Top 10 # Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Bàng Quang Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Bàng Quang

I. PHẠM VI ÁP DỤNG PHÁC ĐỒ

Khoa Ngoại Thận – Tiết Niệu .

II. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư bàng quang là loại ung thư đứng hàng thứ 2 trong các loại ung thư hệ niệu, được chia làm các dạng sau dựa trên phân loại giải phẫu bệnh:

– Papilloma.

– Carcinoma tế bào chuyển tiếp chiếm 90%.

– Không phải carcinoma tế bào chuyển tiếp gồm adenocarcinoma (2%) và Squamouscell carcinoma (5%).

III. YẾU TỐ NGUY CƠ

– Hút thuốc lá.

– Yếu tố nguy cơ nghề nghiệp: Hóa chất, thuốc nhuộm, amin thơm, công nghiệp cao su, in ấn, dầu khí, thuộc da.

– Niêm mạc BQ bị kích thích lâu ngày do sỏi, thông tiểu, viêm.

IV. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định

– Tiểu máu: 85 – 90% trường hợp.

– Bàng quang kích thích: tiểu gắt, tiểu buốt.

– Khối u vung bụng (giai đoạn trễ).

– Thăm khám âm đạo (nữ) hoặc hậu môn trực tràng xác định giai đoạn muộn bướu di động hay xâm lấn vùng chậu.

1.2. Cận lâm sàng

– Tổng phân tích nước tiểu ìothông số, cặn lắng nước tiểu, cặn Addis: xác định tiểu máu vi thể hoặc đại thể, tìm hình ảnh tế bào học bất thường của hệ niệu.

– Siêu âm bụng tống quát: chẩn đoán sơ bộ – đánh giá sơ bộ ảnh hưởng đường tiểu trên do bướu gây ra – theo dõi bướu tái phát sau mổ.

– Soi bàng quang:

* Đánh giá vị trí bướu, số lượng bướu, sơ bộ mức độ xâm lấn bướu (độ lớn bướu – chân bướu).

* Sinh thiết bướu để chẩn đoán tế bào học.

– MSCT hệ niệu cản quang:

* Hình ảnh hệ niệu.

* Hình ảnh bướu.

* Mức độ xâm lấn bướu vùng chậu.

* Di căn hạch.

2. Phân giai đoạn ung thư

2.1 Khảo sát mô học: dựa trên độ biệt hóa tế bào phân độ theo 3 dạng

* Grad 1: Biệt hóa tốt.

* Grad 2 :Biệthóavừa.

* Grad 3 :Biệthóakém.

2.2. Khảo sát giai đoạn theo TNM

* CIS: Carcinoma in situ loạn sản grade cao, hình đĩa lõm nằm trên bề mặt.

* Ta: bướu nhú giới hạn biểu mô.

* T1: bướu xâm lấn đến màng đáy.

* T2 :bướu xâm lấn vào lớp cơ.

* T3: bướu xâm lấn vào lớp mỡ quanh bàng quang.

* T4: bướu xâm lấn cơ quan lân cận: vùng chậu, trực tràng, tiền liệt tuyến, âm đạo,…

* Nx: chưa xác định được di căn.

* N0:khôngdicănhạch.

* NI :di căn hạch 1 hạch đơn độc vùng chậu.

* N2: di căn nhiều hạch vùng chậu.

* Mx: chưa xác định được có di căn.

* Mo: không di căn.

* M1: có di căn xa.

3. Chẩn đoán phân biệt

* Viêm bàng quang xuất huyết.

* Sỏi thận.

* Ung thư hệ niệu khác: ung thư thận, ung thư niệu mạc, ung thư tiền liệt tuyến,…

* Nhiễm trùng niệu.

V. PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc điều trị

– Chẩn đoán xác định là ung thư bàng quang theo giải phẫu bệnh.

– Khám lâm sàng và cận lâm sàng xác định giai đoạn ung thư và có hướng xử trí đúng.

* Ung thư bàng quang nông: Ta, Tl,Cis.

* Ung thư bàng quang giai đoạn xâm lấn cơ và di căn.

2. Điều trị ung thư bàng quang nông

– Điều trị bảo tồn: cắt đốt nội soi bướu bàng quang.

– Hóa trị bổ sung tại chổ theo lịch: 6 đợt/tuần → 6 đợt/3 tuần → 3-6 đợt/3 tháng (thuốc sử dụng là Mytomycin c hoặc Adrim pha 100 ml nước muối sinh lý bơm bàng quang).

3. Điều trị ung thư bàng quang giai đoạn xâm lấn

– Cắt bàng quang toàn phần tận gốc hết hợp:

* Tạo hình bàng quang bằng ruột khi ung thư không xăm lấn vào niệu đạo.

* Đưa niệu quản ra da hoặc túi chứa (Bricker, Indiana,..) trường hợp ung thư xâm lấn cơ quan lân cận.

– Hóa trị toàn thân hỗ trợ.

VI. LƯU ĐỒ XỬ TRÍ

VII. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ

– Bướu bàng quang nông có tiên lượng tốt, tỉ lệ sống sót 5 năm 82-100%.

– Tỉ lệ sống giảm với giai đoạn bệnh như sau:

* Ta, TI, CIS – 82 -100%

* T2-63-83

* T3a-67-71%

* T3b-17-57%

* T4-0-22%

– Tiên lượng cho TCC di căn thì xấu, chỉ 5% bệnh nhân sống quá 2 năm sau khi được chẩn đoán.

VIII. TIÊN LƯỢNG

Ung thư bàng quang nông: Nguy cơ tiến triển dựa trên giai đoạn và grade của bướu, tuỳ thuộc vào grade của bướu nguyên thủy.

Nguy cơ tiến triển theo grade của bướu như sau:

-Grade 1-10-15%

-Grade II-14-37%

– Grade 111-33-64%

CIS đơn độc hoặc đi kèm với Ta hoặc T1 có tiên lượng xấu và tỷ lệ tái phát 63 -92%.

CIS lan tỏa là một dấu hiệu xấu, 78% tiến triển xâm lấn cơ trong 1 nghiên cứu. Các yếu tố nguy cơ khác của sự tái phát và tiến triển bao gồm kích thước bướu, nhiều vị trí, số lượng bướu, độ mô học cao, giai đoạn tiến triển, sự hiện diện của CIS và khoảng thời gian tái phát.

Bệnh nhân có bướu tái phát trong vòng 2 năm, và đặc biệt là tái phát trong vòng 3 tháng, có bướu xâm lấn và gia tăng nguy cơ tiến triển của bệnh.

IX. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. EuropeanAssociationofurology

2. Tài liệu hướng dẫn điều trị niệu khoa, hội thận – tiết niệu TP.HỒ Chí Minh.



Chẩn Đoán Và Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Bàng Quang

Ung thư bàng quang là một loại ung thư phổ biến thứ 6 tại Hoa Kỳ với ước tính lên đến khoảng 81.000 trường hợp được chẩn đoán mỗi năm. Bệnh ung thư bàng quang có khả năng di căn và làm tăng nguy cơ gây ảnh hưởng đến tính mạng. Vậy làm thế nào để chẩn đoán ung thư bàng quang? Phác đồ điều trị ung thư bàng quang như thế nào? Tìm hiểu phần thông tin chi tiết bên dưới.

I. Chẩn đoán ung thư bàng quang

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ khẳng định, ung thư bàng quang là bệnh lý khó chẩn đoán bằng mắt thường bởi các dấu hiệu của nó thường không rõ ràng. Vì vậy, để chẩn đoán chính xác tình trạng này, bệnh nhân cần nhờ đến bác sĩ chuyên môn và các thiết bị y tế hiện đại.

Thăm dò bệnh sử và khai thác triệu chứng ban đầu phục vụ cho kết quả chẩn đoán về sau. Vì thế, trước khi khuyến khích bệnh nhân thực hiện các xét nghiệm, bác sĩ sẽ nêu ra một số triệu chứng cơ bản hoặc yêu cầu bệnh nhân chỉ ra một số triệu chứng thường gặp.

1. Nước tiểu có máu

Tiểu ra máu là cơ sở đầu tiên có thể khẳng định có phải là ung thư bàng quang và hầu hết các đối tượng ung thư bàng quang đều có biểu hiện này. Nước tiểu có thể có nhiều màu khác nhau như cam, đỏ, hồng thậm chí là đỏ sẫm. Nhưng cũng có đôi khi, màu của nước tiểu hoàn toàn bình thường nhưng trong đó có lẫn tia máu hoặc lượng máu nhỏ được tìm thấy khi xét nghiệm nước tiểu. Phương pháp xét nghiệm này được yêu cầu thực hiện để kiểm tra triệu chứng khác hoặc cũng chỉ kiểm tra y tế .

Máu trong nước tiểu do các bệnh lý khác có thể xuất hiện và biến mất trong vòng vài tuần hoặc vài tháng. Nhưng đối với bệnh nhân ung thư bàng quang thì triệu chứng này xuất hiện thường xuyên. Ở giai đoạn đầu của bệnh ung thư bàng quang (tổn thương hẹp, nằm trong phạm vi bàng quang) có xuất hiện chảy máu nhưng ít hoặc không đau và kèm theo một số triệu chứng khác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào tiểu ra máu cũng là nguy cơ gây ung thư bàng quang. Mà nó còn là biểu hiện bởi một số những nguy cơ khác như nhiễm trùng, xuất hiện khối u lành tính (không phải ung thư), sỏi trong bàng quang, thận hoặc mắc các bệnh lành tính. Điều quan trọng nhất là bệnh nhân nên chủ động khám và điều trị khi gặp phải các dấu hiệu bất thường.

2. Thay đổi thói quen của bàng quang

Bên cạnh triệu chứng tiểu ra máu, ung thư bàng quang còn gây ra một số dấu hiệu bất thường trong việc đi tiểu như là:

Tần suất mắc tiểu và đi tiểu nhiều hơn so với bình thường.

Xuất hiện triệu chứng đau, rát khi đi tiểu.

Luôn có cảm giác mắc tiểu mặc dù bạn vừa mới đi tiểu xong.

Khó tiểu hoặc có dòng nước tiểu yếu.

Mất ngủ vì phải thức dậy để đi tiểu nhiều lần trong đêm.

Những triệu chứng này tương đương với nhiễm trùng đường tiết niệu, bàng quang hoạt động quá mức, sỏi bàng quang, tuyến tiền liệt mở rộng (ở nam giới). Tất nhiên, chúng ta cần nhờ đến sự tư vấn chuyên môn của bác sĩ để tìm ra nguyên nhân và phương pháp điều trị phù hợp.

3. Phạm vi phát triển của ung thư bàng quang

Bí tiểu, không thể đi tiểu

Đau lưng dưới, đau một bên

Ăn không ngon miệng

Giảm cân đột ngột

Người mệt mỏi hoặc yếu đuối

Sưng phù bàn chân

Đau xương

Ung thư bàng quang thường phát triển nhanh và có khả năng lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và đôi khi để lại các triệu chứng khác, chẳng hạn như là:

Kiểm tra cục bộ, bằng cách bác sĩ dùng 2 ngón tay đeo găng để đưa vào âm đạo hoặc trực tràng của bệnh nhân để xem xét sự phát triển của khối ung thư.

Xét nghiệm và phân tích nước tiểu.

Nội soi bàng quang, bác sĩ sẽ dùng một đường ống nhỏ có gắn camera và đèn để đưa vào niệu đạo, quan sát bên trong bàng quang.

Mô sinh thiết sử dụng một mẫu mô nhỏ lấy được từ việc nội soi bàng quang để xét nghiệm và kiểm tra tế bào ung thư.

Chụp CT để quan sát bàng quang

Nhuộm pyelogram tĩnh mạch (IVP)

X-quang bàng quang

Bác sĩ chuyên khoa có thể chẩn đoán ung thư bàng quang dựa vào một hoặc nhiều phương pháp sau:

Qua đó, bác sĩ có thể đánh giá chung tình trạng ung thư bàng quang với mức độ từ 0 đến 4 và xác định tình trạng của bệnh nhân. Các giai đoạn của ung thư bàng quang cụ thể như sau:

Ung thư bàng quang giai đoạn 1: Giai đoạn này, tế bào ung thư đã bắt đầu lan qua niêm mạc nhưng chưa làm ảnh hưởng đến lớp cơ trong bàng quang.

Ung thư bàng quang giai đoạn 2: Bắt đầu xuất hiện triệu chứng lây lan đến lớp cơ trong.

Ung thư bàng quang giai đoạn 3: Lan vào các mô bao quanh bàng quang.

Ung thư bàng quang giai đoạn 4: Lan qua bàng quang và tiếp cận một số khu vực lân cận.

Ung thư bàng quang giai đoạn 0: Tức tế bào ung thư vừa mới khởi phát và chưa có khả năng lây lan qua niêm mạc bàng quang.

II. Phác đồ điều trị ung thư bàng quang

Viện nghiên cứu & Trung tâm Ung thư H. Lee Moffitt đưa ra số liệu thống kê từ hơn 800 bệnh nhân ung thư bàng quang tiến triển. Các kết quả thông báo được công bố trực tuyến bởi JAMA Oncology cho thấy việc phẫu thuật điều trị cũng mang lại hiệu quả rất thấp.

Tuy nhiên, bác sĩ trực tiếp thăm khám sẽ quyết định giúp bạn phương pháp điều trị phù hợp và hợp lý tùy thuộc vào giai đoạn ung thư bàng quang và tình trạng sức khỏe tổng thể. Phác đồ điều trị ung thư bàng quang được xây dựng như sau:

– Điều trị cho giai đoạn 0 và giai đoạn 1:

Điều trị ung thư bàng quang giai đoạn 0 và 1 thường đơn giản hơn. Bác sĩ có thể kết hợp phẫu thuật loại bỏ khối u bàng quang, hóa trị hoặc liệu pháp tự miễn dịch (bao gồm các loại thuốc khiến hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào ung thư).

– Điều trị cho giai đoạn 2 và giai đoạn 3:

Phẫu thuật cắt bỏ một phần bàng quang tổn thương ngoài hóa trị.

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ bàng quang để loại bỏ triệt để tế bào ung thư, sau đó xây dựng hệ thống nhân tạo để đưa nước tiểu thoát ra khỏi cơ thể.

Hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp với liệu pháp miễn dịch để có thể làm giảm phạm vi ung thư trước khi phẫu thuật. Tất nhiên, phẫu thuật xâm lấn không phải là một lựa chọn tối ưu vì nó không có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư. Ung thư bàng quang có nguy cơ tái phát khi không được điều trị triệt để.

Điều trị ung thư bàng quang giai đoạn 2 và 3 bao gồm:

– Điều trị cho giai đoạn 4:

Hóa trị mà không cần phẫu thuật xâm lấn để làm giảm triệu chứng và duy trì cuộc sống.

Phẫu thuật cắt bỏ bàng quang triệt để và loại bỏ hạch bạch huyết để tạo ra hệ thống thoát nước tiểu mới nhằm đưa nước tiểu ra ngoài cơ thể.

Hóa trị, xạ trị và liệu pháp miễn dịch sau phẫu thuật có khả năng loại bỏ dứt điểm tế bào ung thư và duy trì cuộc sống của bệnh nhân.

Kết hợp việc điều trị thuốc thử lâm sàng.

So với các giai đoạn trên thì ung thư bàng quang giai đoạn 4 là tình trạng vô cùng nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc điều trị có gì khác biệt?

” Các nhà nghiên cứu của Moffitt do Scott Gilbert, MD, MS, thành viên của Chương trình Hành vi & Ung thư đã phân tích hồ sơ của 1.113 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư bàng quang xâm lấn tiến triển từ năm 2007 – 2017, trong đó có 332 người được hóa trị liệu trước khi phẫu thuật. Hầu hết (204) nhận được kết hợp gemcitabine và cisplatin (GC), NAC tiêu chuẩn cho ung thư bàng quang. Tổng cộng có 46 bệnh nhân đã nhận được methotrexate, vinblastine, doxorubicin và cisplatin được cung cấp theo lịch tăng tốc dày đặc (ddMVAC). Phần còn lại nhận được các đại lý và / hoặc kết hợp khác. “

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Nguyên Bào Nuôi

Ung thư nguyên bào nuôi là gì ?

Là loại khối u ác tính do các nguyên bào nuôi của gai rau gây nên. Nó có thể xảy ra sau sẩy thai thường, đẻ thường, nhưng hay gặp nhất là sau sẩy trứng. Nguyên nhân hiện nay chưa rõ, nhưng người ta thấy nơi nào có tỷ lệ chửa trứng cao thì tỷ lệ nguyên bào nuôi cung cao, tỷ lệ biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi từ chửa trứng chiếm 15% – 25%.

3. Chẩn đoán phân biệt Cần chẩn đoán phân biệt ung thư nguyên bào nuôi với các trường hợp có thai lại sau khi nạo trứng. Khi có thai lại, lượng HCG tăng nhanh, bệnh nhân có triệu chứng nghén và không có triệu chứng rong huyết, cần chẩn đoán phân biệt bằng siêu âm. Khi nghi ngờ thì nên nạo để xác định.4. Biến chứng – Xuất huyết nội: do tổ chức ung thư ăn thủng tử cung (invasive mole) hay nhân ung thư nguyên bào nuôi ở dưới phúc mạc bị vỡ vào ổ bụng. – Di căn: thường xuất hiện ở âm đạo hay ở phổi, nhất là sau nạo, chụp buồng tử cung hay cắt tử cung, do đó khi chẩn đoán xác định ung thư nguyên bào nuôi nên tìm các ổ di căn ở các vị trí thường gặp đó. – Xuất huyết ngoại: do vỡ nhân ung thư nguyên bào nuôi ở tử cung hay âm đạo làm cho máu chảy nhiều, có thể gây sốc hay trụy tim mạch. – Nhiễm khuẩn: do nạo đi nạo lại nhiều lần buồng tử cung.

II. PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ NGUYÊN BÀO NUÔI

– Để có thể phát hiện bệnh sớm, tất cả những bệnh nhân sau nạo trứng phải được theo dõi định kỳ trong hai năm đầu, chủ yếu là theo dõi lượng HCG trong nước tiểu. Nếu xác định là ung thư nguyên bào nuôi phải điều trị bằng hoá chất chống ung thư cho bệnh nhân còn trẻ, không có di căn và phát hiện sớm (trong ba tháng đầu sau khi nạo). – Nếu có di căn hay phát hiện muộn, bệnh nhân đã có con, nên cắt tử cung hoàn toàn và hai phần phụ, sau đó điều trị tiếp tục bằng hoá liệu pháp chống ung thư cho đến khi HCG âm tính và hết di căn, Việc điều trị đơn thuần 1 hoá chất, hay phối hợp nhiều hoá chất phụ thuộc vào bệnh nhân có nguy cơ ít, trung bình hay cao.

aaa

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Tuyến Giáp

Nhận định chung

Ung thư tuyến giáp là loại bệnh lý ung thư tiến triển thầm lặng và có tuổi thọ kéo dài từ 15 đến 20 năm. Theo Hiệp hội Quốc tế chống ung thư, ung thư giáp chiếm 0,5 – 1% trong tổng số người bệnh ung thư được điều trị, tỉ lệ 1% khi giải phẫu tử thi đồng loạt. Tỉ lệ ung thư giáp gia tăng tại các vùng bướu cổ địa phương. Theo Hiệp hội ung thư Mỹ (American Cancer Society, năm 2014) có khoảng 62.980 ca ung thư giáp mới mắc (47.790 nữ và 15.190 nam); 1.890 ca tử vong (1.060 nữ và 830 nam). Ung thư giáp gặp ở người trẻ hơn là người lớn tuổi, trong đó 2/3 trường hợp dưới 55 tuổi và 25% gặp ở trẻ em.

Tại Việt Nam, theo Nguyễn Bá Đức, tỉ lệ ung thư giáp chiếm 2% tổng số trường hợp ung thư tại Hà Nội và tần suất khoảng 3 trường hợp/ triệu dân/ năm. Tại Bệnh viện K (1976 – 1985), có 214 trường hợp ung thư giáp trong đó phụ nữ chiếm 72%. Tại Trung tâm Ung bướu TP. HCM (1990 – 1992) ung thư giáp chiếm 1,4% trong số các trường hợp ung thư. Tỉ lệ ung thư giáp tương đối ít phổ biến, được giải thích một phần do kích thước khối u nhỏ và tiến triển bệnh tương đối chậm, thường phát hiện ở giai đoạn muộn và di căn.

Phác đồ điều trị ung thư tuyến giáp

Tùy dạng ung thư.

Ngoại khoa

Là phương pháp được chọn đầu tiên, tùy tổn thương khu trú hay lan rộng người ta có thể:

Cắt bỏ hoàn toàn một thùy cùng với phần eo.

Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp.

Cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, bóc các bạch huyết ở một bên hay cả hai bên cổ.

Xạ trị liệu

Nếu nhu mô giáp còn khả năng cố định được iod phóng xạ thì 131I có thể phá hủy các tổ chức ung thư đã biệt hóa. Iod phóng xạ cũng có thể dùng sau khi phẫu thuật để diệt trừ các di tích ung thư còn sót. Phải ngừng dùng hormon giáp để TSH hoạt hóa lại nhu mô giáp thì mới áp dụng iod phóng xạ được.

Hóa trị liệu

Ít tác dụng.

Điều trị khối u Liệu pháp hormon thay thế

Dù phẫu thuật cắt toàn bộ hay một phần tuyến giáp, có hay không phối hợp iod phóng xạ sau phẫu thuật, sử dụng L.thyroxin cũng cần được chỉ định.

Liệu pháp thyroxin nhằm hai mục đích:

Bù sự thiếu hụt hormon giáp sau khi cắt bỏ tuyến giáp.

Ức chế sự tiết TSH để đề phòng các tế bào ung thư còn sót khỏi bị kích thích. Liều L.thyroxin trung bình 100 đến 200 µg/ngày nhằm đạt được nồng độ TSH ở giới hạn dưới của mức bình thường (0,4µU/mL).

Theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng

Kiểm tra vùng tuyến giáp, các hạch bạch huyết ở cổ và trên xương đòn, cột sống, gan.

Định lượng thyroglobulin định kỳ, nếu cao phải nghĩ tới ung thư tái phát hoặc đã có di căn.

Khám tai mũi họng sau khi đã phẫu thuật để loại trừ liệt dây quặt ngược.

Chụp X quang lồng ngực mỗi năm một lần.

Chụp X quang cột sống khi nghi ngờ (có đau dai dẳng). Nếu có triệu chứng lâm sàng mà X quang không có bất thường, cần chụp xạ hình với Pyrophosphat Technetium để tìm các di căn xương.

Ung thư giáp tái phát

Thường ở tuyến giáp hoặc hạch bạch huyết.

Nếu tái phát tại chỗ sau khi phẫu thuật đơn giản cắt bỏ khối u thì xử trí như đối với một nhân giáp đơn độc.

Nếu tái phát ở thùy đối diện sau khi cắt bỏ một thùy, cần cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp còn lại, kèm bóc hết các hạch bạch huyết, hoặc chỉ cắt tuyến giáp không thôi.

Nếu tái phát định vị các hạch ở một bên hoặc hai bên cổ sau khi chỉ cắt tuyến giáp: lấy hạch làm xét nghiệm giải phẫu bệnh tức thì. Kết quả xét nghiệm nếu thấy có di căn thì cần bóc bỏ một đám hoặc toàn bộ các hạch đó đi.

Tái phát ở hạch bạch huyết khác sau khi đã bóc bỏ toàn bộ hạch vùng cổ, cũng cần phẫu thuật bóc hạch, sau đó dùng iod phóng xạ với liều lượng 100 miliCurie.

Ung thư giáp di căn

Ung thư giáp được phát hiện nhờ một di căn hạch: phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp kèm bóc hạch. Sau đó dùng Iod phóng xạ.

Những di căn khác, bất kỳ ở đâu và bất kể nhiều hay ít, nếu cố định được Iod phóng xạ thì cũng sẽ được điều trị bằng chất đồng vị phóng xạ này.

Những di căn không cố định iod phóng xạ sẽ được xạ trị bằng phương pháp dùng Cobalt thông thường.

Ung thư tủy giáp trạng được theo dõi bằng nồng độ calcitonin và kháng nguyên carcinom bào thai.