Top 9 # Ung Thư Vùng Hạ Họng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Hạ Họng Là Gì ?

Ung thư hạ họng là những ung thư xuất phát từ vùng hạ họng (điển hình là xoang lê) thuộc biểu mô đường tiêu hóa, khi lan rộng vào thanh quản được gọi là ung thư hạ họng – thanh quản. Là ung thư khá phổ biến có ảnh hưởng nhiều đến các chức năng thở, nuốt, nói cũng như có thể nguy hại tới tính mạng. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể hạ thấp tỉ lệ tử vong một cách đáng kể.

Ung thư hạ họng là những ung thư xuất phát từ vùng hạ họng (điển hình là xoang lê) thuộc biểu mô đường tiêu hóa, khi lan rộng vào thanh quản được gọi là ung thư hạ họng – thanh quản. Là ung thư khá phổ biến có ảnh hưởng nhiều đến các chức năng thở, nuốt, nói cũng như có thể nguy hại tới tính mạng. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể hạ thấp tỉ lệ tử vong một cách đáng kể.

Vùng này có một mạng lưới bạch huyết phong phú. Về tổ chức học, niêm mạc che phủ thuộc biểu mô lát tầng của đường ăn. Về giải phẫu bệnh lý đại thể thường gặp là thể sùi hay phối hợp với loét, khi khối u đã lan rộng thường phối hợp với thể hoại tử; vi thể thường là ung thư biểu mô biệt hóa (ít nhạy cảm với tia xạ).

Vùng thanh quản nhất là tầng thanh môn mạng lưới bạch huyết thường nghèo nàn và hạch cổ thường bị di căn muộn nên tiên lượng khá hơn và có thể điều trị tiệt căn được. Về tổ chức học, niêm mạc che phủ thuộc biểu mô trụ có lông chuyển của đường hô hấp; riêng dây thanh âm được biệt hóa cao thành biểu mô lát. Về giải phẫu bệnh lý; đại thể thường gặp thể sùi, còn thể thâm nhiễm và thể loét ít gặp hơn; vi thể, xuất phát từ dây thanh thường là ung thư biểu mô biệt hóa, còn từ trên và dưới thanh môn thường gặp là ung thư biểu mô ít biệt hóa (nhạy cảm với tia xạ hơn).

Ngoài các giả thuyết chung về ung thư, đối với ung thư thanh quản và ung thư hạ họng cần đặt biệt lưu ý các yếu tố thuận lợi sau đây:

– Các công trình nghiên cứu đều đi đến kết luận rằng số lượng điếu thuốc được hút trong ngày càng nhiều và số năm hút thuốc càng cao tỉ lệ thuận với tỉ lệ mắc các loại ung thư này.

– Nghiện rượu cũng là một yếu tố nguy cơ cao gây bệnh do rượu kích thích tại chỗ niêm mạc họng và thanh quản.

– Nghiện thuốc lá kèm với nghiện rượu làm cho nguy cơ mắc bệnh tăng lên nhiều.

– Đặc biệt bạch sản thanh quản (là những mảng trắng xám, sừng hóa ở trên bề mặt dây thanh) và u nhú thanh quản ở người cao tuổi được coi là giai đoạn tiền ung thư; nếu sau khi cắt tái phát nhanh thì tỉ lệ ung thư là 70%. Ngoài ra, polyp dây thanh ở người già có tỉ lệ ung thư thanh quản cũng cao (15%).

– Trong điều kiện vệ sinh răng miệng kém, các vi khuẩn hội sinh phát triển mạnh dễ gây nên viêm nhiễm vùng miệng, họng và thanh quản. Kích thích viêm kéo dài là yếu tố thuận lợi cho ung thư thanh quản và hạ họng.

– Đặc biệt ở công nhân tiếp xúc thường xuyên với amiante hoặc thợ mộc thường tiếp xúc với bụi gỗ được coi như là những bệnh nghề nghiệp.

– Rối loạn về nuốt: Nuốt đau xuất hiện trước và tăng dần, lúc đầu là cảm giác vướng họng, sau đó là nuốt đau kèm nuốt khó ngày càng tăng.

– Khàn tiếng và khó thở: Khi khối u lan rộng vào thanh quản.

– Khối u cũng có thể lan rộng ra phía ngoài thâm nhiễm vào cánh sụn giáp và da vùng cổ.

Thể trạng suy kiệt dần do ăn uống kém, do thiếu oxy, do nhiễm độc bởi ung thư.

– Sinh thiết khối u: Để xác định tế bào học là chắc chắn nhất, có thể kết hợp với chọc hạch làm hạch đồ để xác định tính chất xâm nhiễm của khối u vào hạch.

– CT scan hoặc MRI: Giúp đánh giá chính xác sự lan rộng của ung thư để dự kiến phẫu thuật.

– Các xét nghiệm cơ bản để đánh giá thể trạng chung.

– Lao hoặc giang mai ở thanh quản và hạ họng.

– Phối hợp tia xạ hậu phẫu thì kết quả tốt hơn, nếu chỉ tia xạ đơn thuần thì tiên lượng kém hơn.

– Ít có tác dụng vì chỉ dùng theo đường toàn thân nên chỉ áp dụng trong các thể ung thư sarcome. Các hóa chất thường dùng là Cysplatine, 5FU…

– Làm tăng sức đề kháng của bệnh nhân.

– Nếu ung thư còn khu trú thì tiên lượng tốt. Ung thư hạ họng có tiên lượng xấu hơn ung thư thanh quản 3-4 lần.

– Đối tượng mắc bệnh này thường dao động ở độ tuổi từ 50 đến 60 và thường bắt gặp chủ yếu ở nam giới. Hiện nay, chưa có bất cứ thông tin chính xác nào để trả lời ung thư hạ họng sống được bao lâu. Bởi, thời gian sống của bệnh này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bệnh. Cũng như tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Tuy nhiên, các bạn hoàn toàn có thể tiên lượng được thời gian sống.

– Đối với những người nhân mắc bệnh ung thư hạ họng ở giai đoạn đầu và giai đoạn thứ 2. Nếu được phát hiện sớm và điều trị thì tỷ lệ thành công là khá cao (90%). Thời gian sinh tồn của người bệnh có thể kéo dài thêm 10 đến 15 năm nữa. Thời gian sống lâu hay không còn phụ thuộc vào chế độ sinh hoạt, ăn uống, tâm trạng của mỗi bệnh nhân.

– Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ suy kiệt do không ăn uống được, ung thư lan rộng vào thanh quản sẽ gây ngạt thở, nhiễm độc do ung thư, hoặc biến chứng viêm phổi.

1. Biện pháp quan trọng nhất để hạn chế yếu tố nguy cơ là bỏ rượu và thuốc lá.

2. Cần tăng cường các biện pháp giáo dục sức khỏe trong cộng đồng, chấp hành tốt các qui tắc phòng hộ lao động, không gây ô nhiễm môi trường như hút thuốc lá nơi công cộng, sử dụng các phương tiện thải ra nhiều bụi khói độc.

3. Tổ chức tốt mạng lưới y tế cơ sở có chất lượng chuyên môn để phát hiện và điều trị bệnh sớm. Khi xuất hiện các triệu chứng khàn tiếng, khó thở, khó nuốt đặc biệt ở những người trên 40 tuổi cần phải cảnh giác với một trường hợp ung thư thanh quản hoặc ung thư hạ họng và tiến hành khám tai mũi họng kỹ lưỡng để phát hiện bệnh sớm.

4. Các bệnh nhân đã được điều trị ung thư cần phải được quản lý tốt bằng khám định kỳ có sổ theo dõi kết quả. Đặc biệt cần quan tâm đến việc phục hồi chức năng của sự thở, nuốt và nói chẳng hạn như tập nói bằng giọng thực quản sau cắt thanh quản toàn phần, tập nuốt để khỏi bị sặc thức ăn vào đường thở sau cắt thanh quản bán phần v.v…

Ung Thư Hạ Họng, Thanh Quản

-ung thư xuất phát từ thanh quản lan tới hạ họng được gọi là ung thư thanh quản-hạ họng

2.giải phẫu bệnh

-ung thư hạ họng là ung thư biểu mô đường tiêu hóa có tính chất thâm nhiễm, nếu biệt hóa cao thì ít nhạy cảm với tia X nên tiên lượng xấu

-ung thư thanh quản là ung thư biểu mô lát đường hô hấp thường là biệt hóa

3.triệu chứng

ung thư hạ họng-thanh quản

Mô tả ung thư xoang lê thể điển hình

Nuốt đau: là triệu chứng có sớm, gợi ý: ban đầu đau nhẹ, cảm giác vướng, nhói khi nuốt sau đó đau ngày càng rõ ràng; muộn thấy khó nuốt và thường bị sặc khi uống nước

Ho do kích thích, ho nhiều về đêm, khạc đờm có thể có lẫn dây máu

Khàn tiếng và khó thở chỉ xuất hiện khi ung thư đã lan vào thanh quản

Hạch cổ, hạch thượng đòn cũng xuất hiện sớm, hạch thường to, cứng, cố định

Soi thanh quản gián tiếp: giai đoạn đầu thấy xoang lê ứ đọng nhiều nước bọt, thâm nhiễm cứng, cũng có thể là sùi hoặc loét chảy máu, có giả mạc trắng xá. giai đoạn muộn có thể thấy khối u lan rộng ra toàn bộ xoang lê, hạ họng, tiền đình thanh quản,băng thanh mất, muộn hơn có thể thấy thanh quản 1 bên mất di động, bị cố định hẳn

Sụn giáp cứng nề, đặc biệt là dày lên ở bờ sau, ấn đau. Sụn giáp như bị đẩy lồi ra, sờ cứng như mai rùa; da trước cổ thâm nhiễm đỏ cứng, dày

Dấu hiệu lọc cọc thanh quản-cột sống giảm rồi mất

*triệu chứng x-quang:

-phim cổ nghiêng tia mềm có thể thấy u ở miệng xoang lê hay ở nếp phễu thanh thiệt

-chụp CT scan theo tư thế thẳng, bệnh nhân bịt mũi thổi phồng má cho thấy tổn thương xoang lê và tổn thương lan tràn của ung thư

ung thư thanh quản-hạ họng

Mô tả ung thư dây thanh

-cơ năng:

Khàn tiếng xuất hiện sớm, luôn có và có thể là triệu chứng duy nhất kéo dài hàng tháng.

Khàn tiếng kéo dài ban đầu từng lúc, sau thường xuyên hơn và cuối cùng là mất tiếng hoàn toàn

Khó thở thường xuất hiện muộn khi khối u đã che lấp thanh môn hoặc khi đã cố định nửa thanh quản. khó thở kiểu thanh quản từ từ tăng dần

Nuốt đau xuất hiện muộn khi khối u đã lan ra hạ họng

Ho và khạc đờm lẫn máu

-thực thể:

Soi thanh quản gián tiếp giai đoạn sớm có thể thấy tổ chức sùi đỏ hoặc loét cứng ở 1/3 trước 1 bên dây thanh, có thể có giả mạc trắng che phủ; muộn hơn tổn thương lan ra toàn bộ dây thanh, băng thanh mất, cố định 1 nửa thanh quản, dần dần khối u vượt mép trước dây thanh ra ngoài thanh quản vào hạ họng

Hạch cổ xuất hiện muộn, nhóm cảnh giữa cùng bên

*chụp x-quang:

phim cổ nghiêng tia mềm có thể thấy khi khối u đã lan vào hạ họng

Chụp CT để xác định vị trí khối u, độ lan tràn, thâm nhiễm

-phẫu thuật: thường kết hợp nạo vét hạch cổ với phẫu thuật lấy bỏ khối u và chỉnh hình thanh quản, hạ họng

-xạ trị: có thể thực hiện khi khối u còn nhỏ, khu trú trên dây hay tiền đình thanh quản

thường hỗ trợ cho phẫu thuật

-hóa trị liệu: cho kết quả tốt nhất

Copy ghi nguồn Dược Điển Việt Nam

Thuốc Chữa Bệnh Ung Thư Hạ Họng

Ung Thư Hạ Họng

Ung thư hạ họng (UTHH) là bệnh lý ác tính xuất phát từ vùng dưới của họng miệng, bao gồm ba vị trí: xoang lê, vùng sau sụn nhẫn phễu và vùng thành sau hạ họng. UTHH có thể cư trú hoặc lan rộng vào thanh quản, khi này được gọi chung là ung thư thanh quản- hạ họng. Đây cũng là dạng ung thư khá phổ biến có ảnh hưởng nhiều đến các chức năng thở, nuốt, nói cũng như có thể nguy hại tới tính mạng. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể hạ thấp tỉ lệ tử vong một cách đáng kể.

Ở Việt Nam ung thư hạ họng đứng hàng thứ hai sau ung thư vòm và chiếm tỉ lệ khoảng 20% trong các ung thư đường hô hấp tiêu hóa trên. Loại ung thư này hay gặp hơn ung thư thanh quản ( tỷ lệ khoảng 3/1) nhưng kết quả điều trị lại kém hơn do các triệu chứng lâm sàng ban đầu tương đối kín đáo, phần lớn người bệnh đến khám đều ở giai đoạn muộn. Vì vậy so với ung thư thanh quản thì Tuổi thường gặp khoảng từ 45 – 65. Nam gặp nhiều hơn nữ với tỉ suất là 5/1, tức là nam giới chiếm tới 85%. Độ tuổi bị bệnh có xu hướng trẻ hóa.

Soi thanh quản – hạ họng thấy khối u ở xoang lê, sụn nhẫn phễu hoặc thành sau hạ họng. Cần đánh giá chính xác vị trí tổn thương và sinh thiết u để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học.

Các phương pháp phẫu thuật đối với ung thư hạ họng: Chỉ định loại phẫu thuật nào là tuỳ thuộc thương tổn của u và hạch, thường áp dụng các phương pháp phẫu thuật sau đây: Cắt bỏ hạ họng, thanh quản toàn phần; Cắt bỏ một phần hạ họng, thanh quản; Cắt bỏ nửa thanh quản, hạ họng; Cắt bỏ nửa thanh quản, hạ họng trên thanh môn.

Khuynh hướng chung của nhiều chuyên gia ung thư trên thế giới là kết hợp tia xạ sau mổ, tia trường bao gồm vùng hạ họng, thanh quản và các dãy hạch cổ hai bên. Giới hạn trên của tia trường đi qua bờ dưới ống tai ngoài, giới hạn trước là da vùng cổ trước (phần trước của khí quản có thể bảo vệ bằng che chắn), giới hạn dưới là miệng thực quản và giới hạn sau là bờ sau xương chũm. Dãy hạch cổ dưới có thể dùng chùm tia thượng đòn. Vị trí gần tuỷ sống thì lượng tia không được quá 45Gy. Thông thường lượng tia ở khối u hạ họng, thanh quản và các hạch cổ phải đạt từ 65-70Gy, tia rải rác đều mỗi ngày 2Gy, mỗi tuần từ 10-12Gy. Nếu hạch chưa bị thâm nhiễm, thì có thể dùng lượng tia 45-50Gy.

Nhìn chung kết quả kéo dài tuổi thọ cho người bệnh từ 3-5 năm đạt 25-35%, một số sống từ 10-15 năm, nhưng đạt tỉ lệ thấp 10-12%. Phần lớn tử vong do tái phát tại chỗ hay hạch và thường kèm theo di căn xa (hay gặp là vào phổi hay xương), một số trường hợp lại có thêm một ung thư thứ hai. Vì vậy, những bệnh nhân đã điều trị cần được khám và theo dõi định kỳ 2 tháng/lần trong 3 năm đầu và các năm sau từ 4-6 tháng/lần. Trong 3 năm đầu 6 tháng chụp phổi một lần.

Bài thuốc 1 là bài thuốc cổ phương của Trung Hoa có trong cuốn Những Bài Thuốc Thần Dược Của Trung Quốc do B.S Nguyễn Tiến Hội ( Viện Đông Y Trung Ương và Châm Cứu Việt Nam ) biên tập và được Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 2010.

Công thức gồm: Hạ khô thảo, Bán chi liên, Bạch hoa xà: mỗi vị 30g; Thất diệp nhất chi hoa, Côn bối, Hải tảo: mỗi vị 24g; Vẩy tê tê, Tây thảo, Nga truật: mỗi vị 15g; Thương nhĩ tử, Tân di, Đương quy, Xích thược, Màn kinh tử, Triết bỗi mẫu, Phục kinh, Bán hạ: mỗi vị 12g; Bạc hà, Bạch chỉ, Xuyên khung: mỗi vị 10g.

có trong cuốn T Bài thuốc 2 là bài thuốc cổ phương của người Tây Tạng rung Y Dân Gian Thần Dược được Hội Đông Y Trung Hoa xuất bản lần đầu năm 1956 tại Trung Quốc.

Công thức gồm: Thục táo nhân 24g, Quảng hoắc hương 24g, Hạ giao đẳng 24g, Lộ đảng sâm 24g, Sinh hoàng kỳ 24g, Can địa hoàng 9g, Kê nội kim 9g, Hạnh nhân 9g, Phục thần 12g, Hậu phác 6g, Khấu nhân 6g, Địa du 9g, Hòe hoa 9g, Sinh bạch truật 12g, Hải phù thạch 15g, Thanh long xĩ 15g, Bạch cấp 15g, Nữ trinh tử 24g, Tiên hạc thảo 60g, Xuyên bối 6g.

Những vị thuốc cần gia giảm thêm khi ứng dụng hai bài thuốc căn bản gồm: Vân linh, Bạch thược, Từ thạch, Hồng táo, Hải đới, Thanh trần bì, Thanh mộc hương, Tam lǎng, Hoàng phụ khối, Mạch môn đông, Ngũ vị tử, Bạch truật, Bạch thược, Hoài ngưu tất, Đoạn mẫu lệ, Kinh huyền sâm, Tượng bối mẫu, Xuyên quế chi, Chích cam thảo, Vương bất lưu hành, Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm, Tam lǎng, Viễn chí.

Đây là căn bệnh nan y và mãn tính, có sự phức tạp cả về tính chất bệnh cũng như sự ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bệnh nhân do việc ăn uống bị hạn chế. Bài thuốc điều trị vì thế cũng cần phải gia giảm khác nhau theo từng loại tế bào, từng giai đoạn bệnh, sức khỏe thực tế của bệnh nhân, tuổi bệnh nhân, giới tính, thời gian bị bệnh. Cho nên, để đảm bảo đúng bệnh và đúng thuốc, chúng tôi cần bệnh nhân phải có đủ các kết quả khám bệnh chuyên khoa: Nội soi đường tiêu hóa trên, Sinh thiết tế bào, chụp CT scan ngực hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định mức độ của bệnh. Các xét nghiệm bổ sung khác nếu có.

Tùy theo tính chất của từng vị thuốc phối hợp gia giảm đối với tình trạng bệnh của mỗi bệnh nhân, chúng tôi sẽ điều chế thuốc thành một trong các dạng như: Viên hoàn cứng, viên hoàn mềm, dạng bột tán, dạng bột cốm, hoặc dạng cao…để bệnh nhân điều trị đạt hiệu quả cao nhất, thuận tiện dễ sử dụng, dễ bảo quản.

Bệnh nhân khi có nhu cầu điều trị nên chụp lại toàn bộ các kết quả khám bệnh như trên cùng với số điện thoại liên hệ và gửi vào Email hoặc Zalo.

Trung Tâm Ứng Dụng và Phát Triển Dược Liệu Châu Á Vietnam office: Số 20, ngõ 3, đường Lê Chí Trực, Khu 6, p. Ba Đình, tx Bỉm Sơn Thanh Hóa Tel/Zalo : 0983.357.159 *Hotline: 0917.357.159 Email: pharmace.asia@gmail.com

Khi nhận được các thông tin chúng tôi sẽ liên hệ lại, nếu bệnh nhân có nhu cầu mua thuốc điều trị chúng tôi sẽ điều chế thuốc gửi chuyển phát nhanh qua bưu điện.

Chẩn Đoán Và Điều Trị Ung Thư Hạ Họng

Ở nước ta ung thư hạ họng hay gặp hơn ung thư thanh quản. ung thư hạ họng phân chia theo 3 vùng: xoang lê, vùng sau nhẫn phễu, vùng thành sau hạ họng. Các tác giả hệ tiếng Anh thì miêu tả ung thư sau sụn nhẫn là loại ung thư vùng tròn của miệng thực quản, là vùng ranh giới giữa hạ họng và thanh quản.

Nguyên nhân chủ yếu gập ở những người nghiện rượu, nghiện thuốc lá. Ngoài ra còn gặp ở những người bị các yếu tố kích thích mũi, họng thường xuyên bởi khí, hơi, bụi do tiếp xúc nhiều với khí, hơi, bụi (mang tính nghề nghiệp). Bệnh còn gặp ở những người bị các yếu tố kích thích (thường xuyên, trường diễn) mũi, họng bởi: khí, hơi, bụi do tiếp xúc nhiều.

Ở nước ta và một số nước khác như: Pháp, Ý, Mỹ, Trung Quốc bệnh mắc chủ yếu ở nam giới. Riêng ở Canada, Anh bệnh hay gặp ở nữ giới. Bệnh thường bị ở độ tuổi 50-60.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Bệnh ở giai đoạn đầu:

+ Nuốt khó 1 bên, bệnh nhân có cảm giác nuốt vướng, có dị vật trong họng.

+ Cảm giác khó chịu ở một bên họng.

Soi thanh quản-hạ họng gián tiếp: Gây tê bằng xylocaine 2-3% bằng bình phun hoặc bơm họng, sơ bộ thấy được khối u ở xoang lê nhưng khó xác định được ranh giới do phù nề.

Soi thanh quản- hạ họng trực tiếp: Chủ yếu dùng phương pháp nội soi để đánh giá chính xác vị trí tổn thương và làm sinh thiết u chẩn đoán.

Chẩn đoán tế bào-giải phẫu bệnh lý:

Vị trí u: Hay gặp là ung thư xoang lê trên: 80%

+ Đại thể: Hay gặp: hình thái loét thâm nhiễm, chiếm 85% tổn thương bắt đầu từ niêm mạc rồi thâm nhiễm sâu xuống các tổ chức ở phía dưới (tuyến, cơ, màng sụn).

+ Hình thái từng đám: Có từng nụ nhỏ hoặc nổi hạt, không nhẵn bóng, nhưng không thâm nhiễm vì vậy rất khó phân biệt với một vùng niêm mạc viêm mạn tính.

+ Vi thể: Chủ yếu là loại ung thư biểu mô gai. Ngoài ra còn có thể gặp loại sarcom, loại tuyến, loại ung thư biếu mô không biệt hóa.

Chẩn đoán X-quang: Chụp phim cổ nghiêng có cản quang để xác định điểm xuất phát và tổn thương u ở vùng thành sau thanh quản đã lan xuống miệng thực quản chưa. Tốt nhất chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ.

Đánh giá bilan toàn thân bằng cách:

+ X-quang tim phổi

+ Siêu âm ổ bụng

+ Chụp đổng vị phóng xạ.

+ Xét nghiệm cơ bản đánh giá chức năng ở cơ quan tạo huyết, gan, thận…

Khám chuyên khoa cần phải: Khám chuyên khoa răng-hàm-mặt, mắt, thần kinh để đánh giá sự lan tràn của u.

Đánh giá theo mức độ tiến triển:

Theo TNM (UICC-2002)

Khối u nguyên phát (T)

+ Tis: Ung thư biểu mô tiền xâm lấn

+ To: Không có dấu hiệu u nguyên phát

+ Tị: Khối u còn khu trú ở 1 vị trí giải phẫu bệnh

+ T 2: Khối u đã lan ra 1 vị trí khác của hạ họng hoặc lan vào 1 vùng tuyến giáp nhưng thanh quản chưa bị cố định

+ T,: Như T 2 nhưng cửa thanh quản đã bị cố định

+ T 4: Khối u đã lan vào sụn, xương, hoặc tổ chức phần mềm

Hạch vùng (N) và di căn (M)

+ N và M: Giống như ung thư vùng Đầu-Mặt-Cổ

Chẩn đoán phân biệt

Cần khám kĩ để phát hiện 1 ung thư thứ 2 (nếu có) phát sinh tại vùng đường ăn, đường thở trên (không phải là ung thư vùng hạ họng).

Ung thư miệng thực quản: hay gập là thể xâm lấn theo hình tròn vùng ranh giới giữa hạ họng và thực quản. Nhiều tác giả cho nó là hạ họng hơn thực quản.

Về lâm sàng thì ung thư này thường kèm theo thiếu máu do thiếu sắt của hội chứng Kelly Paterson.

ĐIỀU TRỊ

Điều trị phẫu thuật

Tuỳ thuộc vào tổn thương của u và hạch mà có những chỉ định phẫu thuật phù hợp. Thường áp dụng các phẫu thuật sau:

Cắt bò họng-thanh quản toàn phần: Đây là loại phẫu thuật hay dùng nhất ở nước ta vì bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn. Thực chất là cắt bỏ toàn bộ thanh quản và 1 phần hạ họng.

Cắt bỏ 1 phần họng-thanh quản: Chỉ sử dụng đối với những u còn bé (Tj) của xoang lê.

Cắt 1 phần bên của hạ họng như kiểu Trotter: Tiến hành u còn nhỏ ở thanh ngoài xoang lê và nó còn cách xoang lê ít nhất là 1,5 cm. Phải bảo tổn dây thần kinh hồi qui.

Cắt bỏ nửa thanh quản-hạ họng theo kiểu André, Pinel, Lacourreye: Chỉ định đối với ung thư xoang lê nhưng lan xuống phần đáy và chưa lan vào bờ bên của thanh quản.

Cắt bỏ nửa thanh quản-hạ họng trên thanh môn: Chỉ định đối với loại ung thư ở vùng bờ bên ở thanh quản. Phẫu thuật này khác phương pháp của Andre, Pinel là giữ lại thanh môn, chỉ cắt 1/2 trên cánh sụn giáp, dây hồi qui được bảo tồn. Phẫu thuật này hay gây ăn sặc vào đường thở nhất là giai đoạn đầu sau mổ, vì vậy phải theo dõi hội chứng viêm phế quản.

Xạ trị

Xạ trị Co 60 hoặc gia tốc vào vùng họng-thanh quản và hạch cổ 2 bên. Trường chiếu vào u vùng họng-thanh quản:

+ Giới hạn trên đi qua bờ dưới ống tai ngoài.

+ Giới hạn trước là vùng da trước cổ (vùng khí quản được che chì).

+ Giới hạn dưới là miệng thực quản.

+ Giới hạn sau là bờ xương chũm.

Trường chiếu vào hạch cổ cả 2 bên: Liều xạ thông thường từ 65-70Gy nếu hạch chưa bị thâm nhiễm thì liều xạ có thể là 50Gy.

Các phương pháp điều trị khác

Ngoài 2 phương pháp cơ bản nhất là phẫu thuật kết hợp với xạ trị thì một số tác giả đã sử dụng phối hợp hóa trị, nhưng kết quả còn đang bàn cãi. Có thể sử dụng liệu pháp miễn dịch để nâng cao sức đề kháng cho bệnh nhân.