Top 6 # Ung Thư Xoang Biểu Mô Dạng Hiếm Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Biểu Mô Thận Dạng Nhú Di Truyền

HPRC được di truyền như thế nào?

Thông thường, mỗi tế bào có 2 bản sao của một gen: 1 được thừa hưởng từ mẹ và 1 được thừa hưởng từ cha. HPRC tuân theo quy luật di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, trong đó đột biến chỉ cần xảy ra trong 1 bản sao của gen thì đã có nguy cơ mắc bệnh. Điều này có nghĩa là cha hoặc mẹ có đột biến gen có thể truyền lại một bản sao của gen bình thường hoặc một bản sao của gen có đột biến. Do đó, một đứa trẻ có cha hoặc mẹ bị đột biến có 50% khả năng thừa hưởng đột biến này. Anh, chị, em, cha hoặc mẹ của người bị đột biến cũng có 50% khả năng có đột biến tương tự.

Đối với những người mang đột biến gen làm tăng nguy cơ mắc ung thư di truyền nhưng vẫn mong muốn có con hoàn toàn khỏe mạnh thì vẫn có một số lựa chọn. Chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) là một thủ thuật y khoa được thực hiện kết hợp với thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này cho phép những người mang đột biến gen giảm bớt khả năng con cái sẽ thừa hưởng bệnh lý này. Trứng của một người phụ nữ được lấy ra và thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Khi phôi đạt đến một kích thước nhất định, 1 tế bào sẽ được tách ra kiểm tra tình trạng di truyền về gen đột biến. Sau đó, cha mẹ có thể chọn chuyển phôi không mang đột biến. PGD ​​đã được áp dụng trong hơn 2 thập kỷ, đặc biệt cho một số hội chứng có thể gây ung thư di truyền. Tuy nhiên, đây là một thủ thuật phức tạp với nhiều yếu tố cần phải xem xét như tài chính và sức khỏe về cả thể chất lẫn tinh thần. Để biết thêm thông tin, hãy tham vấn với bác sỹ chuyên khoa hỗ trợ sinh sản.

HPRC là một bệnh hiếm gặp. Số lượng người và gia đình mắc HPRC chưa được xác định chính xác.

HPRC được chẩn đoán như thế nào?

Cần nghĩ đến HPRC khi nhiều thành viên trong gia đình bị ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 hoặc ung thư tế bào thận đa ổ loại 1 hai bên. Xét nghiệm di truyền để tìm kiếm đột biến gen MET cần được thực hiện cho những người nghi ngờ có HPRC.

Nguy cơ cụ thể đối với ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 ở những gia đình có người mắc HPRC là cao và hầu hết những người bị mắc bệnh sẽ hình thành khối u trong suốt cuộc đời của họ. Nếu được chẩn đoán ung thư thận, bạn cần trao đổi với bác sĩ về các lựa chọn điều trị. Hiện nay, phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị khối u cục bộ ở những người bị HPRC. Một loại thuốc tên là Foretinib cho thấy bằng chứng hiệu quả trong một nghiên cứu nhỏ nhưng hiện tại chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận. Các loại thuốc khác trong lĩnh vực này cũng đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.

Phương tiện tầm soát HPRC?

Không có hướng dẫn sàng lọc cụ thể cho những gia đình nghi ngờ có HPRC. Các thành viên trong những gia đình này được khuyến khích tham vấn bác sĩ về lựa chọn thích hợp tầm soát ung thư thận, bao gồm:

Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT), sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh 3 chiều bên trong cơ thể. Sau đó, một máy tính kết hợp những hình ảnh này thành lát cắt ngang chi tiết cho thấy những điểm bất thường hoặc khối u.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), sử dụng từ trường thay vì tia X, để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. Một số bác sĩ đề nghị rằng những cá nhân có HPRC, hoặc tiền căn gia đình gợi ý HPRC, nên được kiểm tra hàng năm bắt đầu ở tuổi 30 hoặc sớm hơn.

Siêu âm ngoài CT và/hoặc MRI. Siêu âm sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của các cơ quan bên trong.

Các phương tiện sàng lọc có thể thay đổi theo thời gian khi các công nghệ mới được phát triển và nhiều kiến thức mới về HPRC được cập nhật. Điều quan trọng là tham vấn ý kiến bác sỹ về các xét nghiệm tầm soát phù hợp.

Tìm hiểu thêm về Những kết quả mong đợi khi thực hiện xét nghiệm, thủ thuật và hình ảnh học thông thường.

Bạn cần hỏi bác sỹ những gì?

Nếu bạn lo lắng về nguy cơ ung thư thận, hãy nói chuyện với các nhân viên y tế. Bạn có thể hỏi những câu hỏi sau

Nguy cơ ung thư thận của tôi như thế nào?

Tôi có thể làm gì để giảm nguy cơ ung thư?

Tôi có thể lựa chọn những phương tiện nào để tầm soát ung thư?

Nếu bạn lo lắng về tiền căn gia đình và nghĩ rằng bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình có thể có HPRC, bạn có thể hỏi những câu hỏi sau :

Tiền căn gia đình có làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư thận của tôi hay không?

Tôi có cần tham vấn chuyên gia di truyền hay không?

Tôi có cần thực hiện các xét nghiệm di truyền?

Di truyền học của ung thư Những gì mong đợi khi bạn gặp một cố vấn di truyền Thu thập tiền sử ung thư gia đình bạn Chia sẻ kết quả xét nghiệm di truyền với gia đình bạn Viện ung thư quốc gia Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ

Để tìm một cố vấn di truyền trong khu vực của bạn, hãy tham vấn bác sĩ của bạn hoặc truy cập các trang web sau:

Hiệp hội cố vấn di truyền quốc gia https://www.cancer.net/cancer-types/hereditary-papillary-renal-carcinoma

HÌNh Ảnh Học Trong Ung Thư Đại TrÀNg Dạng Biểu MÔ Tuyến

Ung thư đại tràng là ung thư phổ biến nhất của đường tiêu hóa (GI) và có tiên lượng tốt nhất. Tỉ lệ sống sót sau 5 năm khoảng 50%, có thể cải thiện bằng cách sàng lọc và loại bỏ các polyp dạng tuyến.

Bắt đầu đánh giá bằng việc hỏi bệnh sử, khám thực thể, gồm cả thăm khám hậu môn – trực tràng. Quan sát phân, làm xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân.

Xét nghiệm máu gồm công thức máu, chức năng gan, nồng độ CEA

Nội soi đại tràng xích ma (ống soi cứng hoặc mềm), chụp X-quang đại tràng có bơm thuốc cản quang, nội soi đại tràng đều nên thực hiện. Chụp CT đại tràng hoặc CT nội soi đại tràng (còn gọi là nội soi đại tràng ảo) nên thực hiện để đánh giá toàn bộ đại tràng.

Nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm 60cm có phạm vi quan sát lớn hơn soi với ống soi cứng – tốt nhất chỉ soi tới đoạn xa đại tràng sigma (20cm). Chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện được hầu hết các khối u đại tràng (80 – 95%), tuy nhiên nên nội soi đại tràng sigma bằng ống soi mềm trước, vì nội soi có thể phát hiện được các tổn thương nhỏ. Chụp x-quang đại tràng cản quang có tỉ lệ thủng ruột thấp (1/25000)

Nội soi đại tràng phát hiện được nhiều polyp dạng tuyến hơn so với chụp x-quang đại tràng cản quang, và polyp có thể được cắt bỏ trong khi thực hiện thủ thuật. Nội soi đại tràng đắt hơn gấp 3 lần, và có tỉ lệ thủng cao hơn (1/1700) chụp x-quang đại tràng cản quang, và không thể soi được tới manh tràng trong 5-30% bệnh nhân.

X-quang bụng thẳng hữu ích đối với BN có tắc ruột già, hoặc thủng ruột. Hơi tự do dưới hoành được phát hiện tốt nhất bằng X-quang bụng đứng thẳng. Hiếm khi, K đại tràng sinh chất mucin cho thấy hình ảnh vôi hóa ở u nguyên phát, ở gan và lắng đọng thứ phát trong phúc mạc.

Chụp đại tràng đối quang kép phát hiện được khoảng 90% các khối u đại tràng

50% khối u bị bỏ qua trên phim x-quang có cản quang được cho là do lỗi người đọc; nhờ một người khác đọc lại phim lần thứ hai có thể giảm các lỗi như vậy. Khi có viêm túi thừa đại tràng sigma trầm trọng, tỉ lệ bỏ lỡ các sang thương ung thư tăng lên. Những sang thương nhỏ có thể không thấy được trong môi trường dầy đặc chất baryt.

Phân còn sót lại có thể che khuất một ung thư biểu mô (carcinoma), trường hợp này cần kiểm tra lại hoặc cho nội soi đại tràng. Phân còn sót có thể dính vào thành ruột và cho hình ảnh giả giống khối u.

Van hồi manh tràng có thể cho ảnh giả giống khối u manh tràng Một khối dưới niêm mạc như: u mỡ, u tuyến niêm mạc lành tính, hoặc polyp tăng sản có thể không phân biệt được với ung thư dạng polyp.

Bệnh viêm ruột, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ, viêm đại tràng do tia xạ và do lao đều có thể cho hình ảnh giả giống một chỗ hẹp ác tính. Đè ép từ bên ngoài đại tràng do khối u gần kề có thể giả như u nguyên phát tại đại tràng. Carcinoma buồng trứng hoặc lạc nội mạc tử cung tiến triển có thể giả như khối u đại tràng nguyên phát. Sang thương thứ hai có nhiều khả năng bị bỏ qua (do hài lòng vì đã phát hiện được khối u, không tìm tiếp nữa)

Khoảng 5% bệnh nhân K đại tràng có nhiều hơn 1 khối u tại thời điểm chẩn đoán(hình dưới)

Khoảng 35% BN K đại tràng có 1 polyp dạng tuyến (hình dưới)

Hầu hết K đại tràng đều tiến triển, đường kính đo được khoảng 3-4 cm ở thời điểm chẩn đoán. Hình dạng đại thể của khối u trên phim x-quang đại tràng cản quang gồm: dạng polyp, dạng vòng và dạng phẳng.

Các sang thương dạng vòng là do khối gây chít hẹp lòng đại tràng. Sự không đều của niêm mạc và một lòng ống bất thường với phần vai nhô ra (sang thương hình lõi táo). Những nếp gấp niêm mạc trong phần hẹp bị phá hủy, loét hiện diện (hình dưới)

Sang thương dạng phẳng, hiếm gặp, được thấy như một tổn thương ở một bên, diện rộng. Loét có thể hiện diện (hình dưới). Sang thương loét có thể thâm nhiễm thành ruột, nếu lan rộng, sẽ gây ra một vùng không căng phồng được.

Các ung thư biểu mô nhỏ thường là một khối có dạng polyp với bề mặt mịn; thường không thể phân biệt với một polyp lành tính. Hiếm khi chúng hiện diện như một sang thương phẳng nhỏ.

Một polyp không cuống có thể có bóng hình bán nguyệt (hoặc vòng nhẫn) trên thành ruột (hình dưới)

Sang thương dạng polyp đường kính lớn hơn 2cm thường phân thùy.

Nguy cơ ác tính của polyp tăng theo kích thước của nó. Nguy cơ dưới 1% ở polyp đường kính dưới 1cm. Nguy cơ lên đến 5% ở các ung thư tế bào tuyến có đường kính 1 – 2 cm. Bệnh nhân có polyp lớn hơn 2cm có nguy cơ ác tính 11 – 50%. Do đó, tất cả sang thương dạng polyp từ 0.5 – 3 cm đều cần nội soi cắt đi và làm giải phẫu bệnh lý.

Các khối u nguyên phát có thể gây ra các biến chứng sau:

CT scan dùng để phân giai đoạn khối u trước phẫu thuật, để đánh giá khả năng tái phát, phát hiện các di căn xa. K đại tràng được chẩn đoán trên CT đôi khi chỉ là phát hiện ngẫu nhiên. CT scan trước phẫu thuật được chỉ định nếu trên lâm sàng nghi ngờ có di căn xa hoặc có u xâm lấn các cơ quan lân cận, thành ruột.

Bệnh nhân lớn tuổi không thể nội soi hoặc chụp xquang đại tràng cản quang được thì có thể dùng CT để phát hiện u đại trực tràng.

Một khối u khu trú trên CT là một khối có mật độ của mô mềm, trong lòng ruột hoặc trong thành ruột tiếp giáp với lòng ruột chứa đầy hơi hoặc chất cản quang; đó là hình ảnh của khối u giai đoạn A. Không có dày thành ruột hoặc xâm nhiễm mỡ quanh đại tràng.

Carcinoma dạng vòng được phát hiện bởi dày thành đại tràng và hẹp lòng ruột. Sự dày này đồng tâm nếu mặt phẳng quét vuông góc với trục dài của ruột (hình dưới).

Xâm lấn của khối u ra bên ngoài đại tràng là hình ảnh mất mô mỡ giữa đại tràng và cấu trúc xung quanh (hình bên dưới). Cơ bị xâm lấn có thể to ra (hình thứ 2 bên dưới). So sánh với hình chụp x-quang đại tràng cản quang (hình thứ 3 bên dưới). Khối u đại tràng có thể xâm lấn vô thành bụng trước, gan, tụy, lách và dạ dày.

Tắc ruột, thủng, tạo lỗ dò có thể thấy trên CT scan. Một khối u đại tràng gây lồng ruột có thể có hình bia điển hình với các vòng luân phiên mô mềm và mô mỡ trên CT, nếu mỡ mạc treo ở giữa các phần ruột bao bên ngoài và phần ruột bị lồng vào trong.

Thủng khu trú của carcinoma có thể kết hợp tụ dịch bên ngoài ruột.

Hạch to ra có thể thấy ở mạc treo ruột và sau phúc mạc (hình dưới). Thỉnh thoảng, hạch to ra ở quanh tĩnh mạch cửa của gan (hình thứ 2 bên dưới)

K đại tràng sigma – trực tràng có thể di căn đến nhóm hạch chậu ngoài.

Di căn gan là vị trí khối u lan ra xa thường gặp nhất. Sau khi tiêm cản quang (hình dưới), CT phát hiện gan bị di căn là những vùng giảm đậm độ (so với nhu mô gan binh thường) ở thì tĩnh mạch. Ở đầu thì động mạch, di căn gan có thể cho hình vành nổi bật, hoặc là những vùng tăng đậm độ hoặc cùng đậm độ với mô gan xung quanh

Khối di căn gan có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu kích thước dưới 3cm, số lượng ít hơn 3 và ở vị trí phù hợp (hình dưới), những trường hợp khác hóa trị hoặc xạ trị sẽ thích hợp hơn.

Vị trí di căn khác thường gặp là phổi, tuyến thượng thận, phúc mạc và mạc nối.

Dù di căn phổi có thể được phát hiện bởi x-quang ngực thẳng (hình dưới), CT vẫn có độ nhạy cao hơn đối với các di căn nhỏ (<10mm).

Di căn xương và não không thường gặp (hình dưới)

CT scan được thực hiện lại 3 tháng sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u. Ung thư tái phát được phân loại giống như ung thư nguyên phát đã nói ở trên. Tỉ lệ tái phát khu trú khoảng 20 – 40%, tỉ lệ di căn xa khoảng 35% sau phẫu thuật. Hầu hết các di căn xa xảy ra trong vòng 2 năm sau khi phẫu thuật.

Mặc dù nội soi đại tràng và chụp x-quang đại tràng cản quang phát hiện thay đổi ở niêm mạc chỗ tái phát u tốt hơn, CT vẫn có thể phát hiện sự tái phát thông qua hình ảnh thông nối mạch máu cũng như phát hiện hạch to và di căn xa. Khối u tái phát thường to điển hình, thường nằm ngoài thành ruột (hình dưới). Tiêu chuẩn khối u tái phát trên CT gồm: u xâm lấn vào các cơ quan lân cận, to ra kèm theo phì đại các hạch bạch huyết.

Một khối viêm sau phẫu thuật hoặc xạ trị có thể giả giống khối u tái phát, cần phải sinh thiết để phân biệt. Khối mô mềm sau phẫu thuật thường do mô hạt phát triển, nhưng cũng có thể do máu tụ hoặc ap-xe. Những trường hợp này, 60% sẽ thuyên giảm, 40% khối vẫn không thay đổi sau 2 năm. Cả khối u tái phát lẫn khối viêm đều có thể gây thận ứ nước do làm tắc nghẽn niệu quản (hình dưới)

Sang thương đại tràng < 2cm thường không được phát hiện. Độ chính xác và chất lượng của CT có thể được tăng lên bằng cách sử dụng hơi cản quang (hơi bơm trực tràng), thuốc giãn cơ trơn và thuốc nhuận tràng. CT scan đánh giá chính xác hơn đối với ung thư giai đoạn T4. Độ phân giải của CT quá thấp để phân biệt tổn thương từ T2 đến T3.

K đại tràng có thể không phân biệt được với khối u lành tính kích thước lớn cũng như ung thư di căn từ nơi khác đến đại tràng (thường là K buồng trứng nguyên phát)

Dấu hiệu K đại tràng trên CT không đặc hiệu, có thể do bất kỳ bệnh lý nào gây dày thành đại tràng khu trú: viêm túi thừa, bệnh Crohn, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ và viêm đại tràng do lao.

Tụ dịch quanh đại tràng có thể do viêm túi thừa, cũng như thủng ruột khu trú do carcinoma.

Khối u ở đại tràng ngang và đại tràng góc gan, góc lách có thể không thấy rõ hoàn toàn. Carcinoma dạ dày nguyên phát xâm lấn đại tràng có thể không phân biệt được với K đại tràng lan ra dạ dày.

Sang thương giảm đậm độ của gan có thể gây ra bởi các nang gan đơn giản hơn là do di căn ung thư. Các bướu máu cũng có thể gây nhầm lẫn.

Vai trò chính của siêu âm ở các bệnh nhân K đại tràng là phát hiện di căn gan. Tỉ lệ phát hiện di căn gan của siêu âm khoảng 70 – 90%, tùy thuộc vào người vận hành, kích thước khối di căn.

Siêu âm thường không thể phát hiện khối u đại tràng nhỏ hơn 2cm, và khó phát hiện sang thương ở đại tràng sigma – trực tràng. Nó có tỉ lệ âm tính giả cao để phát hiện các khối u đại tràng, với độ nhạy là 31 – 80%, phụ thuộc vào kích thước khối u, và không thể sử dụng như một phương tiện sàng lọc. Ngược lại, tỉ lệ dương tính giả thấp, với độ đặc hiệu trên 90%.

Siêu âm giúp giảm việc thực hiện các thủ thuật xâm lấn không cần thiết đối với bệnh nhân lớn tuổi, bệnh tiến triển nặng.

Di căn gan từ khối u đại tràng nguyên phát thường tăng âm hơn so với mô gan bình thường, nhưng đôi khi cũng có giảm âm.

Trên siêu âm, khối u đại tràng điển hình có echo kém với phần trung tâm tăng âm, tức dấu hiệu hình bia (hình dưới). Các phát hiện khác bao gồm dày thành đại tràng bất thường khu trú, đường viền không đều, thiếu nhu động ruột bình thường.

Khối u đại tràng lồng ruột có hình bia điển hình gồm những vòng đồng tâm của mô mềm và mỡ mạc treo (hình dưới)

C arcinoma manh tràng gây lồng ruột trên siêu âm

Nguồn: http://emedicine.medscape.com/article/367061-overview#showall

Ung Thư Biểu Mô Là Gì? Các Loại Ung Thư Biểu Mô

Ung thư biểu mô là gì? Ung thư biểu mô là tên gọi chung của các bệnh ung thư bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Những tế bào này tạo thành mô lót các bề mặt bên trong và bên ngoài cơ thể bạn.

Điều này có nghĩa là, ung thư có thể xảy ra ở bề mặt ngoài da, các cơ quan nội tạng, bên trong các cơ quan rỗng, đường tiêu hóa và ngay cả trong mạch máu. Ung thư biểu mô là loại ung thư phổ biến, được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên tế bào mà chúng bắt đầu.

– K biểu mô tế bào đáy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp sâu nhất của biểu mô, được gọi là tế bào cơ bản.

– K biểu mô tế bào vảy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp trên cùng của biểu mô gọi là tế bào vảy.

– K biểu mô tế bào chuyển tiếp: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào co giãn trong biểu mô đường tiết niệu.

– K tế bào thận: Ung thư phát triển trong các tế bào biểu mô của hệ thống lọc của thận.

– K biểu mô tuyến: Bắt đầu trong các tế bào biểu mô chuyên biệt, được gọi là tế bào tuyến.

– Sarcoma (Ung thư mô liên kết): Ung thư này khác với K biểu mô vì chúng bắt đầu trong các tế bào trong gân, xương, sụn, và mô liên kết. Sarcoma xảy ra ít xảy ra hơn so với ung thư biểu mô

Các Loại Ung Thư Biểu Mô Phổ Biến Nhất

Nhiều loại ung thư biểu mô khác nhau có thể phát triển trong cùng một cơ quan. Do đó thay vì phân loại ung thư theo cơ quan nội tạng, người ta phân loại theo nhóm:

Ung thư biểu mô tế bào đáy

Ung thư chỉ xảy ra trong da. Theo Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, khoảng 80% tất cả các bệnh ung thư da phát triển khối u ác tính là ung thư biểu mô tế bào đáy. Loại ung thư này rất chậm phát triển và hầu như không lây lan.

Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC)

Thông thường, ung thư biểu mô tế bào vảy đề cập đến ung thư da nhiều hơn, nhưng nó cũng thường ảnh hưởng đến các bộ phận khác như:

– Da: Ung thư thường phát triển chậm và không lan rộng. Tuy nhiên, sự xâm lấn và di căn cục bộ xảy ra thường xuyên hơn so với ung thư biểu mô tế bào đáy.

– Phổi: Ung thư tế bào vảy đại diện khoảng 25% tất cả các bệnh ung thư phổi.

– Thực quản. Hầu hết các bệnh ung thư ở thực quản trên biểu mô tế bào vảy.

– Đầu và cổ. Hơn 90% bệnh ung thư ở miệng, mũi và cổ họng là ung thư tế bào vảy SCC.

K biểu mô tế bào thận

Đây là ung thư chiếm khoảng 90% tất cả các khối u thận

K biểu mô tế bào chuyển tiếp

Các tế bào chuyển tiếp được tìm thấy ở khung chậu thận và ống dẫn nước từ thận gọi là niệu quản. Ung thư tế bào chuyển tiếp chiếm khoảng 10% tất cả các ung thư thận.

K biểu mô tuyến

Khi ung thư phát triển, các tế bào biểu mô tiết ra một chất nhầy được gọi là tế bào tuyến. Những tế bào này nằm trong lớp lót của hầu hết các cơ quan.

Các loại ung thư biểu mô tuyến phổ biến nhất là: ung thư vú, địa trực tràng, phổi, tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

Phân loại ung thư biểu mô

Khi bất kỳ loại ung thư nào được chẩn đoán, tùy vào mức độ lan truyền mà chúng thường được phân thành một trong ba loại:

– K biểu mô tại chỗ: Ung thư đã lan ra bên ngoài các tế bào biểu mô mà nó bắt đầu.

– K biểu mô xâm lấn: Ung thư đã lan rộng sang các mô lân cận.

– K biểu mô di căn: Ung thư đã lan đến các phần xa của biểu mô.

Các chẩn đoán vật lý được thực hiện để xác định các triệu chứng của bạn có phải là ung thư hay không, hoặc để tìm kiếm các dấu hiệu của ung thư. Các bác sĩ sẽ dựa trên các đặc điểm khác nhau như kích thước, màu sắc, hình dạng, kết cấu, tỉ lệ tăng trưởng… để xác định liệu đó có phải là ung thư biểu mô tế bào đáy hay vảy.

Ung thư biểu mô bên trong cơ thể bạn được đánh giá bằng các xét nghiệm hình ảnh cho thấy vị trí và kích thước của tế bào ung thư. Chúng cũng có thể hiển thị nếu đã lan rộng cục bộ hoặc trong cơ thể bạn. Những xét nghiệm này bao gồm: Chụp X-quang, Quét CT, Quét MRI.

Khi đã chẩn đoán ung thư qua hình ảnh, sinh thiết. Một phần hoặc toàn bộ tế bào tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ và nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem đó có phải là ung thư hay không và ung thư thuộc loại nào.

Ung Thư Biểu Mô Được Điều Trị Như Thế Nào?

Tất cả các loại ung thư được điều trị bằng sự kết hợp của phẫu thuật, xạ trị, hóa trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ tiến triển, lây lan của ung thư.

Phẫu thuật: Được sử dụng để loại bỏ tất cả các tế bào ung thư.

Xạ trị: Được sử dụng để điều trị một khu vực cụ thể với sự lây lan ung thư cục bộ.

Hóa trị: Được sử dụng để điều trị ung thư có thể đã lan xa.

Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Tế Bào Biểu Mô Hay Không?

Ung thư tế bào biểu mô hoàn toàn có thể chữa khỏi hay không phụ thuộc vào các yếu tố: bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm hay muộn? tế bào ung thư tế bào biểu mô lan truyền tại chỗ hay đã lây lan đến các cơ quan khác?…

Biết được ung thư biểu mô là gì, cũng như cách nhận biết giúp bạn có nền tảng kiến thức chăm sóc sức khỏe cùa bản thân cũng như cho những người thân bên cạnh. Ung thư biểu mô được phát hiện sớm trước khi lan rộng có thể được chữa khỏi và cho kết quả khả quan. Bệnh càng để lâu hoặc ung thư tế bào biểu mô càng lan rộng thì việc điều trị càng trở nên khó khăn và kết quả điều trị không được hiệu quả. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển, chúng ta có thể phòng ngừa được các loại bệnh ung thư bằng chế độ ăn uống khoa học, lối sống lành mạnh và bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ngăn ngừa ung thư.

Sức khỏe của bạn là những gì bạn ăn, hạnh phúc nằm trong tầm tay bạn. Vì vậy, hãy bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất, ngay hôm nay.

Ung Thư Vú Biểu Mô

Dựa vào đặc tính của các tế bào ác tính mà bệnh ung thư vú biểu mô được chia làm 2 loại: Ung thư vú biểu mô không xâm lấn và ung thư vú biểu mô xâm lấn.

1. Ung thư vú biểu mô không xâm lấn

Một trong các dạng bệnh phổ biến nhất của ung thư vú biểu mô không xâm lấn là ung thư vú biểu mô ống dẫn tại chỗ – ống mang sữa mẹ từ các tiểu thùy đến núm vú, hay còn gọi là DCIS (Dutal carcinoma in situ). Ở dạng bệnh này, các tế bào ung thư vú bắt đầu xuất hiện và phát triển ở một trong các ống dẫn sữa của vú và chưa lan tỏa ra khỏi ống dẫn sữa hay bất kỳ mô bình thường nào xung quanh tuyến vú.

Theo ước tính của Hiệp hội ung thư Mỹ thì ở nước này cứ mỗi năm có khoảng 60.000 trường hợp DCIS được chuẩn đoán, chiếm 1/5 số lượng bệnh nhân ung thư vú mới.

Các bác sĩ thường phân loại Ung thư vú biểu mô ống dẫn tại chỗ thành các lớp khác nhau để từ đó xác định được phương pháp điều trị thích hợp: Lớp cao cấp (các tế bào ung thư tăng trưởng nhanh hơn), lớp cấp thấp (các thế bào ung thư tăng trưởng chậm hơn) và lớp trung gian ở giữa. Trong đó, lớp cao cấp được cảnh báo là có nhiều khả năng lây lan sang các mô vú xung quanh và nhiều khả năng bệnh sẽ tái phát sau khi điều trị.

Phương pháp điều trị ung thư vú biểu mô không xâm lấn

Thông thường, các bác sĩ sẽ lựa chọn phẫu thuật làm phương pháp chính cho bệnh nhân DCIS để cắt bỏ khối u. Ở phương pháp này, bệnh nhân có thể lựa chọn việc cắt bỏ toàn bộ vú và tái tạo vú bằng bằng giải phẫu thẩm mỹ hoặc chỉ cắt bỏ một phần tuyến vú và thực hiện xạ trị nếu phát hiện các tế bào còn lại của mô vú trông bất thường – lớp cao cấp. Trường hợp các tế bào của DCIS có thụ thể estrogen, bác sĩ sẽ đề nghị điều trị bằng liệu pháp hoocmon để giảm nguy cơ bệnh sẽ phát triển sang hình thức xâm lấn trong tương lai.

Đa số bệnh nhân ung thư vú được phát hiện trong giai đoạn này có thể chữa khỏi. Tuy nhiên, khi bị DCIS nghĩa là sẽ có ung cơ ung thư vú tái phát hoặc phát triển thành một dạng bệnh ung thư vú mới cao hơn so với người chưa từng bị ung thư vú.

Việc phẫu thuật một phần tuyến vú thường ít đau, ít tác dụng phụ và phục hồi nhanh hơn vì chỉ có khối u và các mô rất nhỏ bình thường xung quanh, cũng như hạch bạch huyết cần lấy ra để làm xét nghiệm. Nhưng trường hợp phẫu thuật một phần vú và không xạ trị thì nguy cơ tái phát sẽ lên đến 25-30%, còn nếu dùng xạ trị thì nguy cơ giảm xuống còn 15%. Nếu bệnh DCIS quay trở lại sau khi điều trị thì nửa thời gian đầu sẽ ở dạng không xâm lấn, nhưng có thể nửa thời gian sau sẽ phát triển thành dạng xâm lấn. Do đó, sau khi điều trị, bệnh nhân cần thường xuyên kiểm tra và theo dõi để phát hiện kịp thời các dấu hiệu DCIS tái phát. Cách tốt nhất là chụp X-quang tuyến vú định kỳ hàng năm.

2. Ung thư vú biểu mô xâm lấn

Ung thư vú biểu mô xâm lấn là dạng bệnh mà các tế bào ung thư xuất hiện và phát triển trong niêm mạc ống dẫn sữa, phá vỡ các thành của các ống dẫn và xâm lấn các mô khác trong khu vực vú. Từ đó, các tế bào ác tính có thể di căn tràn lan sang các bộ phận khác của cơ thể như xương, phổi, não, gan….Dạng bệnh này chiếm khoảng 80% trong bệnh ung thư vú.

Ung thư vú xâm lấn được chia thành các dạng như: ung thư vú biểu mô ống xâm nhập, ung thư vú biểu mô tiểu thùy xâm nhập, ung thư vú biểu mô thể tủy, ung thư vú biểu mô thể nhầy.

Đặc điểm cụ thể của các dạng ung thư vú xâm lấn được tổng quát như sau:

Là dạng bệnh thường gặp ở ung thư vú xâm lấn, chiếm 65-80% và nó có thể bao gồm cả những loại mô khác như tiểu thùy, thể tủy, thể nhầy. Khối u ở ung thư vú biểu mô xâm lấn là dạng u đặc, có thể có màu vàng và được chia làm 3 độ: độ 1 – cá biệt hóa cao, độ 2 – biệt hóa vừa và độ 3 -kém biệt hóa. Càng biệt hóa cao thì thì mức độ hình thành các ống nhỏ càng nhiều, mức độ đa dạng của nhân ít và hoạt động nhân chia ít.

Dạng ung thư này hầu hết đều có di căn hạch nách. Ngoài ra, có thể xâm nhập huyết quản và bạch mạch – muốn xác định việc bị xâm nhập hay không thì phải nhuộm HMMD với CD31 và CD34, yếu tố VII, laminin. Ngoài ra, Có 25% hiện tượng tắc mạch do u xảy ra đối với các trường hợp ung thư biểu mô ống xâm nhập, 10% xâm nhập vỏ dây thần kinh.

Là dạng bệnh phổ biến thứ 2 của ung thư vú xâm lấn, với tỉ lệ 10-14%. U ở dạng bệnh này thường rất cứng có màu nhạt và bao gồm các tế bào đồng đều nhau tương tự như tế bào trong ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ và hầu hết có tỷ lệ nhân chia thấp. Hình ảnh khi siêu âm cho thấy dạng bệnh này giống bệnh tuyến vú xơ, các tế bào phát triển bao quanh các tiểu thùy hoặc ống tạo thành hình bia và thường sắp xếp theo kiểu một hàng nhưng khó phát hiện được là u lành tính hay ác tính.

Đây là loại ung thư biệt hóa cao, các tế bào có kích thước đồng đều, sắp xếp thành những ống nhỏ được lót bởi một hàng tế bào. Các ống tế bào được bọc bởi mô liên kết xơ đặc. Thường dạng bệnh này có độ lành tính cao. Hình ảnh siêu âm thường trông như bệnh tuyến vú xơ cứng. Dạng bệnh này thường xâm nhập trong các mô mỡ.

Là dạng bệnh chiếm khoảng 5-7% trong tất cả biểu mô ung thư vú, các tế bào kém biệt hóa với mô đệm ít. Khối u thường có màu xám, đôi khi đệm cả màu vàng do hoại tử và các khối u thường có ranh giới rõ ràng, các dải tế bào u hình thành thành dải hoặc đám và không thấy xuất hiện trong mô mỡ. Thường sự phát triển và lan rộng của các tế bào ung thư tại chỗ trong ống và các tiểu thùy sẽ dẫn đến sự hình thành các cục ụ thứ phát tương tự những cục u ở ung thư biểu mô thể tủy.

Loại ung thư này chỉ chiểm tỉ lệ nhỏ khoảng 2-3.6% các trường hợp ung thư biểu mô vú với 50% diện tích u phát triển thành chất nhầy. Đây là loại biến thể của ung thư biểu mô ống xâm nhập với mật độ u phụ thuộc vào khối lượng mô đệm, mô đệm thưa thì khối u mềm. Hầu hết các khối u biểu mô nhầy đều có màu tía đến đỏ. Cần phân biệt mô thể nhầy với các u dạng nhầy lành tính – là các nang được lót bởi các tế bào mô vuông hoặc trụ lành tính với rất nhiều chất nhầy bên ngoài.

Đây là một dạng biến thể đặc biệt của ung thư biểu mô ống với độ ác tính thấp. Kích thước u có thể lớn hoặc nhỏ, mật độ u chắc và có ranh giới rõ ràng. Ở một vài trường hợp u có hình sao và thường không có hiện tượng hoại tử.

Phương pháp điều trị ung thư vú biểu mô xâm lấn

Tùy thuộc vào kích thước khối u và độ lây lan của ung thư vú biểu mô xâm lấn mà các bác sĩ sẽ lựa chọn các cách khác nhau như điều trị tại chỗ, mục tiêu là tiêu diệt khối u và các khu vực xung quanh hoặc điều trị hệ thống, mục tiêu là tiêu diệt các tế bào ung thư đã lan rộng sang các bộ phận khác.

Về điều trị tại chỗ

Thường bao gồm 2 phương pháp sau:

Phẫu thuật: Được coi là phương pháp hiệu quả nhất trong điều trị ung thư vú xâm lấn, giúp loại bỏ hoàn toàn khối u bằng cách cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ vú.Xạ trị: Phương pháp bức xạ trị liệu được dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật, có thể là bức xạ chùm tia bên ngoài, chiếu xạ một phần vú bên trong hoặc chiếu xạ một phần vú bên ngoài.

Về điều trị toàn thân:

Cũng gồm hai phương pháp điều trị.

Hóa trị: Phương pháp này thường chỉ dành cho những bệnh nhân có khối u lớn hoặc có nguy cơ tái phát cao. Các loại thuốc hóa trị sẽ được sử dụng để giúp loại bỏ các tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật và xạ trị.

Liệu pháp hoocmon: Còn gọi là liệu pháp nội tiết – các bệnh nhân sẽ được kê dơn thuốc kháng estrogen để ngăn chặn các thụ thể hoocmon của tế bào ống động mạch xâm lấn nhận estrogen và phân chia. Các loại hoocmon này sẽ làm giảm lượng estrogen trong cơ thể, từ đó ngăn ngừa các tế bào ung thư phát triển.

So sánh hai dạng bệnh phổ biến nhất của ung thư vú xâm lấn là ung thư vú biểu mô xâm lấn (IDC) và ung thư vú tiểu thùy xâm lấn (ILC) thì tuy tỉ lệ sống sót là tương tự nhau nhưng nghiên cứu cho thấy bệnh nhân ILC có triển vọng tốt hơn. Cụ thể, một nghiên cứu đã được công bố năm 1997 trên tạp chí British Journal of Cancer cho thấy ILC ít lây lan hơn, tỷ lệ sống thêm 5 năm của bệnh nhân kể từ khi điều trị là 78% và trên 30 năm là 50%, trong khi đó ở bệnh nhân IDC là 63% và 37%.