Top #10 ❤️ Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ

Kiến Thức Cơ Bản Và Cách Chữa Ung Thư Biểu Mô

Các Khối U Dạ Dày: U Lành Tính, Ung Thư Biểu Mô Tuyến Và U Lympho

Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tuyển Dạ Dày

Ung Thư Biểu Mô : Triệu Chứng, Chuẩn Đoán Và Điều Trị

Phát Hiện Và Phòng Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Da Ở Người

UTBMNO là tổn thương biểu mô với các tính chất tế bào học

giống như ung thư biểu mô xâm nhập nhưng còn nằm giới hạn

Ung thư biểu mô thể nội ống là tổn thương thường không được

phát hiện trên lâm sàng mà thường được phát hiện trên chụp

vú với những biểu hiện bất thường hoặc hoặc trên sinh thiết

tình cờ những tổn thương không phải u. Ung thư biểu mô nội

ếng thể trứng cá thường có ổ lắng đọng calci nhỏ với hình dạng

không đều trên phim chụp vú, giống như những cái khuôn do

lông ống bị tổn thương. Tỷ lệ ung thư vú tại chỗ tăng trong

những năm gần đây là do chương trình chụp vú mở rộng, đặc biệt

khám sàng lọc phát hiện sớm. Một số trường hợp biểu hiện chảy

dịch đầu vú hoặc thăm khám thấy một vùng nghi ngờ. Những

trường hợp này thường do tổn thương nhiều ống và có biểu hiện xơ

hóa chu vi các ống.

Đại thể: Hầu hết ung thư biểu mô nội ống khó phân biệt trên đã

thể trừ các trường hợp có hoại tử lòng ống. Trên diện cắt có thể

thấy những khối hình trụ, mỏng, mềm giống như trứng cá, có thể

thấy hiện tượng xơ cứng vùng tổn thương.

Vi thể: UTBMNO được chia làm nhiều loại

Ung thư biểu mô nội ông thể trứng cá:

chiếm tỷ lệ 45% đến 67% trong các trường hợp UTBMNO. Đặc

điểm loại này là có hoại tử lòng ống, bất thường nhân, liên kết

giữa các tế bào lỏng lẻo. Hình ảnh vi thể cũng rất đa dạng giữa các

trường hợp. Hiện tượng xơ hóa và xâm nhập limphô-tương bào

quanh ống rất hay gặp.

Chẩn đoán ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá cũng có thể

được xác định nếu chỉ có một ống với những hình ảnh kinh điển

này. Lớp tế bào cơ biểu mô có thể nhìn thấy rõ quanh các ống

nhưng một số trường hợp không nhìn thấy là do nó bị mỏng

hoặc bị mất hắn do hoại tử gây nên. Đáng lưu ý rằng, sự phá vỡ

màng đáy nếu có thì cũng không thể phát hiện được trên các tiêu

bản HE nên đôi khi rất khó phân biệt với ung thư vi xâm nhập

Mô đệm bao quanh tăng sinh xơ. Những mảnh hoại tử trong lòng

ống gồm cả hai loại hoại tử là hoại tử do chết tế bào theo chương

trình và hoại tử u. Hoại tử do chết tế bào theo chương trình có đặc

điểm là tạo thành các mảnh nhân, nhân bị co lại, bào tương bi

đông vón và không có xâm nhập viêm. Hoại tử u biểu hiện có các

đám tế bào với nhân bị tan trực tiếp, bào tương sưng phồng kèm

xâm nhập viêm. Vi xâm nhập hay gặp nhất trong ung thư nội ống

thể trứng cá hơn các trường hợp khác.

Ung thư biểu mô nội ống thể mặt sàng

Là sự tăng sinh của các tế bào biểu mô ác tính giống như hình

mặt sàng. Những lòng ống thứ phát thường có hình tròn và đưa

bao quanh bởi các tế bào trụ thấp, nhân nằm ở cực đáy tế bào. Cầu

nôi các tế bào biểu mô thẳng. Nhân hình tròn hoặc hình trứng

phân bố đều, hiếm khi thấy chồng lên nhau. Hình ảnh nhân chia

hiếm. Hiện tượng lắng đọng calci có thể thấy trong các lòng ống

thứ phát. Những phần tế bào u phát triển có thể thấy hình ảnh

giống hình bánh xe với những ổ tế bào biểu mô trung tâm liên kết

với thành các ống bằng rất nhiều cầu nôi biểu mô. Đôi khi, phần

trung tâm của lòng ống bị rỗng. hình thành các vòm đơn hoặc

nhiều tầng. Bên cạnh đó cũng có thể thấy ở một số ống, các tế bào

phát triển đặc lại với nhân sắp xếp dạng hoa hồng, là những dấu

hiệu hình thành các ống thứ phát.

Về mặt tế bào học, các tế bào thường nhỏ, đồng đều, nhân tròn,

bào tương hẹp. Một số trường hợp thấy nhân đa dạng, bào tương

có các hạt nhỏ ưa toan.

Ung thư biểu mô nội ống thể vi nhú, thể tăngtiết dạng nang

Các tế bào u có tính chất giống như thể mặt sàng nhưng có đặc

điểm là phát triển thành các mào biểu mô lồi vào lòng các ống.

Các mào biểu mô thương phân bố đều quanh thành các ống. Giữa

các mào biểu mô thường có hai lớp tế bào lót lòng ống. Lớp tế bào

biểu mô có thể tăng sinh vào trong các mào biểu mô nhưng cũng

có thể bình thường. Lớp tế bào cơ biểu mô nhìn chung không bị

thay đổi. Đôi khi các tế bào u biểu hiện không điển hình, ví dụ

như hình”mũ đinh”, nên rất khó khăn trong chẩn đoán.

Những dạng chuyển tiếp của UTBMNO thể vi nhú, có khi những

phần nhu chuyển thành dạng mặt sàng khi hình thành các cầu

nối hoặc hình vòm. Hình ảnh tế bào học đôi khi cũng biểu hiện đa

dạng. Hoại tử lòng ống ít thấy. Có thể gặp các ống bị giãn ra, chứa

Ung thư biểu mô nội ống thể vi nhú thường hay gặp nhiều ổ hơn

Ung thư biểu mô nội ống thể bán hủy

Các tế bào biểu mô có bào tương bắt màu toan, rộng và có các hạt

nhỏ, nhâ~tương đối đa dạng, có hoại tử lòng ống. Bào tương các tế

bào đôi khi bị hốc hóa. Đôi khi các tế bào phát triển đặc trong lòng

ống với ranh giới giữa các tế bào khá rõ. Hạt nhân thường rõ. Khi

có hoại tử lòng ống thì thậm chí chỉ có một ống bị tổn thương cũng

đủ chẩn đoán là ung thư mà không cần quan tâm đến kích thước

của ống. Trong những tổn thương biến đổi xơ nang của vú, tỷ lệ

gặp dị sản kiểu tế bào bán huỷ và quá sản cao nên cần thận trọng

trong chẩn đoán loại ung thư này.

Ung thư biểu mô nội ống thể đặc

Các tế bào phát triển lấp đầy lòng ống, không có hoại tử lòng

ống. Về mặt tế bào học thường biểu hiện mức độ trung gian giữa

UTBMTTTC và UTBMNO thể trứng cá, nhân tương đối đều, ít

thấy tính chất đa hình thái của nhân. Hoạt động nhân chia ở mức

trung bình. Trong một số trường hợp, hình ảnh vi thể giống như

quá sản nội ống không điển hình.

Ung thư biểu mô nội ống thể nhú

Hầu hết ung thư biểu mô thể nhú của vú là dạng chưa xâm nhập

mặc dù kích thước u khá lớn. Ung thư thể nhú chiếm khoảng 2%

trong các ung thư biểu mô vú. Bệnh nhân phần lớn gặp ở tuổi trên

50. Biểu hiện lâm sàng thường hay có chảy dịch núm vú và tạo

thành các mảng có thể sờ thấy khi thăm khám. Vị trí hay gặp ở

Hình ảnh vi thể biểu hiện tăng sinh các tế bào biểu mô hình

thành các cấu trúc nhú có trục liên kết rõ. Các nhú lồi vào trong

lòng các nang giãn rộng và thường không thấy các tế bào cơ biểu

mô bao quanh. Sự vắng mặt của các tế bào cơ biểu mô là hình ảnh

đáng tin cậy để chẩn đoán ung thư biểu mô thể nhút phân biệt với

một u nhú lành. Trong một số trường hợp nghi ngờ, nhuộm

HMMD với actin, yếu tố VIII, S-100 protein, CEA sẽ giúp ích

trong việc xác định sự có mặt của cơ biểu mô. Tuy nhiên, dạng

biến thể của ung thư biểu mô thể nhú tế bào hình thoi lát tầng,

người ta cũng thấy có mặt nhiều cơ biểu mô.

Biến thể này được Azzopardi mô tả và được chia làm hai phân

úp nhỏ. Một loại giống ung thư biểu mô trứng cá nhưng không có

hoại tử lòng ống. Loại này gồm các ống được lót bởi vài hàng tế

bào cao không điển hình. Lòng ống rỗng hoặc chứa chất tiết dạng

hạt. Loại thứ hai không có hoại tử nhưng các tế bào lót lòng ống

được lót bởi một lớp tế bào biểu mô đơn hoặc vài lớp tế bào với mức

độ không điển hình nhẹ. Người ta cũng không xác định được rằng

nếu những tế bào này là sự chuyển dạng tại chỗ hay là sự thay thế

các tế bào nguyên thủy bằng các tế bào tăng sinh bên cạnh.

Ung thư biểu mô nội ống tế bào sáng có đặc điểm là tăng sinh

các tế bào với bào tương rất sáng và rất khó phân biệt ranh giới

giữa các tế bào. Những tế bào này có thể phát triển từ bất kỳ biến

thể nào của dạng mặt sàng. Hoại tử trung tâm ít gặp. Một phần

đặc cũng có thể thấy, đặc biệt ở giai đoạn sớm trong sự phát triển

của nó. Những phần này cũng có thể thấy phối hợp với thể mặt

sàng thông thường. Sở dĩ bào tương các tế bào trở nên sáng vì có

Đây là một dạng rất hiếm của UTBMNO có đặc điểm là tăng

sinh các tế bào nhẫn trong một vùng phát triển nhú hoặc đặc. Các

tế bào với nhân bị đẩy lệch về một bên, bào tương rộng chứa chất

nhầy Nhuộm PAS hoặc mucicarmin dương tính. Đây là loại ung

thư có độ ác tính cao, rất nhanh tiến triển thành dạng xâm nhập.

Phân độ mô học của UTBMNO dựa vào đánh giá tế bào học và

hoại tử lòng ống. Dựa vào hai yếu tố này, UTBMNO được chia làm

3 độ. Nếu tổn thương không có không điển hình của nhân và hoại

tử lòng ống được cho là độ 1 tương ứng là ung thư biểu mô thể vi

nhú và thể mặt sàng. Khi có hình ảnh của nhân không điển hình

và/hoặc có hoại tử lòng ống, tổn thương được xếp vào độ 3. Khi

mức độ không điển hình của nhân nhẹ đến trung bình hoặc có

hoại tử lòng ống hoặc chỉ có ít cả hai hình ảnh trên thì được xếp

Dựa vào cách chia độ trên, người ta cũng hướng phân độ mô học

tương ứng với các úp mô học. Ví dụ, ung thư biểu mô nội ống tế

bào nhẫn được xếp độ 3 dựa vào mức độ tiến triển của loại ưng thư

này. Ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá thường có độ mô học

cao còn thể mặt sàng hoặc thể vi nhú thường có độ mô học thấp.

Bảng 3.2: Mức đệ không điển hình của nhân đưlọ”c phân theo bảng sau

Mức độ hoại tử u được chia làm 3 mức

(- ): Không có hoặc dưới 4 mảnh nhân

+(+): ít nhất có 5 mảnh nhân

Lòng ống giãn rộng, trong có chứa nhiều mảnh nhân

Người ta có thể phân độ mô học tương ứng các úp mô học

Độ 1: Ung thư biểu mô thể vi nhú, thể mặt sàng bao gồm các tế .

bào đồng đều, không có hoại tử lòng ống hoặc rất ít.

Độ 2: Các tế bào tăng sinh nhưng không có không điển hình của

nhân, có thể hình thành thể đặc, thể nhú, thể mặt sàng với hoại

tử trung tâm nhưng không biểu hiện đặc tính bất thục sản về mặt

tế bào học của ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá.

Nhóm thứ hai bao gồm thể đặc, thể mặt sàng, thể vi nhú với biểu

hiện không điển hình về mặt tế bào học nhưng không có hoại tử

Nhóm thứ 3 bao gồm những biến thể hiếm gặp gồm tế bào sáng,

tế bào hình thoi, có hoặc không có hoại tử.

Độ 3: Ung thư biểu mô nội ống biểu hiện cả mức độ không điển .

hình về mặt tế bào và hoại tử và bao gồm cả ung thư biểu mô tế .

bào nhẫn đơn thuần. Tất cả các ung thư biểu mô thể trứng cá và

ung thư tế bào bán huỷ đều được xếp vào độ 3.

Các nghiên cứu đặc biệt, thụ thểhormon và siêu cấu trúc.

Có rất nhiều nghiên cứu HMMD trong UTBMNO nhưng không

một dấu ấn sinh học nào giúp ích trong phân biệt UTBMNO với

quá sản nội ống hoặc quá sản nội ống không điển hình.

Các nghiên cứu về ER, PR và bcl-2 cho thấy, các dấu ấn sinh học

này đều bộc lộ trong UTBMNO trừ tổn thương này biệt hóa dạng

tế bào bán huỷ. Bộc lộ bcl-2 nhìn chung ngang bằng với ER. Mối

nhiều tác giả nghiên cứu. Tỷ lệ ER dương tính chiếm khoảng 60-

98% trong UTBMNO độ ác tính thấp và 14-74% trong UTBMNO

độ ác tính cao. Bộc lộ PR ngang bằng với ER.

Bộc lộ p53 nhìn chung cao ở những u độ ác tính cao và thấp ở

những u có độ ác tính thấp. Bộc lộ p53 thay đổi từ 0-21% trong

số những UTBMNO độ ác tính thấp và 3-67% trong số

UTBMNO độ ác tính cao. Một số nghiên cứu thấy p53 không bộc

nhiên còn phụ thuộc vào cách giải thích kết quả cũng như loại

kháng thể sử dụng.

Một trong những dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhiều trong

UTBMNO là c-erbB-2 (Her-2/neu). Bộc lộ nên này đặc biệt cao đối

với những u có kích thước nhân lớn, tế bào kém biệt hóa, tỷ lệ

nhân chia cao. Gen này không bộc lộ trong những u có tế bào nhỏ

và biệt hóa cao. Điều này giải thích đến này bộc.lộ ở những u có sự

phát triển nhanh. Gen này bộc lộ khoảng 0-50% ở những u độ ác

tính thấp và 50-100% ở những u độ ác tính cao.

Đối với những u có kích thước nhân tăng, đa hình thái tế bào và

hoại tử lòng ống thì bộc lộ p53 và c”erbB-2 tăng, ngược lại bộc lộ

ER, PR và bcl-2 giảm. Những yếu tố sinh học khác, những biến đổi

sự biệt hóa của UTBMNO cũng được đánh giá và so sánh với tỷ lệ

tăng sinh của chúng. Bộc lộ Ki-67 chiếm 23-42% UTBMNO độ ác

tính thấp và 37-40% UTBMNO có độ ác tính cao. Tỷ lệ tăng sinh

của UTBMNO thể trứng cá cao hơn nhiều so với những loại khác.

Ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá bao gồm nhiều tế bào bất

thục sản biểu hiện sự tăng sinh tế bào cao và được xác định bằng

chỉ số đánh dấu thymidin (TLI) hơn những loại khác. Dựa vào

đánh giá TLI người ta có thể tiên lượng được trên mỗi bệnh nhân.

Thụ thể yếu tố phát triển thượng bì có vai trò trong sự tăng

sinh tế bào bình thường cũng như tế bào u và nó phản ứng với

thụ thể xuyên màng. Yếu tố phát triển thượng bì bộc lộ trong tế

bào biểu mô bình thường nhưng không bộc lộ trong một số ung

Điều Trị Thành Công Bệnh Nhân Ung Thư Phổi Loại Biểu Mô Tuyến Di Căn Hạch Tại Bệnh Viện Bạch Mai

Phát Hiện Đột Biến Gen Egrf Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Của Phổi

Phân Loại Mô Học Ung Thư Biểu Mô Tuyên Vú

Ung Thư Biểu Mô Là Gì? Các Loại Ung Thư Biểu Mô

Ung Thư Biểu Mô Tuyến Dạ Dày Có Chữa Được Không?

Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ

Định Nghĩa Ung Thư Là Gì?

Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Bệnh Nhân Ung Thư Giai Đoạn Cuối

Nhận Diện Sớm Các Dấu Hiệu Của Hội Chứng Cận Ung

Hội Chứng Cận Ung Thư

Dấu Ấn Ung Thư Là Gì?người Bệnh Cần Đi Khám Để Bác Sĩ

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là một tình trạng phổ biến, trong đó các tế bào hình thành bất thường trong các tiểu thùy hoặc tuyến sữa của vú. Hiện nay, ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không phải là ung thư. Nhưng thường được chẩn đoán là ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ, bởi vì căn bệnh này có nguy cơ cao phát triển ung thư vú.

Thông thường ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không hiển thị trên nhũ ảnh. Tình trạng này thường được phát hiện khi làm sinh thiết vú cho một lý do khác, chẳng hạn như một khối u vú đáng ngờ hoặc chụp quang tuyến vú khi thấy dấu hiệu bất thường.

Những phụ nữ có ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ có nguy cơ phát triển ung thư vú xâm lấn ở vú bên kia. Vì thế nếu trường hợp nào được chẩn đoán ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ, bác sĩ có thể khuyên người bệnh nên tăng tầm soát ung thư vú và có thể yêu cầu họ xem xét các phương pháp điều trị để giảm nguy cơ phát triển ung thư vú xâm lấn.

Tình trạng này thường xuất hiện trước khi mãn kinh, thường trong độ tuổi từ 40 – 50. Trong đó dưới 10% phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ.

Nguyên nhân gây ra ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là gì?

Hiện tại, nguyên nhân gây ra căn bệnh này vẫn chưa được xác định rõ. Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ bắt đầu khi các tế bào trong một tuyến sản xuất sữa của một vú phát triển đột biến gen, tạo ra các tế bào bất thường. Và các tế bào bất thường này ở trong tiểu thùy và không mở rộng hay xâm lấn các mô vú xung quanh.

Hiện nay, nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ được chẩn đoán với ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là khoảng 20%. Ví dụ: Cứ 100 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ, 20 người sẽ được chẩn đoán mắc ung thư vú và 80 không bị ung thư vú. Nhìn chung, nguy cơ phát triển ung thư vú cho phụ nữ là 12%. Ví dụ: Cứ 100 phụ nữ trong dân số nói chung, 12 người sẽ được chẩn đoán mắc ung thư vú trong cuộc đời của họ.

Có lịch sử gia đình mắc bệnh ung thư vú: Nếu một trong những người thân trong gia đình được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, nguy cơ ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ của những thành viên còn lại sẽ tăng lên.

Đã từng thực hiện liệu pháp hormone thay thế trong thời kỳ mãn kinh: Đối với những phụ nữ đã sử dụng liệu pháp hormone thay thế trong 3 đến 5 năm để đối phó với những dấu hiệu và triệu chứng mãn kinh có thể tăng nguy cơ mắc ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ.

Phụ nữ ở độ tuổi 40: Mặc dù ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không rất ít gặp, nhưng lại có khả năng cao được phát hiện ở phụ nữ độ tuổi 40, những người chưa trải qua thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ phổ biến nhất ở phụ nữ lớn tuổi hơn, những người đã trải qua thời kỳ mãn kinh.

Những dấu hiệu triệu chứng của ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là gì?

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không gây ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng. Bác sĩ thường phát hiện ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ một cách tình cờ như sau khi sinh thiết để đánh giá một khối u vú hoặc một khu vực bất thường do vôi hóa nhỏ, được tìm thấy qua chụp nhũ ảnh.

Những phương pháp điều trị ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là gì?

Hầu hết các trường hợp ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không cần điều trị. Đôi khi, nếu căn bệnh này được phát hiện bằng cách sử dụng kim sinh thiết, bác sĩ có thể đề nghị loại bỏ hoàn toàn (với sinh thiết cắt bỏ hoặc phẫu thuật bảo tồn vú) để đảm bảo không còn gì bất thường tại chỗ đó. Đặc biệt nếu ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ được mô tả có nhiều hình thái hoặc nếu có hoại tử (khu vực các tế bào chết), trong trường hợp này nó có nhiều khả năng phát triển nhanh chóng.

Uống rượu có chừng mực hoặc không uống. Hạn chế uống một ly rượu mỗi ngày.

Tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần. Cố gắng tập ít nhất 30 phút mỗi ngày vào hầu hết các ngày trong tuần.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Nên duy trì cân nặng hợp lý. Nếu cần phải giảm cân, hãy hỏi bác sĩ về các chiến lược sức khỏe để thực hiện điều này. Giảm số lượng calo bạn ăn mỗi ngày và tăng dần mức độ tập thể dục. Giảm cân chậm khoảng 0,5 hoặc 1kg mỗi tuần là tốt.

Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ: Bệnh Này Là Gì Và Được Điều Trị Như Thế Nào?

Chỉ Số Ung Thư Gan Khi Xét Nghiệm Máu Thể Hiện Điều Gì?

Chỉ Số Tế Bào Ung Thư Là Gì? Cách Xác Nhận Ung Thư Như Thế Nào?

Sarcoma Cơ Vân Ở Trẻ Em: Giới Thiệu

Viêm Cơ Vân Là Gì? Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Phòng Tránh

Ung Thư Biểu Mô Ống Dẫn Sữa Tại Chỗ

Ung Thư Phổi Giai Đoạn Đầu Là Gì, Nguyên Nhân, Phân Loại, Chữa Ở Đâu

Cực Phẩm Toàn Năng Thần Y Chương 285: Ung Thư Phổi Thời Kỳ Cuối

Ung Thư Không Phải Là Điểm Kết Của Cuộc Sống

7 Đáp Án Cho Câu Hỏi “ung Thư Phổi Nên Ăn Gì?”

Mất Bao Lâu Để Ung Thư Từ Ủ Bệnh Đến Khi Được Phát Hiện?

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) xảy ra khi các tế bào trong một số ống dẫn sữa hình thành tế bào ung thư. Những tế bào này đều được nằm trong các ống dẫn sữa và không lan sang các mô vú xung quanh. Vì vậy chúng có rất ít cơ hội di căn sang các hạch bạch huyết hoặc các nơi khác trong cơ thể.

Các bác sĩ sử dụng những thuật ngữ khác nhau để mô tả DCIS bao gồm ung thư ống dẫn sữa tiền xâm lấn, không xâm lấn hay u trong biểu mô ống dẫn sữa (DIN) hoặc trong ống dẫn sữa. Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ là dạng rất sớm của ung thư vú.

Nếu không được điều trị, ở một số phụ nữ, DCIS sẽ lan vào các mô vú xung quanh sau vài năm. Vì vậy bệnh có thể trở thành ung thư xâm lấn. DCIS được phát hiện nhiều hơn so với trước đây. Bệnh thường được phát hiện qua chụp nhũ ảnh khi khám sàng lọc ung thư vú .

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ và ung thư ống dẫn sữa xâm lấn không giống nhau. Trong ung thư ống dẫn sữa xâm lấn, các tế bào thoát ra khỏi ống dẫn sữa và lan sang các mô vú xung quanh. Sau đó chúng có cơ hội di căn tới các hạch bạch huyết gần đó hoặc các bộ phận khác của cơ thể.

Các mức độ của DCIS

Các bác sĩ phân loại DCIS thành mức cao (tăng trưởng nhanh hơn) và mức thấp (tăng trưởng chậm hơn). Ngoài ra còn có mức trung bình, giữa mức cao và mức thấp. Các bác sĩ cho rằng DCIS mức cao dễ lan sang các mô vú xung quanh hơn và dễ tái phát sau điều trị hơn. Xác định đúng mức độ sẽ giúp bác sĩ biết được bệnh nhân cần điều trị gì.

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ và ung thư ống dẫn sữa xâm lấn không giống nhau

Điều trị ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính đối với DCIS. Nhiều phụ nữ đã cắt bỏ vùng DCIS cùng với đường viền mô khỏe mạnh xung quanh nó. Đây được gọi là cắt bỏ tại chỗ diện rộng hoặc phẫu thuật bảo tồn hoặc đôi khi gọi là cắt bỏ khối u .

Một số phụ nữ được cắt bỏ toàn bộ vú. Nếu muốn, bạn có thể thực hiện tạo hình vú mới tại thời điểm cắt bỏ vú hoặc sau đó. Bạn sẽ được tư vấn cắt bỏ toàn bộ vú khi:

– Vùng DCIS trong vú rất lớn

– DCIS xuất hiện tại một số vùng của vú

– Ngực nhỏ và quá nhiều phần vú bị DCIS cần cắt bỏ tại chỗ diện rộng

Một số phụ nữ thích cắt bỏ toàn bộ vú hơn cắt bỏ tại chỗ diện rộng vì phương pháp này đem lại cho họ cảm giác tin rằng DCIS đã được chữa khỏi.

Ngoài ra, nếu các tế bào DCIS có thụ thể estrogen, bác sĩ sẽ đề xuất bạn dùng tamoxifen (một loại liệu pháp hoóc-môn) nhằm giảm nguy cơ phát triển ung thư vú xâm lấn trong tương lai.

Các bác sĩ hiện vẫn đang nghiên cứu cách mà tamoxifen và các liệu pháp hoóc-môn khác tác động để ngăn chặn tái phát DCIS. Một số kết quả thử nghiệm cho thấy tamoxifen có thể không có tác dụng nhiều nếu bạn đã được xạ trị.

Theo dõi sau điều trị

Dù bạn áp dụng phương pháp điều trị nào, bạn vẫn cần thường xuyên kiểm tra để đảm bảo sẽ được điều trị nhanh nhất có thể khi ung thư tái phát. Bác sĩ theo dõi của bạn thường sẽ đặt lịch chụp nhũ ảnh hàng năm cho bạn. Nếu ung thư tái phát, bác sĩ có thể sẽ đề xuất phương án cắt bỏ toàn bộ vú.

Theo chúng tôi

Biểu Hiện Của Tắc Ống Dẫn Tinh Thế Nào?tình Trạng Ống Dẫn Tinh Trùng

Những Điều Cần Biết Về Thắt Ống Dẫn Tinh

Thắt Ống Dẫn Tinh Sẽ Làm Tăng Nguy Cơ Ung Thư Tuyến Tiền Liệt

Các Bệnh Về Ung Thư Ống Tai, Tai Giữa Và Tai Trong

Bạn Biết Gì Về Bệnh Ung Thư Tai?

Ung Thư Vú Biểu Mô Ống Động Mạch Tại Chỗ

Tự Chữa Ung Thư Vú Bằng Thuốc Nam, Người Phụ Nữ Bị Nhiễm Trùng Nặng, Có Nguy Cơ Hoại Tử

Chữa Ung Thư Vú Bằng Thuốc Nam, Người Phụ Nữ Phải Nhập Viện Trong Tình Trạng Nguy Kịch

Người Phụ Nữ Nguy Kịch Vì Chữa Ung Thư Vú Bằng Đắp Thuốc Nam

Bỗng Nhiên Bị Đau Vú, Bạn Có Thể Bị Bệnh Gì?

Bật Mí Cách Chữa Ung Thư Dạ Dày Bằng Lá Đu Đủ

Đây là dạng ung thư vú khá phổ biến và ngày càng tăng. Ung thư có khả năng quay trở lại sau điều trị mà không dùng xạ trị. Với những kỹ thuật tiến bộ ngày nay, có thể phát hiện sớm và điều trị để không ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của người bệnh.

DCIS – Dutal carcinoma in situ: Ung thư biểu mô ống dẫn tại chỗ

Ung thư biểu mô ống dẫn tại chỗ (DCIS) là dạng phổ biến nhất của không xâm lấn. Ung thư trong ống có nghĩa là ung thư bắt đầu bên trong các ống dẫn sữa, ung thư biểu mô đề cập đến bất kỳ dạng nào bắt đầu trong da hoặc các mô khác (bao gồm cả mô vú) bên ngoài hoặc trong các cơ quan nội tạng, và “in situ” có nghĩa là “vị trí ban đầu của nó”. DCIS được gọi là “không xâm lấn” bởi vì nó không lan tỏa ra khỏi ống dẫn sữa vào bất kỳ mô bình thường nào xung quanh vú. DCIS không đe dọa tính mạng, nhưng khi bị DCIS có thể làm tăng nguy cơ phát triển một ung thư vú giai đoạn cuối xâm lấn sau đó.

Khi bạn bị DCIS, bạn có nguy cơ cao hơn để ung thư vú quay trở lại hoặc phát triển một ung thư vú mới hơn là một người chưa bị ung thư vú trước đó. Hầu hết ung thư tái lại từ 5 đến 10 năm sau những chẩn đoán ban đầu. Cơ hội để ung thư tái lại là dưới 30 %.

Những phụ nữ đã phẫu thuật giữ lại vú khi bị DCIS mà không có xạ trị sẽ có nguy cơ từ 25 đến 30 % quay trở lại ở vài điểm khác trong tương lai. Nếu dùng xạ trị trong kế hoạch điều trị sau phẫu thuật thì nguy cơ ung thư quay lại là 15 %. Nếu quay trở lại sau điều trị DCIS trước đó, sự quay trở lại là không xâm lấn (DCIS trở lại) khoảng một nửa thời gian và xâm lấn khoảng một nửa thời gian (bản thân DCIS là KHÔNG xâm lấn).

Theo như Hiệp hội ung thư Mỹ, khoảng 60.000 trường hợp DCIS được chẩn đoán ở Mỹ mỗi năm, chiếm khoảng 1 trong 5 trường hợp ung thư vú mới.

Có hai lý do chính cho thấy con số này là quá lớn và ngày càng tăng:

* Con người đang sống lâu hơn. Khi chúng ta già, nguy cơ chúng ta bị bệnh ung thư vú càng tăng

* Nhiều người đang nhận chụp quang tuyến vú, và chất lượng của kỹ thuật này ngày được cải tiến. Với kỹ thuật tiến bộ này, nhiều bệnh ung thư được phát hiện sớm.

Ung Thư Vú Biểu Mô

Nghiên Cứu Loại Thuốc Mới Điều Trị Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính

Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính (Tnbc

Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Xạ Trị Ung Thư Vú

Các Yếu Tố Nguy Cơ Phát Triển Ung Thư Vú

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Đáy Là Gì? Chữa Trị

Những Kỷ Lục Kỳ Lạ Về Mắt Người

Những Con Mắt Kinh Dị ‘nhất Quả Đất’

Ám Ảnh 7 Đôi Mắt Kinh Dị Nhất Thế Giới

Chuyên Đề Tuần 4: Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vảy Dạ Dày Nguyên Phát

Bài viết này xin được cung cấp tới bạn đọc các thông tin về bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ.

Bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là gì?

Bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là bệnh phổ biến, bệnh này có các tế bào bất thường được hình thành trong những tiểu thùy hoặc là tuyến sữa của vú. Bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ này không phải là ung thư. Tuy nheien được chuẩn đoán là ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ nghĩa là bạn sẽ có nguy cơ cao phát triển ung thư vú.

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ không xuất hiện, các bác sĩ thường sẽ phát hiện ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ nhờ một cách tình cờ như là sau khi sinh thiết để có thể đánh giá một khối u vú hoặc là một khu vực bất thường do bị vôi hóa nhỏ, cũng có thể được tìm thấy thông qua chụp nhũ ảnh.

Nguyên nhân của bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ

Nguyên nhân của bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ cũng chưa được làm rõ. Bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ sẽ bắt đầu khi những tế bào trong một tuyến sản xuất sữa ở một vú phát triển và đột biến gen, từ đó tạo ra những tế bào bất thường. Những tế bào bất thường này ở trong tiểu thùy và chúng không mở rộng hay là xâm lấn các mô vú xung quanh.

Bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ cũng không phải là ung thư và sẽ không phát triển thành ung thư. Thế nhưng nếu bị ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú và cũng có nhiều khả năng sẽ phát triển thành bệnh ung thư vú di căn.

Khắc phục điều trị ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ

Khắc phục điều trị ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ đa số là không cần thiết. Nhiều lúc nếu như ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ được phát hiện bằng phương pháp sử dụng kim sinh thiết, các bác sĩ có thể sẽ đề nghị loại bỏ hoàn toàn nó đi để đảm bảo rằng không còn gì bất thường ở chỗ đó. Điều này cũng đặc biệt là đúng nếu như ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ đã được mô tả là có nhiều hình thái hoặc là nếu có hoại tử, với trường hợp này thì nó sẽ có nhiều khả năng phát triển nhanh chóng.

Hi vọng qua bài viết này, các bạn đã nắm được những thông tin về bệnh ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ qua đó sẽ phát hiện cũng như là điều trị bệnh sớm nhất có thể, tránh để cho bệnh tình ảnh hưởng tới cuộc sống. Xin cám ơn.

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy

Ung Thư Biểu Mô Với Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Phương Pháp Điều Trị

Chữa Trị Ung Thư Biểu Mô Bằng Fucoidan Nhật Bản

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tiểu Thùy Tại Chỗ: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị

Khái Quát Về Ung Thư Biểu Mô Tuyến Phổi

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Ống Dẫn Trứng Tại Chỗ (Dcis)

Ung Thư Ống Mật Chủ Có Phải Do Nang Ống Mật Chủ?

Sai Lầm Lớn Của Các Bác Sĩ Khi Chẩn Đoán Ung Thư Ống Mật

Người Phụ Nữ Bị Ung Thư Sau 30 Năm Ngoáy Tai Liên Tục

Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ Của Da Vùng Tai Và Ống Tai Ngoài Tại Bệnh Viện 103

Bạn Biết Gì Về Bệnh Ung Thư Tai?

Bệnh Ung thư biểu mô ống dẫn trứng tại chỗ (DCIS) là một loại ung thư vú . Đây còn được gọi là ung thư vú không xâm lấn hoặc tiền xâm lấn. Các tế bào ung thư được tìm thấy dọc theo các bên của ống dẫn sữa trong vú. Các ống dẫn sữa nằm trong mỗi bên vú và là các ống dẫn sữa đi từ các thùy (được tạo thành từ các tiểu thùy) đến các lỗ mở của núm vú để cho con bú.

DCIS không xâm lấn, có nghĩa là các tế bào ung thư chỉ được tìm thấy trong (các) ống dẫn sữa và không lây lan qua các thành của ống dẫn và đến các mô lân cận khác trong vú. Đây là bệnh ung thư vú Giai đoạn 0 và có thể điều trị được. Các bác sĩ mô tả bệnh ung thư theo từng giai đoạn, sử dụng các chữ số La Mã từ 0, 0 đến IV hoặc 4. Để xác định giai đoạn của khối u, các bác sĩ phải xem xét khối u ban đầu và xác định vị trí của nó, kích thước của nó và nếu nó đã được nhận thấy ở các khu vực khác. Số giai đoạn càng thấp thì cơ hội điều trị bệnh thành công và mang lại kết quả tốt nhất càng cao.

Mặc dù DCIS luôn được coi là Giai đoạn 0, khối u có thể có kích thước bất kỳ và có thể được tìm thấy trong một số ống dẫn sữa bên trong vú. Với điều trị thích hợp, tiên lượng là tuyệt vời.

Ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS) phổ biến như thế nào?

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ dự kiến ​​rằng 63.960 trường hợp DCIS mới sẽ được tìm thấy trong năm 2022. Ngày nay, ngày càng nhiều phụ nữ nhận thức được tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và đi chụp X-quang tuyến vú mỗi năm. Do đó, số lượng các trường hợp DCIS đã tăng lên. Ngoài ra, công nghệ chụp nhũ ảnh cũng đã được cải thiện rất nhiều và có khả năng phát hiện các vấn đề ở giai đoạn sớm hơn. Ước tính có khoảng 12,4% phụ nữ ở Mỹ sẽ phát triển ung thư vú xâm lấn vào một thời điểm nào đó trong đời.

Ai bị ảnh hưởng bởi ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS)?

Do mô ở ngực của nam giới không phát triển đầy đủ như mô ở ngực của phụ nữ, nên nam giới thường không bị ung thư vú dạng này.

Các triệu chứng của ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) là gì?

DCIS thường không có dấu hiệu hoặc triệu chứng. Một số ít người có thể có một khối u ở vú hoặc một ít dịch tiết ra từ núm vú. Theo Viện Ung thư Quốc gia, khoảng 80% các trường hợp DCIS được phát hiện bằng chụp nhũ ảnh.

Ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS) được chẩn đoán như thế nào?

Loại ung thư này được phát hiện càng sớm thì càng có thể điều trị sớm. Các xét nghiệm hoặc quy trình sau đây thường được sử dụng để chẩn đoán DCIS:

vú định kỳ thường là một phần của việc khám Khám vú: Khám sức khỏe định kỳ. Đây là bước đầu tiên để phát hiện ung thư vú. Mặc dù DCIS thường không đi kèm với một khối u đáng chú ý, bác sĩ có thể cảm thấy sự phát triển bất thường ở vú, chẳng hạn như một nốt nhỏ, cứng, khi khám sức khỏe. Bác sĩ cũng sẽ tìm kiếm bất kỳ thay đổi da, thay đổi núm vú hoặc tiết dịch núm vú. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp, sự phát triển bất thường sẽ hiển thị trên hình ảnh chụp X quang tuyến vú.

Chụp quang tuyến vú: DCIS thường được tìm thấy trong quá trình chụp quang tuyến vú. Khi các tế bào cũ chết đi và tích tụ trong ống dẫn sữa, chúng để lại các đốm canxi nhỏ và cứng, hiển thị dưới dạng bóng hoặc đốm trắng trên chụp X quang vú.

Nếu phát hiện thấy một đốm hoặc một bóng mờ trên chụp quang tuyến vú, bác sĩ sẽ đề nghị sinh thiết .

Sinh thiết bằng kim lõi: Với thủ thuật này , bác sĩ sẽ đưa một cây kim lớn vào vú để lấy một mẫu mô vú lớn có vẻ bất thường trên hình chụp X quang vú. Đầu tiên bác sĩ sẽ gây tê da tại vị trí sinh thiết sau đó rạch một đường nhỏ trên da để giúp đưa kim vào vú. Vì da đã bị rạch sẽ để lại sẹo li ti và mờ dần theo thời gian.

Nếu sinh thiết bằng kim không lấy đủ tế bào hoặc mô vú để kiểm tra chính xác, hoặc kết quả không rõ ràng, bác sĩ có thể đề nghị sinh thiết khác.

Các thủ tục sau được coi là phẫu thuật:

Sinh thiết rạch: Thông qua một vết rạch, hoặc một vết cắt trên da, bác sĩ có thể lấy một mẫu mô vú để kiểm tra thêm.

Sinh thiết đặc biệt: Thủ tục này cắt toàn bộ khối mô ra khỏi vú.

Sinh thiết chỉ được sử dụng để chẩn đoán rằng có ung thư trong vú. Nếu ung thư được phát hiện, phẫu thuật sẽ được khuyến nghị để loại bỏ các tế bào bất thường.

Những loại điều trị nào có sẵn cho ung thư biểu mô ống dẫn tại chỗ (DCIS)?

Nếu sinh thiết xác nhận rằng có tế bào ung thư trong vú, điều trị DCIS bao gồm:

Cắt khối u bằng bức xạ sau phẫu thuật: Đây là phương pháp điều trị DCIS phổ biến nhất. Một cắt bỏ khối u là phẫu thuật loại bỏ tất cả các DCIS cùng với một chút của mô vú lành xung quanh rằng giáp phát triển ung thư. Điều này là để đảm bảo rằng tất cả các tế bào ung thư bất thường đã được loại bỏ. Với phương pháp cắt bỏ khối u, bác sĩ phẫu thuật sẽ để nguyên phần lớn vú. Số lượng mô được loại bỏ phụ thuộc vào kích thước và vị trí của DCIS.

một phương pháp điều trị ung thư phổ biến, là một quá trình thường diễn ra sau phẫu thuật cắt bỏ khối u. Nó thường được kết hợp với phẫu thuật để đảm bảo rằng tất cả các tế bào bất thường đã biến mất. Phương pháp điều trị này cũng làm giảm nguy cơ ung thư tái phát.

Phẫu thuật này loại bỏ toàn bộ vú và được khuyến nghị nếu DCIS được tìm thấy ở một vùng rộng lớn hoặc nhìn thấy khắp vú. Không xạ trị sau phẫu thuật cắt bỏ vú.

hoặc thuốc được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư khắp cơ thể, thường không cần thiết để điều trị DCIS.

Mỗi trường hợp cá nhân là khác nhau. Bệnh nhân và bác sĩ sẽ quyết định phương pháp điều trị nào là tốt nhất cho tình hình.

Thuốc nào điều trị ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS)?

Tamoxifen có thể được kê đơn cho phụ nữ ở mọi lứa tuổi đã được điều trị DCIS. Ở những phụ nữ đã qua thời kỳ mãn kinh , bác sĩ có thể kê đơn thuốc ức chế aromatase. Những loại thuốc này giúp giảm nguy cơ mắc DCIS hoặc một loại ung thư khác phát triển ở một trong hai bên vú. Nếu một trong hai được kê đơn, bạn nên dùng những loại thuốc này trong 5 năm sau khi phẫu thuật.

Vòi Trứng (Ống Dẫn Trứng) Là Gì? Và Các Vấn Đề Thường Gặp

Ăn Đồ “tây” Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú Ở Phụ Nữ

Béo Phì Khi Trẻ Làm Tăng Nguy Cơ Ung Thư Gan Ở Nam Giới 2022

Rượu, Thuốc Lá Làm Tăng 70% Nguy Cơ Tử Vong Ung Thư Ở Nam Giới

Béo Phì Làm Tăng Nguy Cơ Ung Thư Ở Phụ Nữ Trung Niên

Điều Trị Ung Thư Cổ Tử Cung Giai Đoạn Biểu Mô Tại Chỗ

Tiêm Phòng Chống Ung Thư Cổ Tử Cung Ở Đâu

Chữa Trị Ung Thư Cổ Tử Cung Ở Đâu Hiệu Quả?

Những Điều Cần Biết Về Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung

4 Phương Pháp Xét Nghiệm Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung Hiệu Quả Nhất

Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Ở Đâu Tốt?

Ung thư biểu mô tại chỗ là một thuật ngữ được dùng để chỉ bệnh ung thư giai đoạn đầu.

Giai đoạn này, các tế bào ung thư mới chỉ giới hạn ở trên bề mặt của cổ tử cung và chưa xâm nhập sâu hơn vào lớp mô bên dưới.

Ung thư biểu mô tại chỗ không có bất cứ triệu chứng gì. Cần phải xét nghiệm Pap định kỳ để phát hiện vấn đề.

Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh này. Sau khi chẩn đoán, bác sĩ sẽ đưa ra phương án điều trị thích hợp.

Sau khi điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn biểu mô tại chỗ, bệnh nhân sẽ cần đến tái khám và làm xét nghiệm Pap sau 3 đến 6 tháng một lần.

Ung thư biểu mô tại chỗ (carcinoma in situ) là một thuật ngữ được dùng để chỉ bệnh ung thư giai đoạn đầu. Ung thư cổ tử cung giai đoạn biểu mô tại chỗ còn được gọi là ung thư cổ tử cung giai đoạn 0. Đây là giai đoạn không xâm lấn, có nghĩa là các tế bào ung thư mới chỉ giới hạn ở trên bề mặt của cổ tử cung và chưa xâm nhập sâu hơn vào lớp mô bên dưới.

Cổ tử cung là phần hẹp, nằm giữa tử cung và ống âm đạo. Ung thư cổ tử cung bắt đầu hình thành trên bề mặt cổ tử cung và thường phát triển chậm. Nguyên nhân đa phần là do các chủng HPV (vi-rút u nhú ở người) gây ra. Đây là loại vi-rút lây truyền qua đường tình dục.

Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam có khoảng 4.200 ca mắc mới ung thư cổ tử cung vào năm 2022. Hầu hết những phụ nữ bị bệnh ung thư này đều dưới 55 tuổi. Ung thư cổ tử cung hiếm khi xảy ra ở phụ nữ dưới 20 tuổi. Căn bệnh này từng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ, nhưng số ca tử vong đã giảm đáng kể trong vòng 40 năm qua nhờ những phương pháp sàng lọc và điều trị mới.

Ung thư cổ tử cung thường chỉ biểu hiện triệu chứng khi đã sang đến các giai đoạn sau, vì vậy người bệnh không nhận thấy bất cứ biểu hiện nào ở giai đoạn ung thư biểu mô tại chỗ. Đó là lý do tại sao phụ nữ được khuyến nghị nên xét nghệm Pap (phết tế bào cổ tử cung) định kỳ để phát hiện sớm những thay đổi tế bào bất thường ở cổ tử cung.

Nhiễm HPV là yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Có hàng trăm chủng HPV khác nhau, được chia thành hai loại là HPV nguy cơ thấp và HPV nguy cơ cao. Có 10 chủng HPV nguy cơ cao có thể gây nên những thay đổi tế bào bất thường ở cổ tử cung và dẫn đến ung thư, nhưng 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung là do chủng HPV 16 và HPV 18 gây ra.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, gồm có:

Quan hệ tình dục với nhiều người

Hút thuốc lá

Hệ miễn dịch suy yếu do nhiễm HIV/AIDS, điều trị bằng hóa trị, xạ trị, dùng steroid trong thời gian dài…

Bắt đầu quan hệ tình dục từ quá sớm

Chế độ ăn ít trái cây và rau xanh

Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Bị mắc một bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, ví dụ như lậu, chlamydia…

Ung thư cổ tử cung được chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm Pap. Đây là thủ thuật lấy mẫu tế bào ở bề mặt cổ tử cung sau đó đem đi xét nghiệm trong phòng thí nghiệm. Phương pháp xét nghiệm HPV cũng có thể được thực hiện trên mẫu tế bào này để kiểm tra sự hiện diện của virus và để xem có các chủng HPV nguy cơ cao hay không.

Ngoài ra còn có một phương pháp chẩn đoán nữa là soi cổ tử cung. Bác sĩ bôi một loại dung dịch đặc biệt lên bề mặt cổ tử cung và sử dụng máy soi cổ tử cung để quan sát rõ bên trong và phát hiện những tế bào bất thường. Trong quá trình này, bác sĩ cũng có thể lấy một mẫu mô nhỏ để làm xét nghiệm thêm. Thủ thuật này được gọi là sinh thiết. Mẫu mô cũng sẽ được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích và có thể đưa ra chẩn đoán chính xác hơn.

Nếu kết quả cho thấy tế bào ung thư biểu mô tại chỗ thì sẽ cần lấy một mẫu mô lớn hơn từ cổ tử cung. Trong đó, vùng tế bào bất thường được loại bỏ cùng với một vùng mô khỏe mạnh xung quanh.

Việc điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn biểu mô tại chỗ cũng tương tự như chứng loạn sản cổ tử cung. Mặc dù được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ nhưng thực chất các tế bào bất thường ở giai đoạn này mới chỉ là tế bào tiền ung thư vì không xâm lấn.

Các phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn biểu mô tại chỗ gồm có:

Cắt tử cung: đây là giải pháp cho những phụ nữ không còn ý định sinh con.

Liệu pháp áp lạnh: đóng băng để tiêu diệt các tế bào bất thường.

Phẫu thuật bằng laser hay bằng vòng điện: loại bỏ các mô bất thường bằng laser hoặc một vòng dây điện.

Khoét chóp cổ tử cung: cắt đi một vùng mô lớn hơn, có hình nón ở cổ tử cung để đảm bảo loại bỏ toàn bộ các tế bào bất thường. Thủ thuật này ít được sử dụng cho những trường hợp ung thư biểu mô tại chỗ.

Sau khi chẩn đoán, bác sĩ sẽ đưa ra phương án điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào tuổi tác, mong muốn duy trì khả năng sinh sản, tình trạng sức khỏe tổng thể và các yếu tố nguy cơ khác của người bệnh.

Sau khi điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn biểu mô tại chỗ, bệnh nhân sẽ cần đến tái khám và làm xét nghiệm Pap sau 3 đến 6 tháng một lần. Ung thư cổ tử cung có thể tái phát nhưng phương pháp xét nghiệm Pap và kiểm tra định kỳ sẽ giúp phát hiện và xử lý các tế bào bất thường ngay từ sớm.

Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Ở Đâu Tốt Và Giá Bao Nhiêu?

Bạn Đã Biết Ung Thư Cổ Tử Cung Xảy Ra Ở Độ Tuổi Nào Chưa?

Phòng Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Bằng Cách Ghi Nhớ 8 Điều Sau

Hướng Dẫn Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung Theo Từng Độ Tuổi

Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung Như Thế Nào?

Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ (Nội Ống) (Dcis)

【Tìm Hiểu】Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú Xâm Lấn

Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Ống Tuyến Vú Tại Chỗ Tại Bệnh Viện 71 Trung Ương

Điều Trị Ung Thư Vú Hết Bao Nhiêu Tiền Và Biện Pháp Giảm Thiểu Chi Phí

Siêu Âm Và Xét Nghiệm Vú Hết Bao Nhiêu Tiền ?

#10 Cách Trị Mụn Ẩn Dưới Da Hiệu Quả “khiến Bạn Phải Bất Ngờ”

DCIS là dạng sớm của ung thư vú và chiếm chừng 12% tất cả các loại ung thư vú.

Ung thư vú bắt đầu khi các tế bào trong vú bắt đầu phân chia và phát triển theo cách bất thường.

Vú gồm các tiểu thùy (các tuyến sản xuất sữa) và các ống dẫn (ống mang sữa tới núm vú), các tiểu thùy và ống dẫn sữa được bao quanh bởi các mô tuyến, mô sợi và các mô mỡ.

Khi các tế bào ung thư phát triển bên trong ống dẫn sữa của vú nhưng vẫn còn ở bên trong ống (in situ) thì được gọi là DCIS. Các tế bào ung thư vẫn chưa có khả năng lan ra ngoài các ống này vào các mô vú xung quanh hoặc tới các bộ phận khác của cơ thể. Do vẫn còn ở trong ống dẫn sữa nên DCIS có tiên lượng rất tốt.

Bạn có thể thấy DCIS được mô tả theo các cách khác nhau như là ung thư tiền xâm lấn, ung thư nội ống hoặc ung thư không xâm lấn, hoặc ung thư vú giai đoạn 0.

Các triệu chứng của DCIS

DCIS thường không có triệu chứng. Hầu hết DCIS được phát hiện khi khám sàng lọc vú hoặc được chụp X quang vú vì lý do khác.

Thi thoảng DCIS được phát hiện ra khi nhiều người có thay đổi ở vú như là khối bướu hoặc tiết dịch núm vú. Tuy nhiên nếu một ai đó mắc DCIS mà có thay đổi ở vú thì nhiều khả năng họ cũng sẽ mắc ung thư vú xâm lấn.

Một số người mắc ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ cũng bị mảng đỏ ở núm vú giống như bệnh Paget vú, mặc dầu điều này hiếm.

DCIS có thể được chẩn đoán khi sử dụng một loạt các xét nghiệm, có thể gồm một hoặc nhiều xét nghiệm sau:

Nếu bạn không có triệu chứng và được gọi lại sau chụp X quang vú thì có thể là do bạn có một vài đốm trắng bé xíu nhìn thấy trên phim X quang. Các đốm trắng này là các đốm của muối canxi và được gọi là vôi hóa. Vôi hóa có thể là do DCIS. Tuy nhiên, không phải tất cả các vôi hóa tìm được đều là DCIS. Nhiều phụ nữ phát triển vôi hóa lành tính (không phải ung thư) trong vú khi họ già đi.

Nếu bạn có nốt vôi hóa hóa, bạn sẽ được chụp thêm nhũ ảnh chẩn đoán để xem vôi hóa chi tiết hơn nữa. Đôi khi cũng có thể được siêu âm vú.

Nếu nốt vôi hóa không lành tính rõ ràng thì bạn sẽ được sinh thiết dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh để giúp chẩn đoán. Dùng nhũ ảnh để định vị chính xác vị trí vôi hóa cần sinh thiết. Đôi khi sử dụng siêu âm nhưng việc này ít phổ biến hơn. Thủ thuật này được thực hiện như là cho bệnh nhân ngoại trú nên bạn có thể ra về sớm sau đó.

Nếu bạn được sinh thiết, đôi khi bạn được đặt một cái kẹp (hoặc vật đánh dấu) nhỏ bằng kim loại vào vú ở nơi mẫu sinh thiết được lấy ra để có thể tìm lại được khu vực này nếu cần sinh thiết hoặc phẫu thuật bổ sung. Vật đánh dấu này được để lại trên vú là an toàn và không cần được lấy ra, thậm chí nếu không cần thêm thủ thuật nào nữa.

Nhân viên tại phòng khám sẽ nói cho bạn khi nào bạn nhận được kết quả sinh thiết. Bạn thường sẽ được hẹn quay lại phòng khám để nhận kết quả.

Kết quả được mô tả như thế nào

Độ mô học thấp – các tế bào ung thư nhìn gần như giống với tế bào bình thường và thường phát triển chậm

Độ mô học trung bình – các tế bào ung thư nhìn ít khác với tế bào bình thường và đang phát triển nhanh hơn.

Độ mô học cao – các tế bào ung thư nhìn gần như bị thay đổi và thường đang phát triển nhanh.

Để có thêm thông tin đề nghị xem bài viếtTìm hiểu kết quả giải phẫu bệnh

DCIS có thể phát triển thành ung thư vú xâm lấn hay không?

Nếu DCIS không được điều trị thì các tế bào ung thư có thể có khả năng lan ra bên ngoài các ống dẫn sữa vào các mô vú xung quanh, và được gọi là ung thư vú xâm lấn. Ung thư xâm lấn có tiềm năng lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

Trong một số trường hợp, DCIS sẽ không bao giờ phát triển thêm hoặc tăng trưởng chậm đến nỗi nó sẽ không bao giờ gây hại trong cuộc sống. Mặc dù kích thước và độ mô học của DCIS có thể giúp dự đoán liệu nó có trở thành xâm lấn hay không, hiện nay không có cách nào để biết liệu điều này có xảy ra hay không. DCIS độ mô học cao nhiều khả năng trở thành ung thư vú xâm lấn và phát triển nhanh hơn là DCIS có độ mô học thấp.

Mục tiêu của điều trị là loại bỏ tất cả DCIS ra khỏi bên trong vú để giảm nguy cơ trở thành ung thư vú xâm lấn.

Do không có cách nào biết khi nào hoặc liệu DCIS sẽ trở thành ung thư vú xâm lấn hay không, thường có khuyến nghị điều trị, và có thể dẫn tới điều trị không cần thiết hoặc điều trị quá mức đối với một số người.

Nghiên cứu đang được thực hiện nhằm làm rõ các trường hợp của DCIS nào sẽ trở thành xâm lấn và chúng có thể an toàn để không cần điều trị hay không. Nếu bạn được chẩn đoán DCIS độ mô học thấp thì bạn có thể được mời tham dự thử nghiệm lâm sàng.

Gần như nhiều khả năng phẫu thuật cắt bỏ vú được đề xuất nếu:

DCIS ảnh hưởng đến một khu vực lớn trong vú

DCIS có ở từ hai khu vực của vú trở lên (mặc dù nếu các khu vực là nhỏ, có thể có hai đường mổ cục bộ rộng thay cho việc cắt toàn bộ vú;

Hầu hết các trường hợp DCIS là không thể sờ thấy được nên một quy trình được gọi là định vị thường được sử dụng vào hôm trước hoặc vào ngày phẫu thuật bảo tồn vú. Việc này được làm trong khoảng thời gian 30 phút và giúp đánh dấu chính xác khu vực sẽ cắt bỏ khi phẫu thuật. Một dây dẫn (chỉ kim loại) rất nhỏ được đưa vào vị trí nghi ngờ dưới hướng dẫn của nhũ ảnh hoặc siêu âm. Nếu bạn định vị dưới hướng dẫn nhũ ảnh, vú của bạn sẽ bị ép trong suốt thời gian thủ thuật. Bạn sẽ được gây tê cục bộ làm tê liệt khu vực phẫu thuật nhưng vẫn có cảm giác không thoải mái. Sau khi đã định vị chỉ kim loại xong, bạn sẽ chụp nhũ ảnh để kiểm tra xem có đặt đúng vị trí chưa. Khi xác định chỉ kim loại đã đúng vị trí, nó sẽ được cố định lại bằng băng keo và để đó cho đến khi phẫu thuật.

Một số bệnh viện đang sử dụng thủ thuật định vị mới, sử dụng một hạt phóng xạ liều thấp (có kích thước của hạt gạo) được đưa vào mô vú thay cho dây kim loại. Thủ thuật này có thể được thực hiện tới 2 tuần trước khi phẫu thuật. Trong khi phẫu thuật, sử dụng một đầu dò đặc biệt để định vị hạt và hướng dẫn bác sĩ phẫu thuật tới mô cần được cắt bỏ cùng với hạt phóng xạ.

Nếu bạn phải phẫu thuật cắt bỏ vú bạn sẽ có khả năng xem xét tái tạo vú. Việc này có thể được thực hiện đồng thời với việc phẫu thuật (tái tạo tức thì) hoặc sau vài tháng hoặc vài năm (tái tạo trì hoãn).

Có một số phụ nữ không chọn hoặc không thể tái tạo vú. Họ có thể dùng túi ngực thay thế hoặc không làm gì cả.

Hầu hết phụ nữ mắc DCIS sẽ không phải phẫu thuật để vét hạch bạch huyết. Những người mắc ung thư vú xâm lấn sẽ thường phải vét hạch bạch huyết để kiểm tra xem có hạch bạch huyết nào dưới cánh tay có chứa tế bào ung thư vú hay không. Việc này giúp quyết định liệu điều trị bổ sung sẽ mang lại lợi ích cho bạn.

Thường không khuyến nghị vét hạch bạch huyết cho những người mắc DCIS do các tế bào ung thư vú chưa phát triển khả năng lan ra bên ngoài ống dẫn sữa vào mô vú xung quanh và do vậy không thể lan tới hạch bạch huyết.

Sinh thiết hạch gác nhận biết được liệu (các) hạch bạch huyết có tế bào ung thư hay không. Nếu không có tế nào ung thư, có nghĩa là các hạch khác cũng không có, nên không cần vét thêm hạch bạch huyết.

Nếu các kết quả sinh thiết hạch gác cho thấy rằng (các) hạch đầu tiên có tế bào ung thư thì có thể phẫu thuật thêm hoặc xạ trị vào các hạch bạch huyết còn lại.

Đôi khi một khu vực ung thư vú xâm lấn được tìm thấy cùng với DCIS. Nếu như vậy, nó sẽ ảnh hưởng tới các điều trị mà bạn sẽ được thực hiện và bạn có thể cần phẫu thuật hạch bạch huyết dưới cánh tay để kiểm tra liệu chúng có chứa tế bào ung thư hay không. Để có thêm thông tin đề nghị đọc quyển Trọn gói thông tin ung thư vú nguyên phát.

Sau khi phẫu thuật bạn có thể cần tiếp tục điều trị, gọi là điều trị bổ trợ. Điều trị bổ trợ có thể bao gồm xạ trị và, trong một số trường hợp có thể liệu pháp nội tiết. Mục đích của các điều trị này là giảm nguy cơ DCIS quay lại hoặc phát triển thành ung thư xâm lấn. Không sử dụng liệu pháp hóa trị và liệu pháp trúng nắm trúng đích (sinh học) để điều trị DCIS.

Xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn thì bạn có thể được xạ trị. Thường không cần xạ trị sau phẫu thuật cắt vú đối với DCIS.

Xạ trị được thực hiện như bạn là bệnh nhân ngoại trú, chừng 4 tới 6 tuần sau phẫu thuật. Xạ trị thường được thực hiện hàng ngày (từ thứ hai tới thứ sáu) trong ba tuần.

Bác sĩ của bạn sẽ giải thích những lợi ích của xạ trị và nói cho bạn các tác dụng phụ bất kỳ của quá trình xạ trị. Để có thêm thông tin hãy đọc cuốn sách Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát

Nhiều liệu pháp nội tiết làm việc theo cách khác nhau để chặn ảnh hưởng của estrogen lên tế bào ung thư. Liệu pháp nội tiết thường được chỉ định nếu ung thư vú của bạn có các thụ thể trong các tế bào liên kết với chất nội tiết estrogen, được gọi là ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER+. Khi estrogen liên kết với các thụ thể này, nó có thể kích thích các tế bào ung thư phát triển. Nếu không tìm thấy các thụ thể estrogen thì gọi là ung thư vú âm tính với thụ thể estrogen hay là ung thư vú ER- và liệu pháp nội tiết sẽ không có lợi.

Mọi ung thư vú xâm lấn được xét nghiệm tìm các thụ thể nội tiết bằng cách dùng mô từ lần sinh thiết hoặc sau phẫu thuật. Có thể thực hiện xét nghiệm tìm thụ thể progesteron (một chất nội tiết khác). DCIS có thể được xét nghiệm tìm các thụ thể nội tiết này nhưng thường không được thực hiện.

Một số nghiên cứu thấy rằng sử dụng liệu pháp nội tiết sau phẫu thuật làm giảm nguy cơ DCIS quay trở lại (tái phát) và nguy cơ phát triển thành ung thư vú xâm lấn, nhưng những phụ nữ uống thuốc nội tiết không sống lâu hơn những người không uống.

Nhận tin bạn bị ung thư vú DCIS có thể là thời điểm khó khăn và đầy lo lắng. Mỗi người phản ứng khác nhau với việc chẩn đoán và có cách thức đối mặt khác nhau.

Mặc dù DCIS là bệnh ung thư vú ở giai đoạn sớm với tiên lượng rất tốt, một số người cảm thấy rất lo lắng và sợ hãi khi bị chẩn đoán. Mọi người thường đấu tranh giữa các điều trị như là phẫu thuật cắt bỏ vú, và rằng DCIS có thể không bao giờ gây bất kỳ nguy hại gì cho họ.

Một số người miễn cưỡng nói họ lo lắng về việc bị chẩn đoán DCIS do họ lo ngại những người khác sẽ nhìn bệnh này không nguy hiểm bằng các loại ung thư vú khác, hoặc họ có thể than phiền khi mà họ không được điều trị hóa chất. Do điều này họ có thể cảm thấy khó có thể yêu cầu hỗ trợ. Nhưng có những người có thể hỗ trợ bạn và không nên lo sợ khi yêu cầu được giúp đỡ. Hãy để cho mọi người biết về cảm nhận của bạn, đặc biệt là gia đình mình và bạn bè có thể làm họ hỗ trợ thêm.

Tài liệu tham khảo

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc39_dcis_2018_web.pdf

Bao Nhiêu Tuổi Thì Tầm Soát Ung Thư?

Đặc Trưng Của Ung Thư Vú Ở Bệnh Nhân Vị Thành Niên

Giám Đốc Bệnh Viện K Nhận Giải Thưởng Nhân Tài Đất Việt Vì Đột Phá Điều Trị Ung Thư Vú

Dịch Tễ Học Bệnh Ung Thư

Luận Án: Mô Bệnh Học Bệnh Ung Thư Vú Hạch Nách Dương Tính

Tìm Hiểu Về Ung Thư Biểu Mô Ống Dẫn Sữa Tại Chỗ Mới

Bài Thuốc Nam Chữa Dứt Ung Thư Phổi Thời Kỳ Cuối

Người Bị Ung Thư Phổi Có Ăn Yến Được Không? Đọc Ngay Để Biết!

Người Mắc Ung Thư Phổi Có Ăn Yến Được Không?

Vén Màn Sự Thật: Ung Thư Phát Triển Trong Bao Lâu?

Ung Thư Vú Diễn Biến Âm Thầm Trong Bao Lâu Mới Có Triệu Chứng?

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) là hiện tượng các tế bào có trong một ống dẫn sữa hình thành nên tế bào ung thư. Các tế bào này chỉ nằm trong ống dẫn sữa mà không lan ra các mô vú xung quanh nên chúng ít có cơ hội di căn sang các hạch bạch huyết hoặc các nơi khác trong cơ thể.

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ còn được gọi với thuật ngữ như: ung thư ống dẫn sữa tiền xâm lấn, không xâm lấn, u trong biểu mô ống dẫn sữa (DIN) hoặc trong ống dẫn sữa. Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ chính là dạng rất sớm của căn bệnh ung thư vú.

Nếu không được điều trị kịp thời, ở một số trường hợp bệnh nhân mắc bệnh, sau vài năm, DCIS sẽ lan vào các mô vú xung quanh và trở thành ung thư xâm lấn. Hiện nay, căn bệnh này đã được phát hiện nhiều hơn so với trước đây, bệnh thường được phát hiện qua chụp nhũ ảnh khi khám sàng lọc ung thư vú.

Nhiều người thường nhầm lẫn giữa ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ và ung thư ống dẫn sữa xâm lấn nhưng thực tế chúng hoàn toàn không giống nhau. Trong ung thư ống dẫn sữa xâm lấn, các tế bào thoát ra khỏi ống dẫn sữa và lan sang các mô vú xung quanh. Sau đó chúng có cơ hội di căn tới các hạch bạch huyết gần đó hoặc các bộ phận khác của cơ thể.

Các mức độ của ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ

Theo các bác sĩ, DCIS được phân thành các mức độ như: mức cao – tăng trưởng nhanh hơn và mức thấp là các khối u tăng trưởng chậm hơn. Ngoài ra, bệnh còn có mức trung bình ở giữa mức cao và mức thấp. Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ ở mức cao thường dễ lan sang các mô vú xung quanh hơn và khả năng tái phát cao sau điều trị hơn. Xác định đúng mức độ sẽ giúp bác sĩ biết được bệnh nhân cần điều trị gì.

Điều trị ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ như thế nào?

Phẫu thuật là phương pháp điều trị tốt nhất đối với DCIS. Nhiều trường hợp bệnh nhân phải cắt bỏ vùng DCIS cùng với đường viền mô khỏe mạnh xung quanh nó. Phương pháp này còn được gọi là cắt bỏ khối u, phẫu thuật bảo tồn hoặc cắt bỏ tại chỗ diện rộng.

Đối với trường hợp chị em phải cắt bỏ toàn bộ vú, nếu muốn, các bác sĩ có thể thực hiện tạo hình vú mới tại thời điểm cắt bỏ vú hoặc sau đó. Bệnh nhân sẽ được tư vấn cắt bỏ toàn bộ vú khi:

– Vùng DCIS trong vú rất lớn.

– DCIS xuất hiện tại một số vùng của vú.

– Ngực nhỏ và quá nhiều phần vú bị DCIS cần cắt bỏ tại chỗ diện rộng.

Một số phụ nữ lo lắng bệnh có thể tái phát nên họ thường thích cắt bỏ toàn bộ vú hơn cắt bỏ tại chỗ diện rộng vì phương pháp này đem lại cho họ cảm giác tin rằng DCIS đã được điều trị thành công.

Ngoài ra, bác sĩ sẽ đề xuất cho bạn dùng một loại liệu pháp hoóc-môn có tên là tamoxifen nhằm giảm nguy cơ phát triển ung thư vú xâm lấn trong tương lai nếu các tế bào DCIS có thụ thể estrogen. Hiện nay các bác sĩ vẫn đang tiến hành nghiên cứu cách mà tamoxifen và các liệu pháp hoóc-môn khác tác động để ngăn chặn tái phát DCIS. Tuy nhiên có một số kết quả thử nghiệm cho thấy liệu pháp tamoxifen này có thể không có tác dụng nhiều nếu bạn đã được xạ trị.

Theo dõi sau điều trị ung thư

Sau khi điều trị ung thư, bệnh nhân phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe để đảm bảo quá trình điều trị đã hoàn tất và không còn mầm mống bệnh tái phát. Hầu hết các bác sĩ điều trị sẽ đặt lịch chụp nhũ ảnh hàng năm cho bệnh nhân. Nếu ung thư tái phát, bác sĩ có thể sẽ đề xuất phương án cắt bỏ toàn bộ vú.

Theo Sức khỏe và đời sống

Ống Dẫn Tinh Là Gì Và Hoạt Động Như Thế Nào?

Nguy Cơ Bị Ung Thư Tuyến Tiền Liệt Do Thắt Ống Dẫn Tinh

Tỷ Lệ Ung Thư Ở Trung Quốc

Loại Bỏ Ống Dẫn Trứng Sẽ Làm Giảm Nguy Cơ Ung Thư Buồng Trứng?

Ung Thư Ống Hậu Môn: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị

Đặc Điểm Giải Phẫu Bệnh Của Ung Thư Biểu Mô Tuyến Vú Tại Chỗ

Ung Thư Biểu Mô Rau (Choriocarcinoma)

Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Sáng Ở Thận: Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Dpc: Xóa Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Tụy

Ung Thư Tụy (Ung Thư Biểu Mô Tuyến Tụy) Ở Chó

Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị

Chủ nhật, 16 Tháng 11 2014 07:37 Biên tập viên Số truy cập: 7699

Bs CKI Nguyễn Xuân Hiền – Khoa GPB I. Carcinôm tiểu thùy tại chỗ và tăng sản không điển hình: 1. Đặc điểm lâm sàng:

Carcinom tiểu thùy tại chỗ (Lobular Carcinoma In Sutu – LCIS) chiếm từ 1 – 6% các ung thư vú và chiếm 30 – 50% các ung thư tại chỗ. Nhóm tuổi trung bình khoảng 44- 54 tuổi.

Tổn thương đa ổ chiếm 60 – 85% và có đến 30- 45% LCIS ở cả hai bên vú.

2. Vi thể:

– LCIS phát sinh từ các ống tận cùng tiểu thùy vú. Các tế bào u tăng sinh thay thế biểu mô túi tuyến và các ống trong tiểu thùy. Tế bào u có kích thước nhỏ tương đối đồng dạng, nhân tròn, sẫm, bào tương hẹp, hạt nhân không rõ.

Hình ảnh vi thể của LCIS

– Các tác giả đề xuất: Chỉ cần từ 50 – 75% tổn thương trong 1 thùy vú là đủ để xác định chẩn đoán LCIS mà không cần quan tâm đến số lượng 1 hay 2 thùy bị tổn thương. Nếu tổn thương < 50% trong 1 thùy thì được coi là tăng sản thùy không điển hình (Atypical Lobular Hyperpalsia – ALH).

– Các hốc sáng trong bào tương (Intracytoplasmic Vacuoles) là do sự chế tiết nhầy tạo ra rất thường gặp và đóng vai trò quan trọng trong LCIS, nhưng không nhất thiết là tiêu chẩn để chẩn đoán. (Hình ảnh này hiếm gặp trong Carcinom ống và không gặp trong tăng sản ống hoặc thùy). Những trường hợp rõ nét có thể tạo thành dạng tế bào nhẫn.

– Ở bệnh nhân hậu mãn kinh, các thùy vú thường đã bị teo đét, vì vậy LCIS đôi khi chỉ biểu hiện ở các ống vú có dạng răng cưa (Saw – Tooth) hay dạngl lá 4 cánh (Clover Leaf).

3. Chẩn đoán phân biệt:

– Phân biệt với tăng sản tế bào cơ biểu mô: Loại này vẫn còn tế bào biểu mô lòng nang của thùy vú. Tế bào cơ biểu mô tăng sinh bao quanh tròn nhỏ, bào tương sáng, nhân tăng sắc.

– Phân biệt với tăng sản thùy không điển hình (Atipical lobular hyperpalsis- ALH): Các tế bào tuyến tăng sản có những đặc điểm giống như tế bào LCIS nhưng hình ảnh tăng sinh thường không rõ nét vẫn còn nhận ra lòng nang của thùy vú và thường chỉ giới hạn ở 1 thùy vú.

Hình ảnh vi thể của ALH II. Carcinoma ống tại chỗ và tăng sản không điển hình: 1. Tăng sản nội ống (Intraductal Hyperplasia)

– Tăng sản nội ống là tổn thương hay gặp kèm theo trong thay đổi sợi bọc tuyến vú.

– Vi thể: Hình ảnh tăng sinh tế bào biểu mô lấp kín lòng ống xen lẫn với tăng sinh tế bào cơ biểu mô hình thoi. Các tế bào biểu mô có hình trụ, đồng đều, có thể gặp những vùng biến đổi bọt bào (foamy Cells) hoặc dị sản đỉnh tiết. Nhân tế bào có chỗ tăng sắc hoặc gặp phân ống biến đổi và có nhiều hình dạng: Hình ôvan, hình khe hẹp, vỏ sò…

Hình ảnh vi thể của tăng sản nội ống

2. Tăng sản ống không điển hình (Itraductal Hyperplasia Whith Atypical):

– Hình ảnh tăng biểu mô tạo nên các lòng tuyến thứ phát (Secondary Lumens) có hình bất thường. Tế bào biểu mô tăng tầng, đôi khi tạo nhú nhỏ hoặc có thể xen lẫn với ổ hoại tử nhỏ. Nhân tế bào không điển hình và gặp 1 số phân bào.

Hình ảnh vi thể của tăng sản ống tuyến không điển hình. 3. Carcinom ống tại chỗ (Ductal Carcinoma In Situ): 3.1 Đặc điểm lâm sàng:

DCIS phát sinh từ hệ thống ống của tuyến vú, gồm cả ống của thùy vú (Lobular Ducts).

DCIS là 1 tổn thương khó sờ thấy được, mà thường phát hiện qua chụp nhũ ảnh hoặc sinh thiết vú.

3.2 Đại thể:

Hầu hết hình ảnh đại thể không rõ, ngoại trừ dạng hoại tử Comedo có thể thấy một khối có mật độ chắc hơn nếu kèm xơ hóa quanh ống.

Hình ảnh đại thể của DCIS 3.3 Vi thể:

Có nhiều dạng cấu trúc: (có thể đơn thuần hoặc kết hợp). Dạng nhú – Dạng đặc – Dạng sàng – Dạng hoại tử Comedo. Nhân tế bào tăng sắc, tỉ lệ Nhân/ Bào tương tăng và gặp phân bào bất thường. Trong một số trường hợp có thể gặp tế bào bán hủy với các hốc sáng trong bào tương.

Không gặp hình tăng sinh tế bòa cơ biểu mô trong ống, tuy nhiên có thể gặp tế bào cơ biểu mô ở vùng mép tổn thương.

Ở dạng vi nhú cần phân biệt với tăng sản nội ống dạng nhú không điển hình. Đối với DCIS vi nhú, các ống nhỏ lồi vào lòng ống. Các tế bào u nhỏ, khá đồng dạng, nhân sẫm hiếm phân bào, xếp thành đám đặc ngẫu nhiên hoặc xếp đặc trục của nhú (không thấy rõ trục liên kê4ts mạch máu). Có thể gặp 1 số đám tế bào u l;ơ lửng trong lòng ống.

Hình ảnh vi thể DCIS dạng vi nhú

Đối với dạng sàng các tế bào u tạo thành các dải hoặc cầu nối làm các khoảng trống trong lòng ống có hình ô cửa sổ. Các khoảng trống phân bố đều trong ống, thường có dạng hình tròn và kích thước tương đối đồng dạng.

Hình ảnh vi thể của DCIS dạng sàng

Ở dạng đặc hoặc dạng hoại tử Comedo, nhân tế bào có xu hướng tăng sắc và hạt nhân rõ và nhiều phân bào hơn.

Hình ảnh vi thể của DCIS dạng Comedo

Trong một số trường hợp mô đệm xơ hóa kèm xâm nhiễm lympho bào quanh các ống vú sẽ rất khó phân biệt với carcinom vi xâm lấn được xác định khi có 1 nhóm tế bào tách rồi khỏi ống vú nằm ở phần mô đệm và không có tế bào cơ biểu mô bao quanh.

PHÂN ĐỘ MÔ HỌC CỦA DCIS

Tổ chức y tế thế giới (WHO) phân DCIS ra 3 độ dựa vào đặc điểm nhân tế bào và hình ảnh hoại tử. Đặc điểm nhân tế bào chia ra lảm 3 độ như sau:

Độ 1: Kích thước nhân tế bào từ 1,5 – 2 lần kích thước hồng cầu. Chất nhiễm sắc thô và gặp hạt nhân cũng như phân bào rải rác.

Độ 2: Kích thước nhân tế bào từ 1,5 – 2 lần kích thước hồng cầu. Chất nhiễm sắc thô và gặp hạt nhân cũng như phân bào rải rác.

Kết hợp với hình ảnh hoại tử chia DCIS chia ra 3 độ:

DCIS, độ 1: Nhân độ 1 – 2, không kèm hoại tủ.

DCIS, độ 2: Nhân độ 1 – 2, kèm hoại tử.

DCIS, độ 3 : Nhân độ 3, kèm hoặc không kèm hoại tử.

Lưu ý: Cấu trúc mô học (dạng Comedo, dạng sàng, dạng đặc, dạng vi nhú) được đề cập trong mô tả vi thể, nhưng không phải là tiêu chuẩn để phân độ DCIS. Loại hoại tử Comedo thường xếp vào loại độ cao.

Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ Của Phế Quản Và Phổi Tại Bệnh Viện 7A

Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Nhỏ Ở Thực Quản

Bệnh Học Ung Thư Tuyến Nước Bọt

Ung Thư Biểu Mô Đường Bài Xuất (Tcc) Vùng Đài Bể Thận Và Niệu Quản

Ung Thư Biểu Mô Tuyến Nhầy Của Ruột Thừa