Top 9 # Ung Thư Vùng Miệng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Nguyên Nhân Gây Ung Thư? Ung Thư Vùng Miệng Có Chữa Được Không?

Ở thế kỷ trước, bệnh ung thư và tim mạch là được xếp vào tai họa hàng đầu của loài người. Với khoa học kỹ thuật hiện đại, bệnh tim mạch đã được khống chế, rất nhiều trường hợp bệnh tim khó đã được chữa trị tốt. Nhờ biết rõ nguyên nhân gây bệnh tim mạch nên người ta đã có biện pháp phòng ngừa.

Đối với bệnh ung thư, dù khoa học và y học đã tiến bộ vượt mức, nhưng nguồn gốc bệnh ung thư nói chung và ung thư răng miệng nói riêng vẫn chưa biết rõ. Sang thế kỷ 21, loài người lại tiếp tục nghiên cứu và cố gắng tìm cho được các nguyên nhân gây bệnh, nhưng tất cả vẫn còn rất mơ hồ và đầy thách đố.

Người ta chỉ biết một vài yếu tố nguy cơ (risk factors) có thể gây nên ung thư tiềm ẩn như:

– Do vi rút (Siêu vi, virus). Do các bệnh nhiễm trùng kéo dài ở vùng hàm mặt.

– Có một bộ phận mô trong cơ thể suy yếu làm biến đổi mã di truyền, làm thay đổi hoạt động của tế bào, khiến nó tăng sinh quá mức và vô tổ chức tạo nên khối u ác tính.

– Do môi trường sống bị nhiễm phóng xạ, điều nầy đã thấy rõ hậu quả sau khi quả bom nguyên tử rơi ở Hiroshima, một số người bị nhiễm xạ và chết vì ung thư xảy ra sau chiến tranh hàng chục năm.

– Do khói bụi, hóa chất độc hại, khí CO ở các Thành Phố lớn

– Hiệu ứng nhà kính, khiến cho tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống quá mạnh gây nên ung thư da.

– Do chất màu trong thực phẩm đã chế biến công nghiệp hóa. Trong đó có màu đỏ sudan dùng trong mỹ phẩm, son môi.

– Do khói thuốc ở những người nghiện thuốc lá (tobaco somking), nhai thuốc lá (tobaco chewing), những người tiếp cận với khói thuốc dù không hút thuốc vẫn có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao.

– Do rượu ở những người nghiện rượu, sẽ có nguy cơ bị ung thư vòm hầu.

– Ở những người có thói quen ăn trầu (betel chewing habit): ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Malaysia…

– Ở những người sử dụng hormone (Kích thích tố) bừa bải, không được kiểm soát tốt

– Thực phẩm từ động vật hay cây trồng đã biến đổi gene cũng có nguy cơ gây ung thư? Những vấn đề về biến đổi gene vẫn còn trong bàn cải và tranh luận, vì hiện nay khoa học vẫn chưa biết và vẫn còn mù tịt.

Tóm lại hiểu biết về bệnh ung thư càng nhiều càng thấy khó khăn hơn trong vấn đề phòng chống bệnh. Khoa học đã tiến bộ trong từng loại bệnh ung thư để tìm cách khắc phục, nhưng vì không biết nguyên nhân rõ thì làm sao chữa được bệnh. Tuy vậy hiện nay nhiều bệnh ung thư nếu phát hiện sớm đều có thể chữa được và tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn ngày trước rất nhiều. Hiện nay các nhà khoa học đã lập được bản đồ gene di truyền và giải mã được gene của lòai người, nhưng không khắc phục đềiu chỉnh được các gene gây bệnh. Đó cũng là thách thức cho các nghiên cứu sâu hơn về di truyền ở thế kỷ 21.

Ở những thập niên trước tỷ lệ khỏi bệnh ung thư chỉ đạt 25% – 30%. Ngày nay ở Mỹ tỷ lệ khỏi bệnh từ 50% – 80%. Bệnh ung thư được xem là có kết quả tốt và lành bệnh nếu sau 5 năm không bị tái phát hay di căn.

Cuộc chiến đấu để chống lại căn bệnh ung thư vẫn còn đang tiếp diễn, khoa học đã bó tay đối với ung thư ở thế các thế kỷ trước, nhưng sang thế kỷ 21 loài người vẫn chưa chiến thắng được căn bệnh quái ác nầy, cũng như cuối thế kỷ 20 xuất hiện thêm một tai họa nữa đó là bệnh AIDS và hiện nay vẫn không có thuốc chữa trị cũng như thuốc chủng ngừa HIV.

Đã biết bệnh ung thư là “Trời kêu ai nấy dạ” nhưng cũng có cách phòng ngừa và phát hiện sớm như:

– Ngưng không hút thuốc lá nữa (to quit smoking), vì thuốc lá có chất nicotine làm sơ thành động mạch, sơ hoá các phế bào của phổi gây nên bệnh viêm tắc phế quản mãn tính. Ở vùng răng miệng, bệnh nhân hút thuốc lá và ăn trầu lâu ngày sẽ kích thích niêm mạc má, lưỡi và sàn miệng làm dầy lớp thượng bì gây nên loạn dưỡng tế bào tại nên sang thương tiền ung thư

– Giảm bớt rượu, vì chất cồn trong rượu nếu uống lâu ngày sẽ làm cho rối loạn biến dưỡng gây xơ gan, từ xơ gan rất dễ biến thành ung thư, nhất là đối với những bệnh nhân đã bị nhiễm siêu vi B, và siêu C, gây viêm gan trước đó. Rượu lâu ngày cũng có thể làm biến đổi gene di truyền của tế bào khiến cho tế bào sinh trưởng rối loạn. Chất độc màu da cam dioxin có trong thuốc khai hoang để diệt cây cỏ là chất làm tăng sinh tế bào rất nhanh cóng, làm rối loạn chu kỳ sinh sản của cây, làm cây chết nhanh chóng trong vòng vài ngày.

– Không ăn trầu vì những người ghiền trầu (betel chewing addict) thường nhai với vôi tôi rất cay nồng, nhai trầu lâu ngày sẽ làm mất vị giác, ăn uống sẽ mất ngon, chất vôi sẽ làm dầy niêm mạc má,lưỡi và sàn miệng gây nên ung thư (carcinoma)

– Không để xảy ra tình trạng nhiễm trùng kinh niên và lâu dài như: không để gốc răng nhiễm trùng trong miệng, không để bệnh nha chu phá hủy xương và dây chằng. không để bệnh viêm xoang kéo dài (Vì có thể gây nên ung thư cavum).

– Bệnh nhân nên giữ vệ sinh răng miệng kỹ, khám răng định kỳ để phát hiện sâu răng và các bất thường vùng răng miệng. Bất cứ vết thương hay vết loét nào niêm mạc miệng mà dây dưa không chữa khỏi phải khám BS để chẫn đoán sớm bệnh ung thư, vì ngày nay khoa học tiến bộ việc chẫn đoán nhờ xét nghiệm cận lâm sàng hiện đại và chính xác nên việc chưa khỏi bệnh ung thư trong giai đoạn đầu là 100%.

– Khoa học về di truyền và biến đổi gene đã tìm ra nhiều loại gene có thể gây ung thư trên loài vật, nhưng cách tìm kiếm các gene gây bệnh trên người để rồi áp dụng các phương pháp để ngăn chận, khống chế hay loại trừ các gene nầy từ khi còn là bào thai vẫn còn mù mờ và vẫn còn trong vòng nghiên cứu, chưa áp dụng được vì lãnh vực gene là khó nhất trong ngành vi sinh.

BS TRẦN NGỌC ĐỈNH (May – 2007)

Tìm Hiểu Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vùng Miệng Mới Nhất

Ung thư biểu mô tế bào vùng miệng (ung thư vùng miệng) thường xảy ra ở những người trên 40 tuổi và xuất hiện nhiều ở nam giới hơn nữ giới, đồng thời đây cũng là một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư biểu mô tế bào vùng miệng

– Hút thuốc và uống rượu: Những người vừa hút thuốc lá vừa uống nhiều rượu có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào vùng miệng cao hơn những người chỉ hút thuốc hoặc uống rượu.

– Vệ sinh răng miệng kém: Nếu không giữ thói quen vệ sinh khoang miệng rất có thể bị ung thư vùng miệng.

– Hút thuốc lá: Hút thuốc lá là yếu tố đầu tiên dẫn đến ung thư biểu mô tế bào vùng miệng, theo thống kê, 75% trường hợp được chẩn đoán bị ung thư miệng là những người sử dụng thuốc lá. Càng hút thuốc nhiều, nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vùng miệng càng cao.

Dấu hiệu và triệu chứng ung thư vùng miệng

Hầu hết ung thư biểu mô tế bào vùng miệng đều phát hiện ở giai đoạn muộn. Giai đoạn đầu của ung thư biểu mô tế bào vùng miệng thường không đau, có thể không được chú ý và điều này dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn so với các bệnh ung thư khác. Do đó, việc sớm xác định các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư miệng là rất quan trọng:

– Một mảng trắng và/hoặc mảng đỏ xuất hiện ở nướu răng, ở lưỡi hoặc niêm mạc miệng.

– Một vết loét nhỏ đau hoặc cứng trông giống như một vết loét niêm mạc phổ biến mà không chữa lành.

– Một khối u có thể cảm nhận được ở môi hoặc trong miệng hoặc cổ họng.

– Có sự chảy máu bất thường, đau hoặc bị tê cứng vùng miệng.

– Đau hoặc khó khăn khi nhai, nuốt.

– Cổ họng bị đau thường xuyên hoặc có cảm giác vướng víu trong cổ họng.

– Các răng giả bám không khít hoặc trở nên khó chịu do bị sưng hàm.

– Có sự thay đổi giọng nói hoặc khàn tiếng kéo dài lâu ngày.

– Đau trong tai.

Các vị trí hay mắc phải ung thư biểu mô tế bào vùng miệng là môi dưới, lưỡi và sàn miệng, tuy nhiên không có nghĩa là ung thư biểu mô không xuất hiện ở các vùng khác. 30-80% bệnh nhân bị ung thư miệng có tổn thương thứ cấp trong các hạch bạch huyết ở cổ (di căn). Ở giai đoạn muộn, tế bào ung thư có thể lan đến các hạch bạch huyết khu vực, phổi, gan và xương.

Cũng như các bệnh ung thư khác, việc chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào vùng miệng trong giai đoạn đầu sẽ giúp cho việc điều trị trở nên đơn giản và hiệu quả hơn rất nhiều. Ung thư biểu mô tế bào gai vùng miệng thường được điều trị bằng phẫu thuật và (hoặc) xạ trị.

Phẫu thuật nhằm loại bỏ khối u nguyên phát và cắt rộng ra các mô bình thường xung quanh để chắc chắn loại bỏ hoàn toàn mô ung thư biểu mô cũng là phương pháp quen thuộc trong việc điều trị ung thư. Nếu bệnh nhân được phẫu thuật trong giai đoạn đầu của ung thư sẽ thuận lợi hơn. Ở các giai đoạn sau, có thể cần tạo hình cho các bộ phận của miệng hoặc khuôn mặt.

Hóa trị cũng có thể được sử dụng để điều trị các bệnh ung thư biểu mô tế bào vùng miệng, ở những người bệnh được xác định có di căn đến mô và cơ quan khác. Một số biến chứng có thể xảy ra sau xạ trị hoặc hóa trị ung thư như viêm loét niêm mạc miệng, đau, chảy máu, nhiễm trùng, khô miệng và sâu răng.

Theo Tuổi trẻ online

Ung Thư Vùng Kín Đang Trẻ Hóa

Ung thư ‘vùng kín’ ở nữ giới tuy chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhưng để lại rất nhiều rắc rối cho chị em.,Báo Phụ Nữ Kiều Việt thông…

Tại Bệnh viện (BV) Ung bướu TPHCM, từ năm 2010 đến 2012, 74 nữ bệnh nhân bị ung thư ‘vùng kín’ được phẫu thuật điều trị trước khi xạ trị và được theo dõi đến thời điểm này, cho thấy tỉ lệ sống còn sau trung bình năm năm là gần 75%. Đây là tỉ lệ rất cao, ngang bằng với các trung tâm lớn nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới.

BS Trần Đặng Ngọc Linh, Trưởng khoa Y học Hạt nhân, BV Ung bướu, cho biết ung thư âm hộ (tạm gọi là vùng kín) là bệnh lý ít gặp trong các loại bệnh ung thư ở phụ nữ nói chung và ung thư đường sinh dục nói riêng. Theo y văn thì ung thư vùng kín chiếm 3%-5% trong tất cả loại ung thư sinh dục nữ. Tại chúng tôi ung thư vùng kín chiếm khoảng 0,5% trong các loại ung thư ở nữ giới. Tuy ít gặp nhưng nó cũng để lại khá nhiều những rắc rối cho chị em.

Theo BS Linh, trước năm 2004, trước khi mổ điều trị ung thư vùng kín cho chị em, BV thực hiện cắm phóng xạ vào khối bướu ở vùng kín, chờ bướu tan hết thì bước tiếp theo sẽ phẫu thuật. Nhưng việc cắt vùng kín thời điểm đó cũng cắt toàn bộ và cắt rộng ra bẹn hai bên. Bên cạnh đó, nguồn phóng xạ dùng cho bệnh nhân là phóng xạ hở, nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với nguồn phóng xạ và bị phơi nhiễm dù đã được che chắn. Với hai nhược điểm đó, BV đã ngưng phương pháp trên và chuyển qua phương pháp phẫu thuật trước khi xạ trị.

‘Sau 2004, ngay lúc đầu bệnh nhân vào được chẩn đoán là ung thư vùng kín thì sẽ được tiến hành phẫu trị. Thuật phẫu trị gọn và cũng cắt nhỏ lại phù hợp với từng người, không nhất thiết là cắm phóng xạ và mổ thật rộng. Cũng chính vì vậy mà chất lượng sống cũng tăng lên, tác dụng phụ sau điều trị cũng hiếm gặp’, BS Linh cho biết.

Cũng theo BS Linh, do ung thư ‘vùng kín’ diễn tiến tại chỗ, không di căn xa nên chỉ cần phẫu trị và xạ trị. Nếu cắt an toàn, cắt hết khối bướu thì không cần xạ trị thêm. Trường hợp cắt không hết khối bướu thì sẽ xạ trị bổ túc hoặc khi có di căn hạch.

Trước đây ung thư vùng kín thường gặp ở người lớn tuổi (55-82 tuổi). Tuy nhiên, hiện nay, lứa tuổi trẻ hơn (35-55) cũng có thể gặp. Theo BS Linh, nhóm người lớn tuổi sau khi hết kinh, vùng kín bị xơ teo – tế bào bị teo, thiếu nội tiết lâu ngày xuất hiện những phân bào bất thường thành ung thư.

Cạnh đó, nhóm người trẻ tuổi bị ung thư vùng kín là do nhiễm vi-rút HPV (vi-rút này chiếm 99% gây ung thư cổ tử cung). ‘Do vậy, cần phát hiện sớm các dấu hiệu ung thư và điều trị liền thì sẽ khỏi luôn. Có người sống đến vài chục năm. Ở nhóm đối tượng trẻ thì nên tiêm ngừa vi-rút HPV’ – BS Linh khuyến cáo.

Tổng Quan Về Ung Thư Vùng Họng

Ung thư vùng họng là một nhóm các ung thư tại thanh quản, dây thanh âm và các bộ phận khác của cổ họng như amidan và hầu họng. Ung thư vùng họng thường được phân thành hai loại: ung thư hầu họng và ung thư thanh quản.

Ung thư vùng họng là một nhóm các ung thư tại thanh quản, dây thanh âm và các bộ phận khác của cổ họng như amidan và hầu họng. Ung thư vùng họng thường được phân thành hai loại: ung thư hầu họng và ung thư thanh quản.

Ung thư vùng họng thường ít gặp hơn so với các bệnh ung thư khác. Theo thống kê ở Hoa Kỳ tỉ lệ mắc phải ung thư vùng họng:

Khoảng 1,2% được chẩn đoán mắc bệnh ung thư khoang miệng và ung thư vùng họng.

Khoảng 0,3% được chẩn đoán mắc bệnh ung thư thanh quản trong suốt cuộc đời.

Ung thư biểu mô tế bào vảy: Dạng ung thư này ảnh hưởng đến các tế bào phẳng lót cổ họng. Phổ biến và thường gặp hơn.

Ung thư biểu mô tuyến: Dạng này ảnh hưởng đến các tế bào tuyến và rất hiếm.

Ung thư vòm họng: Ung thư này phát triển ở hầu họng – là ống rỗng chạy từ sau mũi đến đỉnh khí quản. Ung thư vùng họng phát triển ở cổ và cổ họng bao gồm phần trên, giữa và dưới của cổ họng.

Ung thư thanh quản: Ung thư này hình thành trong thanh quản – nơi chưa dây thanh âm giúp phát ra giọng nói.

Rất khó phát hiện ung thư vùng họng ở giai đoạn đầu. Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến của ung thư vùng họng bao gồm:

Nên đi khám bác sĩ nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số này mà không cải thiện sau từ 2 đến 3 tuần.

Nam giới có nhiều nguy cơ mắc ung thư vùng họng hơn phụ nữ. Một số thói quen sinh hoạt làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vùng họng, bao gồm:

Bác sĩ cần biết các triệu chứng và tiền sử bệnh lý. Nếu có các triệu chứng như đau họng, khàn giọng và ho dai dẳng mà không cải thiện mà không rõ nguyên nhân thì có thể nghi ngờ mắc ung thư vùng họng.

Nội soi vùng hầu họng giúp bác sĩ nhìn rõ hơn bên trong cổ họng. Nếu kỹ thuật này cho thấy sự bất thường, bác sĩ có thể lấy một mẫu mô (sinh thiết) từ cổ họng và kiểm tra phân tích tế bào.

Nếu phát hiện các tế bào ung thư trong cổ họng, một số các xét nghiệm bổ sung có thể cần thực hiện để xác định giai đoạn hoặc mức độ ung thư. Các giai đoạn này được chia thành các giai đoạn từ 0 đến 4.

Chẩn đoán hình ảnh của ngực, cổ và đầu có thể cung cấp thêm các thông tin về tiến triển bệnh bệnh. Những kỹ thuật này này có thể bao gồm:

Các lựa chọn điều trị cho bệnh ung thư vùng họng bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Phương pháp điều trị được bác sĩ lựa chọn sẽ phụ thuộc vào mức độ bệnh và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và các yếu tố khác.

Nếu khối u trong cổ họng có kích thước nhỏ, bác sĩ có thể phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Phẫu thuật này có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:

Sau khi loại bỏ khối u có thể cần tiến hành xạ trị. Xạ trị sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư ác tính còn sót lại sau phẫu thuật. Các loại xạ trị bao gồm:

Liệu pháp xạ trị 3D: Chùm tia phóng xạ được điều chỉnh theo hình dạng của khối u. Đây là cách phổ biến nhất được áp dụng cho ung thư thanh quản và vùng họng.

Brachytherou: Hạt phóng xạ được đặt trực tiếp bên trong khối u hoặc gần với khối u. Phương pháp này ít được áp dụng hơn.

Trong trường hợp khối u lớn và đã di căn đến các hạch bạch huyết và các cơ quan hoặc mô khác, bác sĩ có thể đề nghị hóa trị kết hợp xạ trị. Hóa trị là một loại thuốc tiêu diệt và làm chậm sự phát triển của các tế bào ác tính.

Các liệu pháp nhắm mục tiêu là các loại thuốc ngăn chặn sự lây lan và phát triển của các tế bào ung thư bằng cách can thiệp vào các phân tử cụ thể chịu trách nhiệm cho sự phát triển của khối u. Một loại trị liệu nhắm mục tiêu được sử dụng để điều trị ung thư vùng họng là cetuximab (Erbitux).

Một số người bị ung thư vùng họng gặp biến chứng có thể bao gồm:

Nếu được chẩn đoán sớm, ung thư vùng họng có tỷ lệ sống sót cao. Ung thư vùng họng có thể không thể chữa khỏi một khi các tế bào ác tính lan sang các bộ phận của cơ thể ngoài cổ và đầu. Tuy nhiên, những người được chẩn đoán có thể tiếp tục điều trị để kéo dài cuộc sống của họ và làm chậm sự tiến triển của bệnh.

Không có cách nào để ngăn ngừa ung thư vùng họng một cách hoàn toàn, nhưng có thể áp dụng các biện pháp để giảm yếu tố nguy cơ:

Duy trì lối sống lành mạnh: Ăn nhiều trái cây, rau và thịt, giảm lượng chất béo và natri, duy trì cân nặng hợp lý. Hoạt động thể chất ít nhất 2,5 giờ/tuần.

Giảm nguy cơ nhiễm vi-rút: Tiêm ngừa vắc-xin virus HPV và quan hệ tình dục một cách an toàn.