Top 4 # Ung Thư Vùng Bụng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Hướng Dẫn Chăm Sóc Cho Bệnh Nhân Ung Thư Vùng Đầu Cổ Và Vùng Bụng

(HNM) – Đầu cổ là vùng có nhiều cơ quan quan trọng, là ngã tư của đường ăn và đường thở, là cửa ngõ đi vào cơ thể nên phải hứng chịu nhiều loại bệnh, từ những bệnh viêm nhiễm cho đến các khối u lành tính hay ác tính.

Những bệnh nhân bị ung thư vùng đầu cổ ăn uống rất khó khăn và dễ dẫn đến tình trạng suy kiệt. Ung thư vùng bụng cũng gặp tình trạng tương tự. Tuy nhiên, rất may là hiện Việt Nam đã có sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt mà những bệnh nhân ung thư này có thể sử dụng bổ sung trong suốt quá trình điều trị góp phần mang lại hiệu quả điều trị cao.

Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ và vùng bụng

Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh ung thư, giúp bệnh nhân ung thư duy trì và nâng cao thể trạng nhằm đáp ứng các biện pháp điều trị đặc hiệu tốt hơn. Trên thực tế là chỉ cần sụt 5% cân nặng đã làm cho thời gian sống của bệnh nhân ngắn đi rất nhiều. 30% bệnh nhân ung thư tử vong do suy kiệt vì suy dinh dưỡng là một con số rất đáng quan tâm. Chính vì vậy, cần có sự kết hợp “song song” giữa điều trị đặc hiệu và nâng cao thể trạng cho bệnh nhân ung thư. Đặc biệt là với những bệnh nhân bị ung thư vùng đầu cổ và ung thư vùng bụng. Chế độ chằm sóc dinh dưỡng đặc biệt cần được quan tâm ngay từ khi người bệnh đươc chẩn đoán ung thư.

Theo các Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu, đối với ung thư đầu cổ, quá trình xạ trị sẽ làm bệnh nhân bị viêm niêm mạc, giảm tiết nước bọt nên dẫn đến mất vị giác, nuốt khó, chán ăn, sợ ăn rồi dần dần sẽ bị gầy mòn, suy kiệt. Xạ trị trong ung thư thực quản sẽ gây hiện tượng rát bỏng thực quản và cũng làm bệnh nhân ăn uống rất khó khăn. Xạ trị ở vùng lồng ngực cũng gây nhiều tác dụng phụ cản trở tình trạng ăn uống, dinh dưỡng của bệnh nhân. Còn xạ trị ở vùng bụng chậu sẽ gây nhiều ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa đi kèm với cảm giác buồn nôn, dẫn đến nôn. Nhìn chung, bên cạnh việc tiêu diệt tế bào ác tính, các liệu pháp điều trị đặc hiệu đều kèm theo ít nhiều tác dụng phụ và góp phần dẫn đến hiện tượng suy kiệt, hao mòn sức khỏe ở bệnh nhân ung thư. Vì vậy vấn đề dinh dưỡng trong điều trị bệnh ung thư là vô cùng quan trọng và cần được quan tâm đúng mức.

Lời khuyên về dinh dưỡng đối với các bệnh nhân chuẩn bị bước vào đợt điều trị xạ trị để tránh tình trạng suy kiệt là nên ăn nhiều các loại rau xanh, củ quả tươi (cà chua, cà rốt, khoai tây), các loại nấm có chứa lycopene – một chất chống ôxy hóa góp phần loại bỏ độc tố trong cơ thể và làm chậm quá trình chuyển biến của tế bào lành tính thành ác tính, nên ăn nhiều cá hơn thịt.

Trong và sau khi điều trị thì nên duy trì việc tiêu thụ nhiều rau xanh. Tuy nhiên tùy theo phương thức điều trị mà có chế độ ăn uống phù hợp với từng loại bệnh ung thư. Chẳng hạn đối với bệnh ung thư đầu cổ, nên cho bệnh nhân ăn lỏng vì cảm giác nuốt lúc này rất khó khăn. Thức ăn lỏng ở đây có thể là cháo, súp với rau thịt được xay nhuyễn, nước trái cây nghiền hay ép. Sau đợt điều trị có thể cho bệnh nhân ăn đặc dần. Cũng cần lưu ý phải tránh tất cả các loại thức ăn cay, nóng, chua, đặc biệt bia rượu và thuốc lá.

Sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt được sử dụng trước, trong và sau điều trị

Ngoài ra, cũng theo giới chuyên môn, do đặc thù của bệnh ung thư, nhất là ung thư vùng đầu cổ và vùng bụng nhiều kết quả nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy nếu chỉ hỗ trợ dinh dưỡng thông thường là không đủ để giúp cơ thể chống lại sự tấn công của tình trạng suy kiệt. Việc hỗ trợ nuôi dưỡng bằng dinh dưỡng chuyên biệt dành cho bệnh nhân ung thư như chế phẩm mới ProSure, có bổ sung EPA (axit eicosapentaenoic), giàu năng lượng và protein cao là rất hiệu quả trong việc duy trì hoặc phục hồi chất lượng sống bằng cách tăng cường sức mạnh và nâng đỡ hoạt động thể chất.

Các đặc tính kháng viêm và xây dựng khối cơ của chế phẩm dinh dưỡng chuyên biệt có bổ sung EPA, năng lượng cao và giàu protein này rõ ràng mang lại lợi ích cho bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật do ung thư thực quản bằng cách làm giảm các phản ứng viêm và giảm tình trạng mất đi khối cơ. Do đó giúp bệnh nhân tăng cường hoạt động thể lực và nâng cao chất lượng cuộc sống. Sử dụng sớm ProSure ngay từ đầu của liệu trình điều trị đặc hiệu thì hiệu quả càng cao.

Ngoài ra, ProSure còn cung cấp chất xơ hòa tan, giúp cải thiện việc tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Hàm lượng chất béo thấp giúp giảm cảm giác đầy bụng, chóng no của bệnh nhân và vị ngọt phù hợp cho bệnh nhân ung thư. Bên cạnh đó, ProSure còn giúp bệnh nhân ung thư bù đắp việc thiếu hụt vitamin và khoáng chất qua các thành phần đa dạng vitamin và khoáng chất có sẵn trong ProSure. Sản phẩm này đã được các nghiên cứu khoa học chứng minh giúp bệnh nhân ung thư tăng thể trọng, xây dựng khối cơ, tăng cường sức khỏe và hoạt động thể lực, nâng cao chất lượng cuộc sống.

(Phước Đạt)

Đau Dai Dẳng Vùng Bụng Và Xương Chậu

Đau dai dẳng vùng bụng và xương chậu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có ung thư buồng trứng. Nhận biết được những bất thường, chủ động thăm khám định kì là cách chị em có thể phòng và phát hiện được sớm căn bệnh ác tính này.

Đau dai dai dẳng vùng bụng và xương chậu – coi trừng!

Hầu hết ai cũng có thể đã trải qua cảm giác đau vùng bụng và xương chậu với mức độ khác nhau và nhanh chóng biến mất. Tuy nhiên, đau thường xuyên dai dẳng với mức độ ngày càng tăng dần thì bạn hãy coi chừng bởi đó có thể là dấu hiệu cảnh báo bất thường trong cơ thể, không ngoại trừ ung thư.

Đau bụng do ung thư buồng trứng xuất phát từ sự phát triển khối u tác động đến các cơ quan, bộ phận khác xung quanh vùng có khối u, trong đó có vùng bụng và gây đau. Đau bụng, đau xương chậu gần như chỉ gặp ở giai đoạn ung thư tiến triển.

Các triệu chứng ung thư buồng trứng

Ngoài biểu hiện đau dai dẳng vùng bụng và xương chậu, bệnh nhân còn có những biểu hiện khác kèm theo.

Biểu hiện khác của ung thư buồng trứng

Đầy hơi, khó tiêu: đây là một trong những triệu chứng cảnh báo ung thư buồng trứng dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý đường tiêu hóa thông thường. Nguyên nhân là do các khối u phát triển chèn ép vùng bụng.

Chán ăn, cảm giác nhanh no là hậu quả tất yếu của tình trạng đầy hơi, khó tiêu của người bệnh.

Táo bón: có thể là biểu hiện ung thư buồng trứng khi ung thư phát triển tạo áp lực lên ruột và dạ dày

Đi tiểu thường xuyên: có thể là dấu hiệu cảnh báo khối u buồng trứng đã bắt đầu tác động đến bàng quang.

Chu kì kinh nguyệt bất thường là một trong những biểu hiện thường gặp với bệnh nhân ung thư phụ khoa, trong đó có ung thư buồng trứng.

Mệt mỏi, sút cân là những triệu chứng toàn thân dễ gặp, đặc biệt là ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.

Đừng chủ quan mà hãy đi khám ngay!

Đau dai dẳng vùng bụng và xương chậu dù xuất phát từ nguyên nhân gì thì đây cũng là dấu hiệu cảnh báo sức khỏe bạn đang gặp vấn đề. Chính vì vậy, khi thấy bất kì biểu hiện bất thường, bạn không nên chủ quan mà cần đến bệnh viện để khám chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh.

Trường hợp nghi ngờ cần chẩn đoán ung thư buồng trứng, một số xét nghiệm có thể chỉ định bao gồm:

Xét nghiệm máu dấu ấn ung thư CA 125

Siêu âm bụng, siêu âm qua âm đạo

Phẫu thuật thăm dò và sinh thiết

Chụp CT/ MRI đánh giá mức độ ung thư xâm lấn…

Sinh Thiết Khối U Vùng Bụng Bằng Kim Dưới Hướng Dẫn Của Hình Ảnh

Sinh thiết khối u vùng bụng bằng kim là gì?

Khối u trong ổ bụng là một tổn thương đặc, một vùng mô bất thường nằm bên trong một tạng đặc của ổ bụng như gan, tụy, thận hoặc một hạch bạch huyết bệnh lý trong khoang phúc mạc. Các khối u này thường được phát hiện qua các khảo sát siêu âm hoặc chụp cắt lớp (CT). Tuy nhiên, không phải lúc nào các khảo sát chẩn đoán hình ảnh này cũng có thể cho biết khối u là lành tính hay ác tính.

Thủ thuật sinh thiết bằng kim là lấy một số tế bào ở vùng nghi ngờ bên trong cơ thể và khảo sát chúng dưới kính hiển vi để xác định chẩn đoán.

Khi sinh thiết khối u vùng bụng bằng kim, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh thường sử dụng hướng dẫn của siêu âm hoặc CT để đưa các dụng cụ vào đúng vị trí có sự tăng trưởng bất thường.

Bệnh nhân nên chuẩn bị như thế nào?

Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn nhịn ăn hoặc uống trong 8 giờ trước khi sinh thiết. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể uống các loại thuốc thường dùng của mình với một ít nước.

Trước khi thực hiện thủ thuật, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ tất cả các loại thuốc đang sử dụng, và dị ứng nếu có, đặc biệt với các loại thuốc gây tê. Bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân ngưng sử dụng thuốc aspirin hoặc thuốc làm loãng máu ba ngày trước khi thực hiện thủ thuật.

Đồng thời, bệnh nhân cũng phải thông báo cho bác sĩ về các bệnh lý cũng như tình trạng sức khỏe của mình gần đây.

Bệnh nhân sẽ được yêu cầu điền Bảng câu hỏi và Giấy chấp thuận trước khi khảo sát.

Bệnh nhân có thể được yêu cầu thay một phần hoặc cả trang phục bằng áo choàng trong quá trình khảo sát.

Trong trường hợp sinh thiết bằng kim dưới hướng dẫn của CT, bệnh nhân cũng có thể được yêu cầu tháo nữ trang và bất kỳ vật dụng hoặc trang phục bằng kim loại có thể gây cản trở cho sự lan truyền của tia X. Bệnh nhân nữ phải luôn thông báo cho bác sĩ nếu có khả năng đang mang thai. Một vài thủ thuật thực hiện dưới hướng dẫn của hình ảnh thường sẽ không được thực hiện trong thời kỳ mang thai vì tia X có thể gây hại cho thai nhi. Nếu việc chụp X-quang là cần thiết, phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu tối đa phơi nhiễm bức xạ cho thai nhi.

Khuyến cáo bệnh nhân nên có thân nhân hoặc bạn bè đi cùng và đưa bệnh nhân về nhà sau khi xuất viện.

Thủ thuật được thực hiện như thế nào?

Các thủ thuật ít xâm lấn dưới hướng dẫn của hình ảnh như sinh thiết khối u vùng bụng bằng kim thường sẽ do bác sĩ chẩn đoán hình ảnh thực hiện, người được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật này.

Sinh thiết khối u vùng bụng bằng kim dưới hướng dẫn của hình ảnh thường được thực hiện trong khu điều trị nội trú.

Bệnh nhân sẽ được đặt ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp hoặc nằm nghiêng tùy vào vị trí của khối u được chẩn đoán trước đó bằng kỹ thuật hình ảnh.

Dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ xác định vị trí khối u, lựa chọn đường đi vào khối u an toàn nhất và đánh dấu vị trí đâm kim trên da. Vùng da quanh vị trí đâm kim sẽ được vệ sinh và khử trùng, sau đó phủ một tấm khăn phẫu thuật vô trùng.

Thuốc gây tê tại chỗ sẽ được tiêm để làm tê vị trí đâm kim.

Thủ thuật sinh thiết bằng kim dưới hướng dẫn của CT cần có sự hợp tác của bệnh nhân (như nằm yên trên bàn chụp CT) và bệnh nhân có thể sẽ cần nín thở lặp đi lặp lại chính xác ở cùng vị trí.

Bác sĩ sẽ rạch một đường rất nhỏ tại vị trí đâm kim sinh thiết vào. Dưới hướng dẫn của hình ảnh, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ đâm kim vào vị trí đã được đánh dấu và hướng kim vào khối u. Khi lấy các mẫu mô, bệnh nhân có thể nghe tiếng lách cách từ dụng cụ lấy mẫu. Sau khi lấy mẫu, bác sĩ sẽ rút kim ra và lấy các mẫu mô đã thu thập được.

Quy trình này có thể lặp lại một hoặc hai lần.

Khi hoàn tất thủ thuật sinh thiết, vị trí sinh thiết sẽ được băng ép để cầm máu và vùng da hở cũng được băng lại. Bệnh nhân sẽ được chuyển đến khu vực theo dõi hoặc trở về phòng bệnh nhân ở khu nội trú. Nếu cần thiết, bác sĩ sẽ thực hiện thêm các khảo sát hình ảnh sau đó để loại trừ các biến chứng nhẹ.

Thông thường thủ thuật này được hoàn tất trong vòng một giờ.

Bệnh nhân sẽ gặp vấn đề gì trong và sau quá trình thực hiện thủ thuật?

Khi tiêm thuốc gây tê tại chỗ, bệnh nhân sẽ có cảm giác châm chích nhẹ. Bệnh nhân có thể cảm thấy sức ép nhẹ khi đâm kim sinh thiết vào. Vùng này sẽ bị tê trong một thời gian ngắn.

Bệnh nhân cần nằm yên trong quá trình thực hiện thủ thuật và cần nín thở nhiều lần trong quá trình sinh thiết. Điều quan trọng là bệnh nhân cố gắng duy trì việc nín thở mỗi lần như nhau để đảm bảo đâm kim vào đúng vị trí.

Bệnh nhân thường sẽ được tháo băng một ngày sau khi thực hiện thủ thuật và có thể tắm bình thường.

Bệnh nhân không nên cố gắng hoạt động thể chất (như nâng vật nặng, lên xuống cầu thang nhiều, chơi thể thao, v.v) trong vài ngày sau khi sinh thiết. Bệnh nhân sau đó sẽ sớm trở lại các hoạt động thường ngày.

Bệnh nhân có thể cảm thấy đau tại vị trí sinh thiết khi thuốc tê hết tác dụng, tuy nhiên tình trạng này sẽ cải thiện.

Ai sẽ là người diễn giải kết quả và bệnh nhân sẽ nhận kết quả bằng cách nào?

Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ khảo sát mẫu bệnh phẩm được lấy từ bệnh nhân và đưa ra chẩn đoán cuối cùng để có thể bắt đầu kế hoạch điều trị. Bác sĩ điều trị sẽ là người thông báo kết quả cho bệnh nhân.

Các lợi ích so với nguy cơ của thủ thuật này là gì?

Sinh thiết bằng kim là một phương pháp đáng tin cậy để lấy các mẫu mô giúp chẩn đoán khối u là lành tính hay ác tính.

Sinh thiết bằng kim là thủ thuật ít xâm lấn hơn sinh thiết bằng phẫu thuật hở và kín vì cả hai loại phẫu thuật này thường có đường rạch da lớn hơn đồng thời phải gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân.

Thông thường, thủ thuật này không gây đau và cho kết quả chính xác như lấy mẫu mô bằng phẫu thuật.

Thời gian hồi phục ngắn và bệnh nhân có thể sớm trở lại với các hoạt động thường ngày.

Bất kỳ thủ thuật xâm lấn nào cũng đều có nguy cơ nhiễm trùng. Nguy cơ nhiễm trùng cần điều trị kháng sinh là rất thấp, ít hơn 1/1000 trường hợp.

Xuất huyết bên trong ổ bụng có thể xảy ra nhưng hiếm gặp.

Các hạn chế của sinh thiết khối u vùng bụng bằng kim?

Đối với các khối u đã bị hoại tử một phần, các mô thu thập được trong quá trình sinh thiết bằng kim có thể sẽ không đủ để giúp chẩn đoán bệnh.

Để biết thêm thông tin và đặt hẹn, vui lòng liên hệ Khoa Chẩn đoán hình ảnh qua số (08) 54 11 34 00.

Ung Thư Vùng Kín Đang Trẻ Hóa

Ung thư ‘vùng kín’ ở nữ giới tuy chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhưng để lại rất nhiều rắc rối cho chị em.,Báo Phụ Nữ Kiều Việt thông…

Tại Bệnh viện (BV) Ung bướu TPHCM, từ năm 2010 đến 2012, 74 nữ bệnh nhân bị ung thư ‘vùng kín’ được phẫu thuật điều trị trước khi xạ trị và được theo dõi đến thời điểm này, cho thấy tỉ lệ sống còn sau trung bình năm năm là gần 75%. Đây là tỉ lệ rất cao, ngang bằng với các trung tâm lớn nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới.

BS Trần Đặng Ngọc Linh, Trưởng khoa Y học Hạt nhân, BV Ung bướu, cho biết ung thư âm hộ (tạm gọi là vùng kín) là bệnh lý ít gặp trong các loại bệnh ung thư ở phụ nữ nói chung và ung thư đường sinh dục nói riêng. Theo y văn thì ung thư vùng kín chiếm 3%-5% trong tất cả loại ung thư sinh dục nữ. Tại chúng tôi ung thư vùng kín chiếm khoảng 0,5% trong các loại ung thư ở nữ giới. Tuy ít gặp nhưng nó cũng để lại khá nhiều những rắc rối cho chị em.

Theo BS Linh, trước năm 2004, trước khi mổ điều trị ung thư vùng kín cho chị em, BV thực hiện cắm phóng xạ vào khối bướu ở vùng kín, chờ bướu tan hết thì bước tiếp theo sẽ phẫu thuật. Nhưng việc cắt vùng kín thời điểm đó cũng cắt toàn bộ và cắt rộng ra bẹn hai bên. Bên cạnh đó, nguồn phóng xạ dùng cho bệnh nhân là phóng xạ hở, nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với nguồn phóng xạ và bị phơi nhiễm dù đã được che chắn. Với hai nhược điểm đó, BV đã ngưng phương pháp trên và chuyển qua phương pháp phẫu thuật trước khi xạ trị.

‘Sau 2004, ngay lúc đầu bệnh nhân vào được chẩn đoán là ung thư vùng kín thì sẽ được tiến hành phẫu trị. Thuật phẫu trị gọn và cũng cắt nhỏ lại phù hợp với từng người, không nhất thiết là cắm phóng xạ và mổ thật rộng. Cũng chính vì vậy mà chất lượng sống cũng tăng lên, tác dụng phụ sau điều trị cũng hiếm gặp’, BS Linh cho biết.

Cũng theo BS Linh, do ung thư ‘vùng kín’ diễn tiến tại chỗ, không di căn xa nên chỉ cần phẫu trị và xạ trị. Nếu cắt an toàn, cắt hết khối bướu thì không cần xạ trị thêm. Trường hợp cắt không hết khối bướu thì sẽ xạ trị bổ túc hoặc khi có di căn hạch.

Trước đây ung thư vùng kín thường gặp ở người lớn tuổi (55-82 tuổi). Tuy nhiên, hiện nay, lứa tuổi trẻ hơn (35-55) cũng có thể gặp. Theo BS Linh, nhóm người lớn tuổi sau khi hết kinh, vùng kín bị xơ teo – tế bào bị teo, thiếu nội tiết lâu ngày xuất hiện những phân bào bất thường thành ung thư.

Cạnh đó, nhóm người trẻ tuổi bị ung thư vùng kín là do nhiễm vi-rút HPV (vi-rút này chiếm 99% gây ung thư cổ tử cung). ‘Do vậy, cần phát hiện sớm các dấu hiệu ung thư và điều trị liền thì sẽ khỏi luôn. Có người sống đến vài chục năm. Ở nhóm đối tượng trẻ thì nên tiêm ngừa vi-rút HPV’ – BS Linh khuyến cáo.