Top #10 ❤️ Ung Thư Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Brandsquatet.com

Liệu Pháp Sinh Học Trong Điều Trị Ung Thư – Ung Thư Học

Chẩn Đoán Ung Thư Tụy

Tiếp Tục Thua Kiện Vì Gây Ung Thư, Johnson & Johnson Phải Bồi Thường Số Tiền ‘khủng’

Sàng Lọc Và Phát Hiện Sớm Ung Thư Khoang Miện – Sàng Lọc Ung Thư

Thuốc Trị Ung Thư Kaposi Liên Quan Tới Aids

Sự Khác Biệt Giữa U Lành Tính Và U Ác Tính

Định nghĩa

Liệu pháp sinh học điều trị ung thư là một phương thức điều trị mà sử dụng hệ thống miễn dịch cơ thể để tiêu diệt tế bào ung thư.

Liệu pháp sinh học đã được sử dụng trong điều trị nhiều loại ung thư để ngăn chặn hoặc làm chậm lại sự phát triển của khối u và ngăn cản sự lan rộng của ung thư. Liệu pháp sinh học thường ít gây ra các tác dụng phụ nhiễm độc hơn các phương pháp điều trị khác.

Liệu pháp sinh học tác động như thế nào?

Mục tiêu của liệu pháp này là thúc đẩy hệ miễn dịch nhận ra và tiêu diệt tế bào ung thư.

Hệ miễn dịch của cơ thể chiến đấu chống lại những tác nhân ngoại lai, như vi sinh vật, xâm nhập vào cơ thể. Hệ miễn dịch cũng sẽ xem các tế bào ung thư là bất thường, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Tế bào ung thư có thể phát triển một năng lực che dấu khỏi các tế bào của hệ miễn dịch. Hoặc chúng có thể vô hiệu hóa hoặc ức chế hoạt động của tế bào miễn dịch.

Thông thường, liệu pháp sinh học tác động thông qua một trong hai cách:

Thúc đẩy hệ miễn dịch tấn công tế bào ung thư. Có nhiều cách liệu pháp điều trị sinh học có thể đạt được mục tiêu này. Ví dụ, tiêm hóa chất kích thích tế bào hệ miễn dịch. Hoặc một mẫu thử của hệ miễn dịch có thể được huấn luyện trong phòng thí nghiệm để tấn công các tế bào ung thư trước khi được đưa trở lại cơ thể.

Làm cho tế bào ung thư dễ bị hệ miễn dịch phát hiện hơn. Liệu pháp sinh học cũng có thể nhắm vào đích là tế bào ung thư, kích hoạt hoặc bất hoạt các tín hiệu tế bào giúp chúng tránh né được các tế bào miễn dịch.

Những dạng của liệu pháp sinh học

Một vài dạng của liệu pháp điều trị sinh học đã có mặt, bao gồm:

Chuyển tế bào nuôi dưỡng

Chất ức chế sinh mạch

Liệu pháp BCG (Bacillus Calmette-Guerin)

Liệu pháp hóa sinh

Vaccine ung thư

Liệu pháp cytokine

Liệu pháp gene

Miễn dịch liên hợp (immunoconjugates)

Kháng thể đơn dòng

Liệu pháp virus tiêu diệt khối u (oncolytic virus therapy)

Thuốc điều trị đích

Nhiều dạng của liệu pháp sinh học hiện mới chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Liệu pháp sinh học cho ung thư hiện là một lĩnh vực tích cực trong nghiên cứu ung thư.

Theo Mayo Clinic

Bước Đầu Điều Trị Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ Giai Đọan Lan Tràn Bằng Cisplatin + Irinotecan Tại Khoa Phổi Bv Chợ Rẫy

Cập Nhật Những Bệnh Ung Thư Người Việt Nam Thường Mắc Phải Có Chiều Hướng Tăng

Giải Phẫu Bệnh Hoc: Bệnh Lý Nguyên Bào Nuôi Thai Kì

Những Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Ung Thư Tuyến Nước Bọt

Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thanh Quản

Ung Thư Hậu Môn – Ung Thư Học

Nốt Ruồi Hay Ung Thư Hắc Tố? Các Dấu Hiệu Cảnh Báo Ở Các Chàm (Bớt, Biến Đổi Da) Lành Tính Và Ác Tính

Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Thanh Quản

Những Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Ung Thư Tuyến Nước Bọt

Giải Phẫu Bệnh Hoc: Bệnh Lý Nguyên Bào Nuôi Thai Kì

Cập Nhật Những Bệnh Ung Thư Người Việt Nam Thường Mắc Phải Có Chiều Hướng Tăng

Ung thư hậu môn thường ít khi được mọi người nhắc đến vì vấn đề nhạy cảm, nhưng việc thoát khỏi những vấn đề ngạy cảm xung quanh căn bệnh này có thể làm giảm tỉ lệ tử vong.

Ung thư có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, vì vậy hậu môn – phần cuối cung f của ống tiêu hóa cũng không là ngoại lệ. Ung thư hậu môn có thể phát triển 1 khối u ở da xung quanh hậu môn, nhưng nó thường được coi là ung thư da. Ung thư hậu môn là khi bệnh xảy ra trong ống hậu môn. Theo Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, dấu hiệu của ung thư hậu môn hiếm gặp bao gồm: chảy máu, đau hậu môn, ngứa, thay đổi áp lực của hậu môn hoặc chảy mủ từ hậu môn. Ung thư hậu môn cũng có thể biểu hiện bằng khối u ở gần hậu môn hoặc thay đổi thói quen đại tiện.

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, khối u ở hậu môn có nhiều thể mô bệnh học khác nhau xuất phát từ các loại tế bào khác nhau. Ung thư hậu môn chủ yếu phát triển từ lớp niêm mạc. Ung thư cũng có thể được hình thành từ các tuyến dưới niêm mạc.

Mặc dù ung thư hậu môn hiếm gặp hơn ung thư đại tràng hay ung thư trực tràng, chiếm 1,6% ung thư đường tiêu hóa, nhưng ở Mỹ có khoảng 8000 người mắc/năm. Số lượng mới mắc ung thư hậu môn ngày càng tăng. Ung thư hậu môn được phát hiện càng sớm càng tốt. Theo thống kê tỉ lệ sống trên 5 năm khoảng 60-70%, tùy thuộc vào từng thể bệnh khi ung thư hậu môn được phát hiện ở giai đoạn sớm. Nhưng tỉ lệ sống giảm nhanh khi ở giai đoạn tiến triển. Ung thư hậu môn giai đoạn cuối, tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ còn 7-21%.

Một số người nên được sàng lọc ung thư hậu môn nhiều hơn những người khác. Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ cho biết nhiễm HPV làm tăng nguy cơ bị ung thư hậu môn. HPV rất phổ biến và có ở hầu hết nam, nữ đã quan hệ tình dục. HPV cũng gây ra những ung thư khác như ung thư hậu môn, ung thư hạ họng…Những yếu tố nguy cơ khác như quan hệ với nhiều đối tác, quan hệ qua đường hậu môn, người trên 50 tuổi, hút thuốc lá, người suy giảm miễn dịch, hậu môn thường xuyên bị kích thích ( sưng, đau, đỏ, nhức). Những người bị ung thư cổ tư cung hay ung thư âm đạo cũng làm tăng nguy cơ ung thư hậu môn.

Nguồn:

http://www.medicaldaily.com/anal-cancer-early-signs-and-symptoms-disease-no-one-talks-about-406240

Ung Thư Đại Trực Tràng Sống Được Bao Lâu?

Gói Tầm Soát Ung Thư Vòm Họng Ts

Điều Trị Thành Công Bệnh Nhân Ung Thư Tại Hai Vị Trí: Hạ Họng Và Thực Quản Tại Trung Tâm Y Học Hạt Nhân Và Ung Bướu

Liệu Pháp Nhắm Trúng Đích Cho Bệnh Ung Thư Gan

Chi Phí Điều Trị Bệnh Gan Chuẩn Xác Nhất Hiện Nay ?

Bệnh Học Ung Thư Vòm Họng

Các Dấu Hiệu Phát Hiện Ung Thư Vòm Họng Sớm Nhất

Tầm Soát Ung Thư Vòm Họng Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vòm Họng

Cách Phát Hiện Bệnh Ung Thư Vòm Họng

‘thần Dược’ Chữa Ung Thư Vòm Họng

Hà Tĩnh: Bài Thuốc Đặc Biệt Của “thần Y” Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Vòm Họng

Bệnh ung thư vòm họng (NPC – Nasopharyngeal Carcinoma) ở nước ta có tỷ lệ cao, đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư đầu cổ, đứng hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư nói chung. Nhưng các triệu chứng lại không điển hình hầu hết là các triệu chứng “mượn” của các cơ quan lân cận như: tai, mũi, thần kinh, hạch…do đó việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn. Cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời để cứu sống bệnh nhân.

Giải phẫu vòm họng

Cấu tạo giải phẫu: vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu trúc là một hình hộp có sáu mặt.

Mặt trước là cửa mũi sau.

Hai bên là loa vòi nhĩ cách đuôi cuốn mũi dưới khoảng 1 cm, xung quanh loa vòi có tổ chức bạch huyết gọi là amiđan Gerlach. Phía trên gờ vòi nhĩ hai bên có hố Rosenmuler.

Mặt trên là bờ dưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm. Ở mặt này tổ chức bạch huyết tập trung thành đám gọi là amiđan Luschka. Khi tổ chức này quá phát được gọi là viêm V.A.

Mặt dưới thông với họng miệng.

Mạch máu nuôi dưỡng: là động mạch bướm khẩu cái, xuất phát từ động mạch hàm trong (là 1 trong 2 ngành cùng của động mạch cảnh ngoài).

Tổ chức học: phần trên được cấu tạo bởi biểu mô trụ đơn có lông chuyển thuộc niêm mạc đường hô hấp. Phía dưới là lớp biểu mô lát tầng thuộc niêm mạc đường tiêu hoá.

Lịch sử nghiên cứu về ung thư vòm họng

Trong nghiên cứu các xác ướp ở Ai Cập, Elliot Smith đã phát hiện được hai sọ người có tổn thương ở nền sọ như thương tổn của bệnh ung thư vòm họng.

Theo Fardel năm 1837 ở châu Âu đã có những bệnh án đầu tiên của bệnh nhân có bệnh cảnh giống ung thư vòm họng.

Tại Việt Nam cố giáo sư Trần Hữu Tước đã nghiên cứu trên 612 bệnh nhân ung thư vòm họng tại Bệnh viện Bạch Mai (1955 – 1964).

Dịch tễ học

Thế giới: ung thư vòm mũi họng xuất hiện nhiều ở Trung Quốc, Châu Phi và một số nước Đông nam Á, rất hiếm gặp ở Châu Âu, Châu Mỹ. Đặc biệt là vùng Quảng Đông (Trung Quốc) gặp nhiều với tỷ lệ: 30-45 bệnh nhân/100.000 dân/năm. Người ta còn gọi ung thư vòm họng là “U Quảng Đông”.

Việt Nam: vẫn chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác. Nhưng theo thống kê của Bệnh viện K-Hà Nội (1998) thì ung thư vòm họng đứng hàng thứ 4, 5 sau ung thư phổi, tử cung buồng trứng, vú, ung thư gan và là bệnh đứng đầu trong các ung thư vùng đầu, cổ với tỷ lệ: 9-11 bệnh nhân/100.000 dân/năm.

Giới tính hay gặp ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ: 2-3/1.

Tuổi: bệnh thường xuất hiện từ 20 tới 65 tuổi, sau 65 tuổi tỷ lệ bệnh giảm dần.

Yếu tố môi trường: bao gồm điều kiện vi khí hậu, bụi khói, tình trạng ô nhiễm và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc… do những thứ này chứa Nitrosamine chất gây ung thư).

Yếu tố gen di truyền: gần đây có một số tác giả cho rằng những người cùng huyết thống có khả năng cùng mắc bệnh ung thư vòm họng. Ngành di truyền học đã tìm thấy khoảng 30 gen ung thư nội sinh. Những gen này bình thường ở trạng thái tự động đóng lại và nằm im nhưng nếu có một cơ chế cảm ứng nào đó, gen ung thư sẽ thức dậy và gây nên hiện tượng phát triển vô tổ chức tạo ra ung thư.

Tuy nhiên nhiều tác giả cho rằng căn nguyên của ung thư vòm họng không phải là đơn độc mà do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên. Vì vậy công tác phòng chống ung thư vòm họng phải làm ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác nhau mới mang lại kết quả.

Mô bệnh học

Theo phân loại của (WHO – 1978):

Hay gặp nhất là ung thư biểu mô không biệt hoá (UCNT-Undifferenciated carcinoma nasopharynngeal type) chiếm 75% – 85%.

Loại ung thư biểu mô biệt hoá (CS-Carcinoma spinocellulaire) chiếm 10% – 15%.

Ung thư liên kết (Sarcoma) hiếm gặp khoảng: 5%.

Hạch cổ khi sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý: đồng nhất với kết quả giải phẫu bệnh lý của vòm họng (nguyên phát).

Giai đoạn đầu

Các triệu chứng âm thầm nên rất khó phát hiện. Đau đầu là triệu chứng sớm, thường đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ. Dùng các thuốc giảm đau ít có tác dụng.

Giai đoạn khu trú

Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng thần kinh: hay gặp nhất là đau đầu, đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt, vùng thái dương và xuất hiện tổn thương các dây thần kinh sọ não trong trường hợp bệnh nhân đến muộn như: có cảm giác tê bì ở miệng và vùng mặt cùng với bên đau đầu do dây thần kinh tam thoa bị chèn ép.

Triệu chứng mũi xoang: ngạt mũi một bên, cùng với bên đau đầu, lúc đầu ngạt không thường xuyên sau ngạt liên tục. Hay gặp nhất là chảy mũi nhầy, có thể chảy mũi mủ do viêm xoang phối hợp, thỉnh thoảng có xì ra nhầy lẫn máu.

Triệu chứng tai (khối u xuất phát từ thành bên họng mũi, loa vòi): có cảm giác tức như bị nút ráy tai cùng bên với đau đầu. Ù tai, nghe kém thể dẫn truyền đơn thuần (do bị tắc vòi Eustachi). Có thể gặp viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm.

Triệu chứng hạch cổ và hạch dưới hàm: phần lớn bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch cổ, thường hạch cổ cùng bên với khối u. Dễ chẩn đoán nhầm là ung thư hạch tiên phát. Hạch điển hình hay nhìn thấy ở sau góc hàm, dãy hạch cảnh trên, hạch lúc đầu nhỏ sau to dần, hạch cứng, ấn không đau, không có viêm quanh hạch, di động hạn chế dần. Sau cố định dính vào cơ, da.

Triệu chứng thực thể

Soi mũi trước không có gì đặc biệt.

Soi mũi sau có thể thấy khối u sùi hoặc thâm nhiễm ở nóc vòm hay thành bên vòm, ở gờ loa vòi Eustachi.

Sờ vòm bằng tay hay thăm bằng que bông có rớm máu.

Giai đoạn lan tràn

Triệu chứng toàn thân: thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu rơm, hay bị sốt do bội nhiễm.

Triệu chứng cơ năng và thực thể: tùy theo hướng lan của khối u sẽ xuất hiện các triệu chứng khác nhau.

Lan ra phía trước

Thường gặp khối u ở nóc vòm, cửa mũi sau.

U lan vào hốc mũi gây nên ngạt tắc mũi. Lúc đầu ngạt một bên về sau khối u phát triển lấp kín cửa mũi sau gây ngạt tắc hai bên mũi, nói giọng mũi. Chảy mũi mủ có mùi hôi rõ, thường lẫn tia máu, có khi chảy máu cam.

Khám mũi: thấy khối u sùi, ở sâu sát cửa mũi sau, thường có loét hoại tử, dễ chảy máu.

Lan ra hai bên: khối u ở loa vòi, lan theo vòi Eustachi ra tai giữa.

Ù tai, nghe kém một bên rõ rệt.

Đau trong tai lan ra vùng xương chũm.

Chảy mủ tai lẫn máu, có mùi thối, có khi lẫn mảnh tổ chức hoại tử.

Soi tai: màng nhĩ thủng, có u sùi, hoại tử, dễ chảy máu, u có thể qua hòm nhĩ và lan ra ống tai ngoài.

Lan xuống dưới

U lan xuống dưới đẩy phồng màn hầu là ảnh hưởng đến giọng nói (giọng mũi hở), nuốt hay bị sặc.

U có thể tới miệng, thường ở sau trụ sau của amiđan.

Có thể gặp hội chứng Trotter: điếc, khít hàm, liệt màn hầu.

Lan lên trên

Ung thư lan lên nền sọ gây các hội chứng nội sọ như: tăng áp lực nội sọ và các hội chứng thần kinh khu trú:

Hội chứng khe bướm: liệt các dây thần kinh III, VI và nhánh mắt của dây V gây liệt các cơ vận nhãn, đau nhức vùng trán và ổ mắt.

Hội chứng mỏm đá: liệt các dây thần kinh V, VI gây lác trong, khít hàm, tê bì nửa mặt.

Hội chứng đá-bướm hay hội chứng Zacod: liệt các dây thần kinh II, III, IV,V, VI gây mù mắt, liệt toàn bộ nhãn cầu, liệt cơ nhai, gây tê bì nửa mặt.

Hội chứng lỗ rách sau hay hội chứng Vernet: liệt các dây thần kinh IX, X, XI gây liệt họng, liệt màn hầu, có dấu hiệu vén màn hầu, giọng nói đôi, liệt cơ ức đòn chũm, cơ thang.

Hội chứng lồi cầu-lỗ rách sau hay hội chứng Collet-Sicard: liệt các dây thần kinh IX, X, XI, XII và liệt lưỡi.

Hội chứng Garcin: toàn bộ 12 đôi dây thần kinh sọ não một bên bị liệt.

Chẩn đoán

Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.

Sinh thiết khối u

Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, là yếu tố chẩn đoán xác định.

Chẩn đoán tế bào học

Có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).

Chẩn đoán huyết thanh

Chẩn đoán X- quang

Tư thế Hirtz.

C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.

Chẩn đoán phóng xạ

Có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.

Chẩn đoán giai đoạn

Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union internationale contre le cancer) – 1987 xếp loại giai đoạn UTVH.

Phân loại T.N.M. T (Tumor): khối u nguyên phát:

Tx: không rõ khối u.

Tis: (insitu) khối u nhỏ khu trú dưới niêm mạc.

To: không có u (soi vòm chưa thấy khối u).

T1: khối u khu trú ở 1 vị trí giải phẫu.

T2: khối u đã lan ra 2 vị trí khác.

T3: khối u lan vào hốc mũi, xuống dưới màn hầu.

T4: khối u đã phá huỷ xương nền sọ hoặc gây tổn tương các dây thần kinh sọ não.

N (Node): hạch cổ:

No: không sờ thấy hạch cổ.

N1: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 3 cm.

N2: hạch cổ phân làm 3 mức.

N2a: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT: 3 – 6 cm.

N2b: nhiều hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 6 cm.

N2c: hạch cổ 2 bên hoặc đối bên, di động, KT< 6 cm.

M (Metastasis): di căn xa:

Mo: chưa xuất hiện di căn xa.

M1: đã xuất hiện di căn xa (căn cứ vào X-quang và siêu âm để chẩn đoán).

Phân loại giai đoạn lâm sàng

Giai đoạn I: T1NoMo.

Giai đoạn II: T2NoMo.

Giai đoạn III: T3NoMo, T1-3N1Mo.

Giai đoạn IV: T4No-1Mo, N2-3Mo và các T.

M1 (các T và các N).

Chẩn đoán phân biệt

U xơ vòm mũi họng.

Polyp mũi sau.

Tồn dư tổ chức V.A.

Diễn biến và tiên lượng

Giai đoạn đầu

Khu trú, tiến triển chậm, ít ảnh hưởng tới toàn thân, thường kéo dài 1- 2 năm nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời đúng phác đồ có thể khỏi bệnh.

Giai đoạn lan tràn

Ảnh hưởng tới toàn thân rõ, tiến triển nhanh thường tử vong do khối u lan lên nền sọ, do di căn tới các phủ tạng như phổi, gan, xương.

Do khối u nằm trong hốc sâu, gần nền sọ, nên điều trị khó khăn, kết quả bị hạn chế, tiên lượng xấu.

Co60 là biện pháp điều trị chủ yếu và cho kết quả khả quan nếu bệnh nhân đến sớm, nhất là đối với thể ung thư biểu mô không biệt hoá.

U nguyên phát được tia vào vùng cổ bên, với liều 65-70Gy trong vòng từ 6 đến 7 tuần.

Các hạch cổ hoặc dưới hàm được tia với liều 50Gy trong thời gian 6 đến 7 tuần.

Cắm kim vào u và hạch trong trường hợp xạ ngoài đã đủ liều nhưng khối u chưa hết.

Phẫu thuật

Phẫu thuật nạo vét hạch cổ trước hoặc sau xạ trị.

Hoá trị liệu

Chỉ áp dụng với thể ung thư biểu mô không biệt hoá hoặc hạch cổ đã lan rộng và có di căn xa.

Miễn dịch trị liệu

Tác dụng tăng sức đề kháng và hỗ trợ trong xạ trị.

Phòng bệnh ung thư vòm mũi họng

Hiện nay người ta cho rằng: 70 % nguyên nhân ung thư do yếu tố ngoại lai, còn 30% do yếu tố nội tại và do yếu tố di truyền cho nên: phải có chế độ ăn hợp lý, giảm mỡ động vật, ít ăn thịt thay bằng rau hoa quả có nhiều Vitamin C, E.

Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng

Ung Thư Vòm Họng Di Căn Hạch

【Tìm Hiểu】Hpv Và Ung Thư Vòm Họng

Điều Trị Ung Thư Vòm Họng Giai Đoạn Đầu Bằng Phương Pháp Nào Để Đạt Hiệu Quả?

Biểu Hiện Của Ung Thư Vòm Họng Cảnh Báo Bệnh Đã Ở Giai Đoạn Cuối

Bệnh Học Ngoại Ung Thư Thận

Đau Nhẹ Vùng Hông Và Lưng Là Những Dấu Hiệu Của Bệnh Ung Thư Thận

5 Dấu Hiệu Ung Thư Thận Giúp Bạn Phát Hiện Bệnh Sớm

Bệnh Ung Thư Thận Có Dấu Hiệu Gì Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe Cần Chú Ý?

4 Dấu Hiệu Tố Trẻ Nhỏ Mắc Bệnh Ung Thư Thận Tại Việt Nam

Những Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Thận Này Ra Sao?

Ung thư thận là loại u ác tính nguyên phát trong nhu mô thận. Việc chẩn đoán sớm có một ý nghĩa trong điều trị.

Ung thư thận chiếm 90% các loại u ác tính nguyên phát ở thận. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn trên 40 tuổi, với tỉ lệ nam gấp 2 lần so với nữ giới. Ung thư thận chiếm 1-2% toàn bộ các loại ung thư ở người lớn.

Ung thư thận có thể ở thể rải rác và ở thể di truyền. Ung thu thận có thể xuất hiện trên nhiều người trong gia đình và yếu tố di truyền cũng được đề cập đến (khuyết đoạn nhiễm sắc thể 3, chuyển vị của các nhiễm sắc thể 3 – 8).

Nhiều bệnh nhân có hội chứng thần kinh da, như hội chứng Von Hippel Lindau, hoặc bệnh xơ cứng não củ Bourneville có thể có ung thư thận. Những bệnh nhân suy thận được chạy thận nhân tạo nhiều năm có thể có nang thận kèm theo ung thư thận.

Nguyên nhân bệnh sinh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên một vài yếu tố được cho là có tác động đến sự xuất hiện ung thư thận.

Hút thuốc lá được nhiều tác giả đề cập đến, khoảng 30% nam giới và khoảng 24% nữ giới hút thuốc là bị ung thư thận.

Những bệnh nhân dùng nhiều thuốc lợi tiểu có tỉ lệ ung thư thận tăng gấp 3 lần người bình thường, hoặc dùng nhiều thuốc giảm đau chứa phenacetin dường như cũng làm tăng nguy cơ hình thành ung thư thận. Béo phì dường như cũng có mối liên hệ với ung thư thận.

Giải phẫu bệnh

Phần lớn u xuất phát từ vùng vỏ thận. Thông thường, u hình cầu có bao giả chèn ép vào vùng tuỷ. Màu sắc thay đổi từ xám trắng đến màu vàng tuỳ vào loại tế bào. Phần lớn u đồng chất với lốm đốm có vùng hoại tử và chảy máu, có chỗ vôi hóa, xơ và tạo thành nang. Có nhiều mạch máu đến nuôi dưỡng.

Ung thư thận thường là ung thư biểu mô tuyến và bao gồm nhiều loại tế bào khác nhau. Tế bào sáng chiếm khoảng 75%, các tế bào này hình tròn, nhân nhỏ, bào tương chứa nhiều glycogen và lipit. Tế bào hạt ít gặp hơn, chứa nhiều hạt trong bào tương, nhân lớn hơn nhân của tế bào sáng.

Ngoài ra có tế bào còn ở dạng tế bào nhỏ và tế bào dạng sarcom, các tế bào này có thể có dạng hình thoi, giống các nguyên bào sợi, có nhân biến dạng và nhiều gián phân.

Các loại ung thư khác ít gặp

Nephroblastom

Còn được gọi là u Wilms, thường gặp ở trẻ em 3 – 4 tuổi. Xuất phát từ các phần còn lại của mô phôi. Các tế bào ung thư được tạo thành bởi sự hỗn hợp các tế bào biểu mô, tế bào trung mô và tế bào mầm.

Sarcom

Hiếm gặp hơn. Ung thư xuất phát từ các phần tử trung mô của vỏ và xoang thận và bao gồm các loại sarcom cơ trơn, sarcom mỡ, u mạch tế bào quanh mao mạch (hemangiopericitom)

Các loại khác

Ung thư nang tuyến nhú, các u tế bào lớn Hamperl và các u hỗn hợp lại càng ít gặp.

Ung thư thận lúc đầu còn khu trú trong thận, vì vậy lúc giải phẫu tử thi có thể phát hiện nhiều trường hợp chưa có di căn. Bell (1950) cho rằng các u tế bào thận dưới 3cm là u tuyến lành tính. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều u thận dưới 3 cm mà đã có di căn rồi ( Smith 1989).

Khối ung thư to dần, phá vỡ bao thận và lan ra ngoài tới lớp mỡ quanh thận, xâm lấn các tạng gần như đại tràng, gan.

Ung thư thận di căn theo các đường bạch huyết và tĩnh mạch. Theo đường bạch huyết, ung thư thận di căn vào các hạch thắt lưng động mạch chủ rồi đến các hạch sau phúc mạc, bụng, trung thất, có khi u lên hạch thượng đòn, nách, cổ. Theo đường tĩnh mạch u di căn vào tĩnh mạch chủ rồi đến các hạch sau phúc mạc bụng, trung thất và xa hơn vào các tạng xa như phổi, gan, xương, thượng thận, thận bên kia, não…

Phân loại ung thư thận theo TNM

Tx không xác định được u nguyên phát.

T0 Không có bằng chứng u.

T1 U có kích thước < 7cm, khu trú trong thận.

T3 U lan ra đến tĩnh mạch lớn hoặc thâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc tổ chức mỡ quanh thận, nhưng chưa lan ra khỏi cân Gerota.

T3a U xâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc bao mỡ quanh thận, nhưng chưa xâm lấn cân Gérota.

T3b U xâm lấn vào tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ dưới cơ hoành.

T3c U xâm lấn vào tĩnh mạch chủ trên cơ hoành.

T4 U xâm lấm ra ngoài cân Gerota.

Hạch lympho vùng là những hạch ở rốn thận, quanh động mạch và tĩnh mạch chủ bụng. Việc xâm lấn phía đối diện không ảnh hưởng đến tiêu chuẩn phân loại của N.

Nx không xác định được hạch di căn.

N0 Không có hạch di căn.

N1 Di căn 1 hạch vùng.

N2 Di căn nhiều hơn 1 hạch vùng.

Mx không xác định được di căn xa.

M0 Không có di căn xa.

Chẩn đoán xác định dựa vào

Lâm sàng

Là triệu chứng thường gặp (80% trường hợp). Đái máu đại thể, toàn bãi, không đau, không sốt. Đái máu một cách bất ngờ, bỗng nhiên dừng lại để rồi tái phát không có nguyên nhân. Trong trường hợp đái máu nhiều, có máu cục, cũng có thể có cơn đau quặn thận..

Đau thắt lưng:

Đau âm ỉ, lan ra trước hay xuống dưới do u phát triển to ra làm căng bao thận hoặc có thể có cơn đau quặn thận do máu cục di chuyển xuống bàng quang.

Khối u vùng thắt lưng:

Dễ sờ thấy nếu bệnh nhân đến khám muộn. Thăm khám phải nhẹ nhàng để tránh gây di căn ung thư. Nhiều khi khám thấy một khối u rắn chắc bờ đều hay gồ ghề, di động nhiều hay ít.

Đái máu, đau thắt lưng và khối u vùng thắt lưng được xem là 3 triệu chứng kinh điển của ung thư thận, tuy nhiên một số bệnh nhân lại có biểu hiện bởi sự kết hợp các hội chứng và các triệu chứng.

Các triệu chứng khác:

Nếu thăm khám kỹ, có thể phát hiện giãn tĩnh mạch thừng tinh cùng bên có bệnh lý.

Chảy máu sau phúc mạc có thể gặp, kèm theo đau dữ dội, sốt và các triệu chứng chảy máu trong, khi ung thư đột ngột vỡ ra khỏi bao.

Hội chứng cận ung thư: Thường xuất hiện bên cạnh các triệu chứng tiết niệu kể trên.

Sốt 39 – 40 0 C trong nhiều tháng, sức khoẻ giảm sút. Hoại tử trong thận hay các chất sinh nhiệt của ung thư thận có thể là nguyên nhân sốt của ung thư.

Tình trạng toàn thân giảm sút nhanh chóng, chán ăn, suy nhược, thiếu máu, sốt nhẹ, tốc độ huyết trầm tăng.

Đa hồng cầu, kèm theo đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt, ngứa tê các chi, rối loạn thị giác.

Gan to, nhẵn, không đau, kèm theo phosphatase kiềm tăng, tỉ prothrobin giảm, albumin máu giảm (hội chứng Stauffer).

Nồng độ calci máu tăng do ung thư tiết chất giống hormon tuyến cận giáp, hoặc di căn vào xương gây kích thích các huỷ cốt bào hoạt động.

Tăng huyết áp do u tiết nhiều renin hay do chèn ép động mạch thận.

Nếu các hội chứng cận ung thư không giảm đi sau cắt thận, có thể tiên đoán tiên lượng xấu.

Triệu chứng do di căn đến các cơ quan khác:

Trong trường hợp di căn của ung thư vào phổi, xương, gan và các tạng khác, bệnh nhân có thể đến khám với các triệu chứng của các cơ quan này.

Hoặc ngược lại ung thư được phát hiện một cách tình cờ, khi chưa có dấu hiệu lâm sàng, nhân khi chụp niệu đồ tĩnh mạch, siêu âm, chụp CT Sacnner, chụp phổi… Các trường hợp này ngày càng nhiều nhờ sự phổ cập của các phương tiện ghi hình, đặc biệt siêu âm từ những năm 80.

Cần chú ý phát hiện bệnh trong thể bệnh gia đình hay khi gặp các hội chứng thần kinh da.

Cận lâm sàng

Các xét nghiệm cận lâm sàng có mục đích giúp cho chẩn đoán xác định,

đánh giá sự xâm lấn của ung thư và theo dõi sau mổ để phát hiện di căn hoặc tái phát tại chỗ

Xét nghiệm máu:

Các xét nghiệm sinh hoá như công thức máu, xét nghiệm tốc độ lắng máu, calci máu, chức năng gan, các rối loạn nội tiết cho phép phát hiện các dấu hiệu trong các “hội chứng cận ung thư”

Chẩn đoán hình ảnh:

Đây là một phương pháp dễ sử dụng, không nguy hiểm, khả năng phát hiện rất tốt, ngay cả những u nhỏ chưa có biểu hiện lâm sàng và hiện nay được phát triển tương đối đều khắp. Siêu âm cho phép chẩn đoán các ung thư đặc của thận và các di căn vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ, các hạch ở cuống thận. Thông thường ung thư thận là một khối đặc, không đồng nhất, bờ không đều, âm vang khác với âm vang của thận bình thường. Chú ý là các u nhỏ thường kém âm vang.

Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị cho thấy bóng thận không đều, to hơn bình thường, có thể kèm theo hình ảnh vôi hoá trong thận hay ở rìa thận.

Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): Trong các phim chụp sớm, có thể thấy một khối u vượt ra khỏi bờ ngoài của thận. Ở các phim sau, thấy ngay ở vùng đầy một hình khuyết. ở các phim chụp khác tiếp theo, có thể thấy các hình chèn ép, kéo dài, cắt cụt, đẩy chệch hướng các đài bể thận. U ở cực dưới thận còn đẩy lùi vào trong phần trên của niệu quản. Ngoài ra phương pháp này còn cho thấy chức năng thận bên kia. Trên thực tế, cần kết hợp với siêu âm để khỏi bỏ sót những khối u nhỏ < 2 hay 3cm.

Trong một số trường hợp ngược lại ung thư thận quá lớn, hủy hoại gần hết nhu mô thận hay làm tắc tĩnh mạch thận, hoặc máu cục chèn ép các đài bể thận. Vì vậy thận không ngấm thuốc cản quang.

Chụp động mạch: Trước đây chụp động mạch là một phương pháp để chẩn đoán quan trọng đối với các u thận. Phương pháp này cho phép thấy được một khối được sự tưới máu rất mạnh, hình ảnh hỗn loạn của hệ động mạch cùng các hồ máu, thời gian máu quay về tĩnh mạch nhanh, hình ảnh vô mạch do hoại tử . Một số ung thư thận lại ít được tưới máu (10% các ung thư thận). Chụp động mạch thận còn giúp làm tắc động mạch thận để tiến hành phẫu thuật thuận lợi.

Phương pháp chụp động mạch còn có giá trị rất lớn khi cần phát hiện những u nhỏ gây chảy máu tái phát. Chụp động mạch thận còn giúp cho việc hướng dẫn cắt thận bán phần trong trường hợp ung thư thận trên thận duy nhất. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này dần dần được thay thế bởi chụp tỉ trọng cắt lớp.

Chụp CT Scanner: Cho phép xác định tính chất của u và đánh giá sự xâm lấn của u. Trước hết nên chụp mà không bơm thuốc để phát hiện những hình ảnh vôi hoá, sau đó chụp với thuốc để phát hiện u.

Ung thư thận thường được thể hiện như một khối đầy, không đồng nhất, tỷ trọng ngang hoặc kém so với nhu mô thận. Sau khi tiêm thuốc u nổi rõ lên một thoáng rồi trở nêm kém tỉ trọng so với nhu mô thận. Các vùng hoại tử càng kém tỉ trọng.

Cộng hưởng từ hạt nhân: Giúp cho việc phân biệt một khối u nang và một khối u đặc, phát hiện các mầm ung thư trong hệ tĩnh mạch và giúp cho việc đánh giá sự xâm lấn của ung thư.

Các xét nghiệm khác: Trong trường hợp nghi ngờ ung thư di căn xa vào các tạng khác, cần phải làm một số các xét nghiệm khác:

Chụp phổi thẳng nghiêng:

Chụp nhấp nháy hệ thống xương với methylendiphosphonat (MDP 99mTC).

Chẩn đoán phân biệt

Các nang thận không điển hình

Nang đặc chứa máu, các chất dịch…được chẩn đoán nhờ siêu âm, tỷ trọng cắt lớp và có khi chỉ cần chọc hút.

U nang có ngăn: Phân biệt giữa nang thường với u nang ung thư có ngăn dày và u nang bào sáng.

U nang vôi hoá: 2-5% các u nang có thể vôi hoá, nhưng chỉ ở phần ngoại vi và có dịch lỏng bên trong. Cần chọc hút dưới siêu âm.

U nang bờ không đều được chẩn đoán bằng siêu âm và chụp tỉ trọng cắt lớp.

Các u thận ác tính và lành tính

U cơ mỡ thận có những vùng mờ nhạt do mỡ trong u.

Cần đặc biệt chú ý các thể xâm lấn của các u đường tiết niệu trên.

Các khối viêm

Như áp xe, viêm thận bể thận, u thận hạt vàng, hoặc bệnh viêm thận màng trắng.

Các u tạng gần

Thượng thận…

Nguyên tắc điều trị

Phương pháp được chọn lựa là phẫu thuật cắt thận kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, kèm lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch. Đây là phương pháp kinh điển.

Cắt bỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều.

Những di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.

Cắt thận một phần: Trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.

Làm tắc nghẽn mạch động mạch thận: Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.

Tia xạ: Áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương,

Hoá chất trị liệu: Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao.

Miễn dịch trị liệu: Nhiều tác giả hiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả khá tốt.

Hormon trị liệu: Một số tác giả sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.

Các phương pháp điều trị

Cắt thận toàn bộ

Chỉ định

Đây là phương pháp được chọn lựa hàng đầu trong điều trị ung thư thận nhằm mục đích chữa khỏi cho bệnh nhân nếu giai đoạn sớm hoặc nhằm mục đích điều trị triệu chứng (đau, đái máu) ở giai đoạn muộn. Ngay cả ung thư thận đã có di căn (hạch, gan, não) cắt thận toàn bộ vẫn có chỉ định nhằm mục đích làm chậm quá trình phát triển của khối di căn, kéo dài đời sống của bệnh nhân.

Nguyên tắc

Phẫu thuật bao gồm cắt thận toàn bộ kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch.

Đây là phương pháp kinh điển. Đường mổ phải đủ rộng để có thể tiếp cận cuống mạch được dễ dàng và lấy hết được toàn bộ khối u và tổ chức mỡ quanh thận cũng như mạc thận. Đường mổ hay được sử dụng là đường dưới sườn xuyên phúc mạc.

Cắt thận không điển hình

Cắt bỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều hoặc gây đau.

Những di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.

Cắt thận một phần: Trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.

Làm nghẽn mạch động mạch thận

Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.

Chỉ là phương pháp điều trị tạm thời, áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương, nhằm mục đích giảm đau.

Hoá chất trị liệu

Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao và cũng chỉ áp dụng điều trị tạm thời.

Miễn dịch trị liệu

Nhiều tác giả hiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng giá thuốc còn rất đắt.

Hormon trị liệu

Một số tác giả sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.

Bệnh Ung Thư Thận Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Ung Thư Thận

U Nguyên Bào Thận (U Wilms)

Các Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Thận

U Nguyên Bào Thận (U Wilms): Ung Thư Thận Ảnh Hưởng Tới Trẻ Em

Ung Thư Thận Sống Được Bao Lâu

🌟 Home
🌟 Top