Top 3 # Ung Thư Xương Ác Tính Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

U Xương Ác Tính Nguyên Phát

Sarcom xương là bệnh lý khối u nguyên phát thường gặp thứ 2 của xương và rất ác tính. Thường gặp nhất ở độ tuổi từ 10 – 25 tuổi, tuy nhiên có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào. Sarcom xương tạo ra các tế bào xương ác tính (chưa biệt hóa) từ các tế bào u xương. Sarcom xương thường phát triển quanh đầu gối (thường gặp đầu xa xương đùi hơn là đầu gần xương chày) hoặc trong các xương dài, đặc biệt là ở khu vực đầu xương – hành xương, có thể di căn, thường di căn tới phổi hoặc các xương khác. Các triệu chứng thường gặp là sưng và đau.

Đặc điểm tổn thương trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh rất đa dạng và có thể bao gồm các đặc điểm của xơ và tiêu xương. Chẩn đoán sarcom xương dựa vào sinh thiết. Bệnh nhân cần chụp X quang và CT ngực để phát hiện di căn phổi và chụp xạ hình xương để phát hiện các khối u di căn xương. Chụp MRI toàn bộ các chi để phát hiện sớm các tổn thương nếu có. PET-CT có thể cho thấy các tổn thương di căn xa hoặc tổn thương sớm

Trong phẫu thuật thay thế chi, khối u được loại bỏ, bao gồm tất cả các mô phản ứng xung quanh và giới hạn mô bình thường xung quanh; để tránh sự lan tràn của các tế bào ung thư, khối u không bị xâm phạm. Trên 85% bệnh nhân có thể điều trị bằng phẫu thuật cắt cụt chi mà không làm giảm tỉ lệ sống sót lâu dài.

Các tổn thương vỏ xương là biến thể ít gặp của sarcom xương cổ điển, như sarcom xương lớp ngoài và lớp trong của màng xương. Sarcom xương lớp ngoài màng xương thường gặp nhất ở vỏ xương, phía sau đầu xa xương đùi và ít khi biệt hóa. Sarcom xương lớp trong vỏ xương thường là khối u ác tính ở bề mặt sụn. Tổn thương thường ở giữa xương đùi và trên phim Xquang giống như những tia nắng. Sarcom xương lớp trong vỏ xương có khả năng di căn nhiều hơn nhiều so với sarcom xương lớp ngoài vỏ xương đã biệt hóa, nhưng phần nào ít hơn so với sarcom xương điển hình. Sarcom xương lớp ngoài vỏ xương cần phẫu thuật loại bỏ khối u nhưng không cần điều trị hóa chất. Hầu hết các trường hợp sarcom xương lớp trong vỏ xương được điều trị tương tự như sarcom xương cổ điển bằng hóa chất và phẫu thuật loại bỏ khối u.

Sarcom xơ và sarcom tế bào đa hình chưa biệt hóa có những đặc điểm tương tự sarcom xương nhưng tạo ra tế bào u xơ (chứ không phải là các tế bào u xương), gặp ở cùng một nhóm tuổi và gây ra những vấn đề tương tự. Phương pháp điều trị và kết cục đối với các tổn thương biệt hóa cao tương tự như sarcom xương.

Sarcom sụn là những khối u ác tính của sụn. Chúng khác với sarcom xương về lâm sàng, điều trị, và tiên lượng. Trong sarcom sụn, 90% là u nguyên phát. Sarcom sụn cũng có thể phát triển trên nền một bệnh lý trước đó, đặc biệt là u xương sụn đa ổ và u nội sụn đa ổ (ví dụ, trong bệnh Ollier và hội chứng Maffucci). Sarcom sụn có xu hướng xuất hiện ở người già. Chúng thường phát triển trong các xương dẹt (ví dụ, xương chậu, xương bả vai) nhưng có thể phát triển ở bất kỳ xương nào và có thể xâm lấn vào các mô mềm xung quanh.

Trên Xquang thấy hình ảnh của các chấm vôi hóa. Sarcom sụn cũng thường gây phá vỡ vỏ xương là mất các bè xương bình thường. MRI có thể cho thấy hình ảnh của một khối mô mềm. Sinh thiết là cần thiết để chẩn đoán sarcom sụn và cũng có thể xác định giai đoạn của khối u (xác suất di căn). Sinh thiết bằng kim nhỏ có thể cung cấp không đủ mẫu mô.

Thường rất khó để phân biệt sarcom sụn giai đoạn sớm với u nội sụn bằng hình ảnh và thậm chí cả mô học.

Các sarcom sụn giai đoạn sớm (giai đoạn 1/2 hoặc giai đoạn 1) thường được điều trị tại vị trí tổn thương (nạo vét rộng) kết hợp với một phương pháp hỗ trợ (thường dùng như ni tơ lỏng đóng băng, chùm argon, nhiệt methyl methacrylate, tần số radio, hoặc phenol). Một số bác sĩ phẫu thuật ưu tiên phương pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u giai đoạn sớm để làm giảm nguy cơ tái phát. Ung thư giai đoạn muộn hơn được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ khối u. Khi không thể áp dụng phẫu thuật cắt bỏ khối u và duy trì chức năng, có thể cần phải cắt cụt. Do có khối u có khả năng di căn nên cần phải tiến hành một cách thận trọng để tránh sự lan rộng của các tế bào u vào các mô mềm khi sinh thiết hoặc phẫu thuật. Tái phát là không thể tránh khỏi nếu các tế bào u lan tràn. Nếu không có hiện tượng di căn, tỉ lệ điều trị khỏi phụ thuộc vào giai đoạn của khối u. Các khối u giai đoạn sớm gần như được chữa khỏi hoàn toàn nếu được điều trị thích hợp. Do những khối u này có ít mạch máu nên hóa trị liệu và xạ trị ít có hiệu quả.

Tổn thương tiêu hủy xương, đặc biệt là khả năng thâm nhiễm với bờ không đều là dấu hiệu thường gặp nhất trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, các lớp dưới màng xương có phản ứng tạo xương mới tạo nên hình ảnh vỏ hành. Phim Xquang thường không phản ánh đầy đủ mức độ tổn thương của xương và khối u phần mềm lớn xung quanh xương bị tổn thương. MRI đánh giá mức độ tổn thương tốt hơn và có thể giúp lựa chọn phương pháp điều trị. Nhiều bệnh lý khối u lành tính và ác tính có thể có các dấu hiệu tương tự, do đó chẩn đoán sarcom Ewing dựa trên kết quả sinh thiết. Một số trường hợp khối u có thể bị nhầm lẫn với một bệnh nhiễm khuẩn. Chẩn đoán mô bệnh học phù hợp có thể kết hợp với các dấu ấn phân tử để đánh giá bất thường nhiễm sắc thể đơn dòng điển hình.

U lympho của xương (trước kia là sarcom tế bào lưới) thường xuất hiện ở người lớn, độ tuổi 40 và 50 tuổi. Nó có thể xuất hiện ở bất cứ xương nào. Khối u bao gồm các tế bào tròn nhỏ, thường có phối hợp với các tế bào lưới, nguyên bào lympho và các tế bào lympho. Nó có thể phát triển như một khối u xương nguyên phát đơn độc, kết hợp với những khối u tương tự trong các mô khác, hoặc di căn từ bệnh của hệ lympho phần mềm được biết trước đó. Đau và sưng là các triệu chứng thường gặp của u lympho xương. Thường gặp gãy xương bệnh lý.

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho thấy tình trạng phá hủy xương, có thể lốm đốm hoặc loang lổ hoặc thâm nhiễm, xâm lấn, với khối u phần mềm lớn trên lâm sàng và Xquang. Trong trường hợp bệnh tiến triển, toàn bộ ranh giới của xương bệnh có thể bị mất.

Trong u lympho xương nguyên phát đơn độc, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là ≥ 50%.

U lymphô xương thường được điều trị bằng hóa trị liệu toàn thân. Xạ trị có thể được sử dụng là biện pháp phối hợp trong một vài trường hợp. Thường cần phải cố định các xương dài để phòng gãy xương bệnh lý. Cắt cụt hiếm khi được chỉ định, trừ trường hợp mất chức năng do gãy xương bệnh lý hoặc tổn thương phần mềm lan rông mà không điều trị được.

U tế bào khổng lồ ác tính, hiếm gặp, thường xuất hiện ở cuối xương dài.

Xquang cho thấy các đặc điểm điển hình của khối u ác tính (ổ tiêu xương lớn, phá vỡ vỏ, xâm lấn phần mềm, và gãy xương bệnh lý). Khối u tế bào khổng lồ ác tính phát triển trên nền khối u tế bào khổng lồ lành tính trước đó có đặc điểm là kháng với điều trị xạ trị.

Điều trị khối u tế bào khổng lồ ác tính tương tự như điều trị sarcom xương, nhưng tỷ lệ chữa khỏi thấp.

U sụn, hiếm gặp, phát triển từ các nguyên bào sụn nguyên thủy. Xu hướng xuất hiện ở cuối cột sống, thường ở giữa xương cùng hoặc gần nền xương sọ. U sụn vùng xương cùng cụt gây ra triệu chứng đau gần như là liên tục. U sụn tại nền xương sọ có thể gây ra các triệu chứng liệt dây thần kinh sọ, thường gặp nhất là các dây thần kinh đi tới mắt.

Các triệu chứng của u sụn có thể tồn tại vài tháng tới vài năm trước khi được chẩn đoán.

U sụn vùng cùng cụt có thể được điều trị khỏi bằng phương pháp phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn khối u. U sụn tại vùng nền sọ thường không tiếp cận được bằng phẫu thuật nhưng có thể đáp ứng với điều trị xạ trị.

Điều Trị U Xương Ác Tính, Triệu Chứng, Chẩn Đoán, Nguyên Nhân Gây U Xương Ác Tính

U xương ác tính là gì? Ung thư xương là khối u ác tính xuất phát từ các tế bào của xương, hay gặp nhất là ung thư xương tạo xương và tạo sụn. Ung thư xương thường gặp ở thiếu niên và thanh niên trẻ, nam gặp nhiều hơn nữ.

U xương ác tính có chữa được không? Ung thư xương hiện nay được coi là điều trị được với tỷ lệ sống thêm 5 năm từ 60-70%.

Chưa có biện pháp phòng ngừa u xương đặc hiệu. Một số biện pháp sau có thể áp dụng:

Điều trị các gãy xương tại cơ sở y tế uy tín, đi khám theo dõi định kỳ theo hẹn

Đi khám định kỳ khi có các dấu hiệu nghi ngờ không rõ ràng như đau xương thỉnh thoảng ở thanh thiếu niên, đặc biệt người có tiền sử gia đình mắc bệnh

Theo dõi trên các bệnh nhân mắc bệnh u xương lành tính như Paget xương, loạn sản xương

Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt trẻ có chiều cao lớn hơn các trẻ khác cùng lứa tuổi

Vị trí hay gặp: đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày. Vị trí ít gặp hơn là đầu trên xương đùi và đầu trên xương cánh tay; xương dẹt hay bị ung thư xương là xương chậu và xương bả vai.

Các triệu chứng ung thư xương thường gặp bao gồm:

Đau: là triệu chứng khởi đầu hay gặp nhất với tính chất: giai đoạn sớm bệnh nhân đau mơ hồ từng đợt sau đó đau liên tục làm bệnh nhân mất ăn, mất ngủ, dùng các thuốc giảm đau không giảm.

Xuất hiện khối u: u xương có thể biểu hiện là 1 đám chắc, đẩy gồ mặt da, bờ không rõ, sờ nắn không đau. U to nhanh làm biến dạng chi vùng có u. U thâm nhiễm tổ chức phần mềm, nổi rõ các mạch máu dưới da và tân tạo các mạch nhỏ. Giai đoạn muộn hơn u có thể thâm nhiễm phá vỡ mặt dạ, chảy máu gây bội nhiễm.

Gãy xương bệnh lý: vì khối u xương ác tính gây tiêu hủy xương nên có hiện tượng tự gãy xương.

Người có tiền sử gia đình mắc u xương ác tính

Người có tiền sử chấn thương đặc biệt gãy xương, đụng giập xương

Người có tiền sử phơi nhiễm với các bức xạ ion hóa ở thời gian kéo dài

Người mắc các bệnh u xương lành tính có nguy cơ chuyển dạng ác tính: bệnh Paget xương, bệnh loạn sản xương

Điều trị ung thư xương bao gồm các phương pháp sau:

Phẫu thuật:

Phẫu thuật bảo tồn chi: cắt bỏ khối u và ghép phục hồi đoạn xương đã mất hoặc thay xương giả. Chỉ định khi ung thư xương còn khu trú, chưa xâm lấn thần kinh và mạch máu

Phẫu thuật cắt cụt, tháo khớp áp dụng trong các trường hợp: Có tổn thương mạch máu và thần kinh chính của chi Gãy xương bệnh lý có nguy cơ reo rắc tế bào ung thư xương nếu phẫu thuật bảo tồn dễ tái phát Sinh thiết không đúng vị trí dẫn tới làm nhiễm bẩn sang tổ chức lành, nhiễm trùng tại u Tổn thương lan quá rộng vào phần mềm, không đáp ứng với hóa chất Trẻ em dưới 12: cân nhắc cắt cụt chi vì bảo tồn xương phát triển mạnh gây chênh lệch chiều dài quá nhiều về sau.

Hóa chất:

Hóa chất trước phẫu thuật: giúp thu nhỏ khối u nguyên phát tạo điều kiện phẫu thuật bảo tồn chi, kiểm soát các vi di căn

Hóa chất sau phẫu thuật: giảm tái phát tại chỗ đặc biệt trong phẫu thuật bảo tồn. Hạn chế di căn xa.

Tia xạ:

Chỉ định trường hợp không phẫu thuật được

Tia xạ tại chỗ có tác dụng giảm đau và làm chậm phát triển của u

Tiên lượng của ung thư xương phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Vị trí của ung thư: đầu xa của chi tốt hơn đầu gần

Thể mô bệnh học và giai đoạn của khối u

Phương pháp điều trị: hóa chất trước phẫu thuật và phẫu thuật cho tiên lượng tốt.

Bức xạ ion hóa: là tác nhân vật lý từ môi trường bên ngoài gây ung thư, chiếm tỷ lệ khoảng 18% tất cả các ung thư xương.

Chấn thương: các tác động va đập từ ngoài xương, chấn thương do thể thao, tai nạn giao thông. Một số trường hợp ung thư xương phát triển tại vùng bị va đập hoặc gãy xương.

Rối loạn di truyền: ung thư xương thường xuất hiện ở người trẻ từ 12-20 tuổi, đây là độ tuổi xương phát triển mạnh và thời gian thì quá ngắn để xuất hiện các ung thư do yếu tố môi trường.

Một số bệnh lành tính có nguy cơ chuyển dạng ung thư xương:

Bệnh Paget của xương: có thể thấy ở vú và da. Bệnh Paget ở xương tiến triển thành ung thư sau 40 tuổi

Bệnh loạn sản xương

Phân loại ung thư xương bao gồm:

Ung thư tạo xương

Ung thư tạo sụn

U tế bào khổng lồ ác tính

Bệnh sarcom Ewing

Ung thư mạch máu

Ung thư tế bào liên kết xương: sarcom sợi, sarcom mỡ, u trung mô ác tính

Các biện pháp chẩn đoán bệnh U xương ác tính

Các xét nghiệm trong chẩn đoán ung thư xương bao gồm:

Xquang xương:

Phải chụp cả phim thẳng và phim nghiêng. Chụp đối bên để so sánh.

Dấu hiệu tiêu xương: là tiêu chuẩn của ung thư xương. Có thể thầy hình nang xương, hình gặm nhấm và mất hết calci của xương

Dấu hiệu tạo xương: xen kẽ với tiêu xương nên dễ nhầm lẫn với viêm xương.

Phản ứng màng xương: Không phải là dấu hiệu đặc hiệu của ung thư xương. Trong ung thư xương màng xương không đều, phá vỡ màng xương hoặc không thấy dấu vết của màng xương do ung thư xâm lấn vào phần mềm.

Chụp cắt lớp vi tính: đánh giá mức độ lan rộng của tổng thương trong xương, trong tủy xương và ngoài xương. Có giá trị hơn cộng hưởng từ là phát hiện sự hủy xương dưới vỏ, các gãy xương khó thấy

Chụp cộng hưởng từ: Đánh giá sự lan rộng của khối u trong tủy xương, vào mô mềm, xâm lấn thần kinh, xâm lấn mạch máu.

Chụp xạ hình xương: xác định giới hạn tổn thương, theo dõi sự tiến triển của các tổn thương và hiệu quả của điều trị hóa chất. Phát hiện các ổ di căn, đặc biệt là di căn xương

Xét nghiệm mô bệnh học: có giá trị chẩn đoán, xác định loại mô bệnh học của ung thư xương.

Xét nghiệm nồng độ Phosphatase kiềm: Tăng lên khi có hoạt động của nguyên bào xương. Xét nghiệm có vai trò theo dõi và tiên lượng bệnh. Sau điều trị nếu phosphatase kiềm tăng lên trở lại nghĩ đến tái phát.

Chẩn đoán phân biệt của ung thư xương bao gồm:

Viêm tủy xương cấp: do tụ cầu chiếm tỷ lệ tới 75%, sau đó là liên cầu tan huyết nhóm A. Bệnh khởi phát ở người lớn , không rầm rộ như ở trẻ em. Bệnh nhân tăng cảm giác đau tại chỗ, sưng đau phần mềm. Xquang có mất ranh giới các mô, mất chất khoáng xương, thay đổi cấu trúc màng xương. Xét nghiệm chọc hút tủy xương và màng xương để cấy vi khuẩn giúp chẩn đoán bệnh.

Viêm tủy xương bán cấp: hình ảnh giống như ung thư xương nguyên phát trên Xquang và tăng hoạt tính phóng xạ trên xạ hình xương. Lâm sàng có sốt, tốc độ máu lắng tăng. Chọc hút khối u có dịch mủ, nuôi cấy tìm vi khuẩn.

Di căn xương thứ phát: triệu chứng bao gồm đau, tổn thương thần kinh, gãy xương bệnh lý. Các ung thư thường di căn đến xương bao gồm: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến …

Copyright © 2019 – Sitemap

Ung Thư Ác Tính Là Gì?

Cơ thể con người được ví như một cỗ máy hoàn hảo. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành của mình, có một số tế bào vượt ra ngoài sự kiểm soát, tăng trưởng không cần thiết và tạo nên một khối tế bào thừa, không có chức năng gì cả, gọi là U.

Có 2 loại u lành tính và u ác tính. U lành tính không phải là ung thư. Các u ác tính mới là ung thư. Câu hỏi “” không có câu trả lời là vì nghĩa đó.

[ Ung thư ác tính là gì] Ung thư ác tính không phải thuật ngữ khoa học. Khối u ác tính (hay ung thư) mới là thuật ngữ chính xác. Khối u ác tính gồm các tế bào thay đổi bất thường (đột biến) và có tính xâm lấn. Chúng xâm lấn vào lãnh địa của các tế bào bình thường, phát triển ở cơ quan nào thì làm hại đến hoạt động của cơ quan ấy, hủy hoại cơ quan ấy.

Các khối u lành tính không gọi là ung thư, càng không phải Ung thư ác tính như nhiều người lầm tưởng. Đa số các khối u lành tính sinh ra ở đâu thì nằm ở đó, vô hại, nó bao gồm: các nốt ruồi, hạt cơm và rất nhiều các u cục khác, trong đó có những u sâu ở bên trong người, không sờ thấy.

TÓM TẮT KHÁI NIỆM UNG THƯ ÁC TÍNH LÀ GÌ

– Ung thư ác tính: + Không phải thuật ngữ khoa học chính xác + Thuật ngữ chính xác: khối u ác tính hoặc ung thư – Gồm các tế bào: + Thay đổi bất thường (đột biến) + Có tính xâm lần + Phát triển và hủy hoại cơ quan trong cơ thể

Bạn đã biết cách gọi đúng, hỏi đúng về “Ung thư hay Khối u ác tính là gì?” thay vì “” rồi chứ! Nó được coi là tử thần gõ cửa bởi sự tàn phá các bộ phận trong cơ thể với tốc độ rất nhanh. Để hiểu hơn chúng ta cần tham khảo khái niệm Ung thư qua bài viết Ung thư là gì mà chúng tôi đã cập nhật.

Ung thư ác tính không phải thuật ngữ khoa học mà phải là Khối u ác tính mới chính xác

Ban đầu, ung thư phát sinh ở một vị trí, sau đó các tế bào ác tính có thể di chuyển đến những nơi khác trên cơ thể, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu. Sau giai đoạn tăng trưởng và xâm lấn; di căn là giai đoạn cuối và cũng là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư.

Sự phát triển bất thường của các tế bào ác tính xảy ra là do gene của tế bào bị đột biến. Sự đột biến gene này do nhiều nguyên nhân gây ra:

– Do di truyền, tế bào đã có một gene bị đột biến từ thế hệ trước. – Do môi trường (các yếu tố trong cuộc sống, các chất độc hại), đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh ung thư.

Ngày nay, tỉ lệ ung thư nhiều hơn xưa, dẫn đến việc hiểu nhầm và thắc mắc “” không khó hiểu. Thực chất, bệnh ung thư vẫn luôn tồn tại, nhưng nhiều khi không biết mình có bệnh. Một phần do khả năng chẩn đoán ung thư có hạn, phần khác tử vong vì các bệnh truyền nhiễm, tuổi thọ trung bình thấp, không đủ thời gian cho ung thư phát bệnh.

Cuộc sống ngày một được cải thiện, con người sống lâu, sống khỏe hơn. Các khối u ác có thể phát triển đến mức chín muồi, nhận thấy và chẩn đoán được, chính vì thế mà tỷ lệ phát hiện ung thư ngày nay cao hơn. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do các chất thải công nghiệp, đô thị, do các hóa chất dùng trong nông nghiệp cũng là một yếu tố kích thích sự hình thành ung thư.

Phương Thảo – Nguồn ảnh: Internet

Comments for Facebook

U Xương Ác Tính: Dấu Hiệu, Chẩn Đoán Và Cách Điều Trị

U xương ác tính được đánh giá là một trong những căn bệnh nguy hiểm và khó nhận diện trong các loại ung thư. Cụ thể dấu hiệu nhận biết ung thư xương là gì, nhóm đối tượng nào có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, bài viết chia sẻ những thông tin cụ thể về vấn đề này.

Những điều cần biết về bệnh u xương ác tính

Bệnh u xương ác tính là gì?

Tên gọi khác của bệnh u xương ác tính là ung thư xương tạo xương. Bệnh là sự hình thành các tế bào ác tính – vốn dĩ là những tế bào tạo ra xương khi chúng gặp các rối loạn về gen hoặc di truyền. Thay vì tạo ra những tế bào xương mới thì cơ thể lại tạo ra những tế bào ác tính tại bất kỳ vị trí nào của xương. U xương ác tính xảy ra phổ biến hơn ở những tế bào tạo xương và những tế bào tạo sụn.

Tỷ lệ bệnh nhân bị u xương ác tính không cao, trong đó ở những đốt xương dài khu vực cánh tay và chân, vòng quanh đầu gối hay vai dễ có nguy cơ mắc bệnh ung thư xương nhất. Những khu vực như xương chậu, xương hàm hoặc xương sườn ít khi mắc phải các dạng u ác tính. Ngoài ra ở các đốt xương ngón tay hay ngón chân thường gặp phải dạng u xương lành tính hơn so với u ác tính.

Đối tượng u xương ác tính đa phần là thiếu niên và thanh niên trẻ tuổi. Nữ giới hiếm khi gặp căn bệnh này. Tương tự như những dạng ung thư khác, u ác tính cũng có thể di căn đến nhiều cơ quan khác của cơ thể, nhanh nhất là di căn đến phổi hoặc các xương khác. U xương ác tính hiện nay có thể điều trị bằng nhiều phương pháp, nếu như điều trị sớm ở giai đoạn u tại chỗ thì tỷ lệ sống của bệnh nhân có thể kéo dài thêm 5 năm nữa, khả năng điều trị khỏi từ 60-70%.

Nguyên nhân gây u xương ác tính

Ung thư nói chung và u xương ác tính nói riêng có tính di truyền. Vì thế nếu như người bố hoặc mẹ, hoặc anh/chị em trong gia đình mắc bệnh ung thư thì nguy cơ mắc bệnh của bạn sẽ cao hơn. Các nghiên cứu chưa xác định rõ đâu là nguyên nhân chính xác gây u xương ác tính.

Ngoài ra, một nguyên nhân khó phòng tránh khác là do rối loạn di truyền. Nhóm đối tượng mắc u xương ác tính là những người trẻ tuổi, đây là độ tuổi hệ thống xương khớp đang phát triển. Vì thế những thay đổi nhỏ về di truyền, hoặc do ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường mà các tế bào ác tính cũng có thể âm thầm gây bệnh.

Bệnh u xương ác tính cũng có thể bắt nguồn từ những căn bệnh mãn tính mà thành. Phổ biến là bệnh Paget của xương, đây là một triệu c hứng rối loạn bất thường ở cấu trúc xương khá hiếm gặp. Bệnh sẽ bắt đầu bằng quá trình tái cấu trúc xương khi các tế bào xương cũ sẽ dần bị thay thế bởi các tế bào xương mới. Tuy nhiên quá trình này lại âm thầm tạo nên u ác tính ở xương, biến chứng ung thư thường xảy ra sau 40 tuổi.

Triệu chứng bệnh u xương ác tính

Đa phần người bệnh chỉ phát hiện mình mắc bệnh u xương ác tính khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn nặng. Trong giai đoạn sớm của bệnh, u xương không có biểu hiện đặc biệt. Người bệnh có thể sẽ gặp những cơn đau nhức, mệt mỏi, sưng viêm tại vùng xương bị bệnh. Tuy nhiên do những biểu hiện này rất mờ nhạt nên đa phần bệnh nhân đều nghĩ đây là triệu chứng đau nhức khớp thông thường.

Người bệnh cần chủ động thăm khám nếu nhận thấy cơn đau bất thường ở vùng đầu dưới xương đùi hoặc ở đầu trên xương chày, phía trên của đầu xương cánh tay. Ngoài ra khu vực xương chậu và xương bả vai cũng là những nơi có nguy cơ u xương cao. Ban đầu cơn đau chỉ diễn biến mơ hồ, tuy nhiên tình trạng đau thường kéo dài âm ỉ khiến người bệnh khó chịu. Ngoài ra bệnh nhân sẽ dễ bị gãy xương hơn, đặc biệt là tại vùng xương bị u do các tế bào ác tính này có thể làm tiêu hủy xương và xương tự gãy.

Sau khi các khối u ác tính bắt đầu hình thành, người bệnh sẽ nhận thấy tại vùng xương tổn thương sưng to nhất định. Ấn mạnh có thể cảm nhận vùng u ác tính nổi cục thành 1 đám chắc, khi sờ vào không thấy đau, không có bờ và u rất cứng. Đối với những khối u lâu năm, người bệnh có thể nhận thấy kích thước khối u ngày một lớn. Bên ngoài bề mặt da thâm đỏ, u lớn có thể gây vỡ mạch máu và làm thâm tím mặt dạ, khả năng bội nhiễm rất nguy hiểm nếu khu vực này có vết thương hở.

U xương có nhiều dạng khác nhau, trong đó các dạng được phân biệt của ung thư xương, hay u xương ác tính bao gồm:

Viêm tủy xương cấp: Nguyên nhân gây viêm tủy xương cấp là do tụ cầu tạo thành. Bệnh nhân có nguy cơ u xương cao trên 70% nếu được chẩn đoán viêm tủy xương cấp. Triệu chứng thường xảy ra ở người trưởng thành, bệnh nhân bị đau tại chỗ, số lượng khoáng chất ở xương giảm và cấu tạo màng xương cũng thay đổi. Để chẩn đoán chính xác viêm tủy xương cấp, bệnh nhân sẽ được chọc hút và cấy vi khuẩn vào tủy xương và màng xương chẩn đoán bệnh.

Viêm tủy xương bán cấp: U xương ác tính ở dạng viêm tủy xương bán cấp hiếm khi xảy ra ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Để chẩn đoán, bệnh nhân được chụp Xquang. Biểu hiện lâm sàng của triệu chứng viêm tủy xương là sốt cao, tốc độ máu lắng tăng.

Di căn xương thứ phát: Đây là dạng u xương ác tính tương đối nặng. Bệnh nhân sẽ nhận thấy những triệu chứng đặc trưng bao gồm đau nhức nghiêm trọng ở khớp xương, dây thần kinh bị đứt quãng, gãy xương do bệnh lý. Khả năng di căn xương thứ phát đế đến các cơ quan như phổi, ngực, hoặc tiền liệt tuyến rất nhanh.

Phương pháp chẩn đoán bệnh u xương ác tính

Thăm khám tổng quát: Khi thực hiện khám tổng quát, bạn sẽ được bác sĩ thăm khám lâm sàng đầu tiên. Ban đầu bạn sẽ được khám các khu vực bị sưng, cứng hoặc gãy xương. Bác sĩ cũng sẽ tìm hiểu bệnh sử hoặc các can thiệp y tế điều trị đã thực hiện.

Chụp phim X-quang: Phương pháp chẩn đoán u xương ác tính bằng cách chụp X-quang thường chỉ giúp phát hiện ra những khối u có độ lớn nhất định. Đối với những khối u nhỏ, hoặc giai đoạn tiền ung thư thì phương pháp này không mang lại kết quả chính xác.

Hình ảnh chụp MRI và CT: Để chẩn đoán u xương ác tính, chẩn đoán hình ảnh bằng cách chụp MRI, CT tương đối chính xác. Thông qua hình ảnh MRI, hình ảnh tổn thương xương do khối u ác tính gây ra sẽ được thể hiện rõ. Trong đó với hình ảnh chụp CT sẽ giúp phát hiện sớm các khối u di căn.

Phương pháp sinh thiết: Phương pháp sinh thiết chẩn đoán ung thư xương đem đến kết quả rất chính xác. Bằng cách sinh thiết sẽ giúp phân biệt giữa nhiễm trùng và ung thư – điều mà phim chụp X-quang và CT không thể hiện rõ. Bác sĩ sẽ dùng thủ thuật y tế để lấy mẫu bệnh phẩm ngay tại vị trí bị u xương. Sau đó mẫu sinh thiết được soi dưới kính hiển vi để đánh giá chính xác đây có phải khối u ác tính hay không.

Trong trường hợp bệnh nhân đã phát hiện khối u xương ác tính ở giai đoạn muộn, bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân làm một số xét nghiệm kèm theo để đánh giá khối u có lan đến phổi hoặc cơ quan nào khác chưa. Bằng phương pháp chụp cắt lớp sẽ giúp phát hiện dấu hiệu khối u di căn cơ thể. Trước đó bệnh nhân sẽ được tiêm một lượng nhỏ chất phóng xạ để khối u hoặc các tế bào ung thư di căn xuất hiện rõ trên hình ảnh.

U xương ác tính có chữa được không?

Bệnh ung thư xương hay còn gọi là u xương ác tính có thể được điều trị khỏi ở giai đoạn sớm. Các thống kê cho thấy 80% bệnh nhân phát hiện ung thư xương ở giai đoạn 1 hoặc 2, khi tế bào ác tính chưa di căn có tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn. Phần lớn bệnh nhân đều có thể điều trị bằng nhiều phương pháp cùng lúc, kết hợp điều trị y tế và chăm sóc theo hướng bảo tồn.

Hai nguyên tắc quan trọng trong điều trị u xương ác tính là tinh thần người bệnh cần phải thật mạnh mẽ, lạc quan và phương pháp điều trị đảm bảo phù hợp với giai đoạn bệnh lý. Người bệnh cùng gia đình nên có sự chuẩn bị về tinh thần trước tiên, bởi điều trị u ác tính là một quá trình lâu dài, đòi hỏi bệnh nhân có tâm lý vững vàng và suy nghĩ lạc quan để tiến hành các đợt điều trị liên tục.

Trước và sau khi điều trị u ác tính, cuộc sống của bệnh nhân có sự thay đổi nhất định về chế độ ăn uống, rèn luyện thể thao… Trong vòng vài tháng sau khi điều trị, người bệnh bắt đầu tái khám và tuân thủ các hướng dẫn của bác sĩ để phòng nguy cơ tái phát. Trường hợp các chi đã tổn thương vĩnh viễn, người bệnh sẽ phải điều trị vật lý phục hồi chức năng trong vài tháng đến vài năm. Hiện nay có nhiều hình thức hỗ trợ bằng các cách trị liệu mới nhằm giúp người bệnh vận động tốt hơn và trở lại sinh hoạt bình thường sau khi điều trị u xương ác tính.

Sau khi điều trị tại bệnh viện kết thúc, người bệnh sẽ được bác sĩ tiếp tục theo dõi nhiều năm sau đó. Bệnh nhân được kiểm tra tổng quát các cơ quan như phổi, hệ thống xương ở tay, chân bằng cách CT định kỳ định kỳ để phòng trị khả năng các khối u ác tính di căn còn sót lại.

Nguyên tắc điều trị u xương ác tính

U xương ác tính là căn bệnh được nhiều bác sĩ đánh giá nguy hiểm do tỷ lệ bệnh nhân bị di căn phổi rất cao. Tuy nhiên bệnh vẫn đáp ứng điều trị với phương pháp phẫu thuật và hóa chất. Tỷ lệ điều trị ung thư xương giúp kéo dài sự sống của bệnh nhân trên 5 năm đạt tỷ lệ 60-70%. Những hình thức chữa u xương ác tính gồm có:

Điều trị hóa chất ung thư xương

Điều trị hóa chất chữa ung thư xương là phương pháp điều trị ung thư xương mang lại kết quả khả quan. Hóa chất đóng vai trò chủ yếu giúp các bác sĩ đánh giá tiên lượng tình trạng sức khỏe của bệnh nhân bị u ác tính. Phương pháp hóa trị được áp dụng dưới hai hình thức trước hoặc sau điều trị. Trong đó, các loại thuốc được sử dụng chủ yếu là Cisplatin, Ifossamide, Adriamicine, hoặc Methotrexate . Một số nhóm thuốc trong đó được sử dụng kết hợp cùng acid folic đáp ứng tỷ lệ điều trị cao nhất.

Đối với hình thức điều trị trước khi mổ, bệnh nhân được tiêm hoặc truyền hóa chất trước phẫu thuật trong 3 tháng. Đối với phương pháp điều trị hóa chất trước mổ, bệnh nhân cần phải có đủ thời gian đáp ứng thuốc để bác sĩ có thể lấy mẫu bệnh phẩm và tiên lượng tiến triển của bệnh. Hóa trị trước phẫu thuật sẽ kiểm soát tốt nguy cơ di căn hoặc mầm di căn chưa phát hiện qua chẩn đoán. Điều này sẽ giúp tạo điều kiện thuận để phẫu thuật bảo tồn chi.

Phần lớn những bệnh nhân ở độ tuổi trung niên không tiếp nhận liều dùng với Methotrexate hơn là trẻ em. Vì thế liều kết hợp được sử dụng để điều trị u xương ác tính hiện nay là Methotrexate và acid folic. Những nhóm thuốc được sử dụng kèm theo là vincristine 2mg/m2, Methotrexate 3-7,5g/m2, Axit folic 75mg/m2.

Đối với hình thức hóa trị sau khi phẫu thuật vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu giảm tái phát tại chỗ nhưng khả năng ngăn chặn các ổ di căn không được triệt để, khả năng điều trị sót tế bào ác tính vẫn có thể xảy ra. Liều hóa chất được dùng trong điều trị tương tự như liều hóa chất dùng trước khi mổ.

Trong quá trình điều trị với hóa chất, bệnh nhân có nguy cơ đối mặt với những tác dụng phụ như rụng tóc, xuất huyết, nhiễm trùng và làn da đổi màu nhợt nhạt. Hóa trị cũng có thể làm tăng khả năng ung thư ở một số cơ quan khác sau này.

Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật là hình thức loại bỏ khối u ác tính triệt để nhất, đây là phương pháp cần thiết ngay cả khi cơ thể bệnh nhân đã đáp ứng với hóa chất. Các thống kê đã đưa ra tỷ lệ từ 20 – 23% bệnh nhân sau phẫu thuật có thể sống trên 5 năm và tái phát ung thư sau đó nếu không được phẫu thuật.

Khi khối u chưa di căn, bác sĩ thường sẽ phẫu thuật bảo tồn chi để hạn chế những tổn thương vĩnh viễn cho bệnh nhân. Khả năng tái phát tại chỗ đối với phương pháp này là khoảng 3-10%. Sau phẫu thuật bệnh nhân có thể đối mặt với những biến chứng chứng gãy ghép hoặc gãy vật liệu, nhiễm trùng, vết sẹo chậm liền lại sau 20-30%. Nếu như biến chứng xảy ra, khả năng bệnh nhân cần được phẫu thuật lại..

Phẫu thuật cắt cụt, tháo khớp chỉ được thực hiện khi khối u của bệnh nhân đã tiến triển nặng, có dấu hiệu di căn ra các mô xung quanh. Phương pháp này thường được chỉ định cho nhóm bệnh nhân nhỏ tuổi, xương phát triển nhanh nên nguy cơ u ác tính lan rộng cũng nhanh hơn.

Ngoài ra ở những bệnh nhân được phát hiện có những tổn thương nhất định trong dây thần kinh của chi, điều trị không đáp ứng với hóa chất. Bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm trùng nặng, viêm nhiễm hoặc tế bào ác tính xâm lấn ngoài da, kết quả sinh thiết sai vị trí gây khó mổ bảo tồn làm vết mổ không thể mở rộng. Với những trường hợp trên cần phải phẫu thuật cắt cụt để bảo tồn các chi lân cận.

Phương pháp phẫu thuật ổ di căn diễn ra sau khi bệnh nhân được điều trị hóa chất. Nếu như các tế bào này đã di căn đến phổi, phẫu thuật cắt thùy hoặc lá phổi cần thiết thực hiện mới có thể bảo toàn chức năng cơ quan này.

Điều trị u xương ác tính bằng tia xạ hay còn gọi là xạ trị là phương pháp mang đến những hiệu quả nhất định trong điều chữa ung thư nói chung. Phụ thuộc vào loại mô bị ung thư không làm phẫu thuật được thì bệnh nhân sẽ được điều trị bằng tia xạ. Bệnh nhân sau khi xạ trị sẽ cải thiện cơn đau, khối u ác tính cũng phát triển chậm hơn. Tuy nhiên phương pháp xạ trị không mang lại những kết quả tuyệt đối, thông thường tỷ lệ sống trên 5 năm của bệnh nhân còn thấp, do xạ trị không giải quyết được ổ di căn nên bệnh nhân có nguy cơ di căn xa dẫn đến sức khỏe suy yếu rất nhanh.

Phòng ngừa u xương ác tính

U ác tính hay ung thư đều là những căn bệnh nguy hiểm không có phương pháp đặc trị. Để phòng bệnh, bạn nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

Trường hợp gãy xương hoặc nứt xương, người bệnh nên đi khám và theo dõi định kỳ để kiểm tra tổn thương. Nếu như người bệnh nhận thấy những dấu hiệu không rõ ràng như tình trạng đau xương, đau bất thường từ trong cơ thể, đặc biệt là ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư. Đối với những bệnh nhân bị Paget xương, loạn sản xương cũng nên tái khám đúng lịch hẹn để phòng tránh nguy cơ biến chứng.

Đối với những bệnh nhân phát hiện u xương lành tính, người bệnh không nên chủ quan. Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ u lành chuyển sang u ác tính chiếm đến 30%. Do đó nếu như bệnh nhân nhận thấy những dấu hiệu như: điều trị nội khoa không đáp ứng, khớp xương biến dạng, vận động của người bệnh bị hạn chế, hoặc có u xương có xu hướng phát triển ngày một lớn hơn cần được loại bỏ kịp thời.

Các u xương sụn lành tính có khả năng chuyển hóa thành u ác tính cao. Để nhận diện các biểu hiện nguy hiểm từ u lành chuyển sang u ác tính, người bệnh thận trọng trước 3 dấu hiệu bao gồm: tĩnh mạch hay u mạch máu bị dị dạng, trên da bị u cục màu thâm tím.

U xương ác tính là căn bệnh rất nguy hiểm, cần được phòng tránh và điều trị sớm để giảm nguy cơ di căn. Nếu bệnh nhân nhận thấy các dấu hiệu nghi ngờ u xương, hoặc phát hiện u xương ác tính thì nên can thiệp ngay từ ban đầu, tránh để khối u ảnh hưởng sức khỏe và vận động. Ngay cả đối với những trường hợp u lành tính vẫn cần được bác sĩ theo dõi trong thời gian xuyên suốt đề phòng trường hợp khối u lành tính chuyển thành ác tính sẽ rất khó chữa trị dứt điểm.