa vào khoa học, chúng ta rất khó để trả lời chính xác câu hỏi bệnh ung thư có di truyền không? Thật may khi hiện nay khoa học phát triển đã giúp khẳng định: Bệnh ung thư có tính chất di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

+ Các thành viên trong gia đình (ông, bố, con…) đều mắc ung thư, có thể 1 hoặc nhiều loại ung thư.

+ Độ tuổi mắc ung thư thường trẻ hơn bình thường.

+ Một người mắc không chỉ một loại mà nhiều loại ung thư.

+ Ung thư xảy ra ở cả hai cặp cơ quan như hai mắt, hai vú hoặc cả hai thận…

+ Nhiều thế hệ cùng mắc ung thư như ông, cha, và con trai.

Với những phân tích vừa rồi chắc hẳn bạn đã giải tỏa được thắc mắc ung thư có di truyền không? Hiện nay, chỉ có phương pháp giải mã gen mới đưa ra kết luận chính xác tuyệt đối.

Xét nghiệm tìm gen đột biến để phát hiện nguy cơ mắc ung thư từ sớm

Bất kể bạn là ai, bạn đang sống ở đâu, nguy cơ mắc ung thư hoàn toàn có thể xảy ra bởi tác nhân gây ung thư rất nhiều. Vì vậy, nếu đang băn khoăn bệnh ung thư có di truyền không bạn nên làm xét nghiệm gen để có thể sớm phát hiện ra các đột biến gen gây ung thư, từ đó có hướng điều trị kịp thời, ngăn ngừa phát triển thành bệnh, đồng thời tăng tỉ lệ sống cao nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

Nên tiến hành xét nghiệm tìm gen đột biến ở đâu để sớm phát hiện nguy cơ ung thư? Xét nghiệm đột biến gen là kỹ thuật mang tính phức tạp cao, cơ sở xét nghiệm phải đảm bảo các điều kiện nghiêm ngặt. Hiện nay, Công ty Cổ phần giải pháp gene – Gene Solutions là một cơ sở đạt chuẩn quốc tế EMQN và ISO để thực hiện xét nghiệm này.

Để biết ung thư có di truyền không, Gene Solutions hiện đang ứng dụng công nghệ giải trình tự thế hệ mới (Next-generation sequencing, Illumina, Hoa Kỳ) cho dịch vụ có tên gọi , từ đó giúp nghiên cứu hệ gen, nhanh hơn, chính xác hơn, tiết kiệm hơn.

Đây là xét nghiệm có khả năng phân tích đột biến trên 17-132 gen xác định nguy cơ mắc các loại ung thư di truyền, chỉ thực hiện 1 lần, có giá trị suốt đời. Khi thực hiện xét nghiệm này, Gene Solutions sử dụng bộ kit nhỏ gọn theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, thu mẫu DNA từ niêm mạc má (hoàn toàn không xâm lấn) và có kết quả nhanh gọn chỉ sau 14 ngày.

Đặc biệt, Gene Solutions đang áp dụng chương trình hỗ trợ chi phí cho 3 người thân trực hệ khi làm xét nghiệm, trong trường hợp nếu kết quả xét nghiệm ban đầu dương tính. Khi có kết quả dương tính, người mang gen bệnh sẽ được tư vấn, theo dõi và kết nối điều trị với các bác sĩ chuyên khoa giàu kinh nghiệm, có chuyên môn cao.

CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP GENE

Trụ sở tại chúng tôi 186 – 188 Nguyễn Duy Dương, Phường 3, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Hotline: 0287 101 8688 (Phím 1) – 0911 649 383

Văn phòng tại Hà Nội: Phòng 503, tòa nhà Vạn Phúc, số 2 Núi Trúc, Phường Kim Mã, Quận Ba Đình, Hà Nội

Hotline: 0287 101 8688 (Phím 2) – 0936 455 025

Website: genesolutions.vn/tin-tuc