Top 10 # Ung Thư Xương Nguyên Phát Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Xương Nguyên Phát

Ung thư xương nguyên phát

ĐẠI CƯƠNG

Ung thư xương bao gồm hai loại nguyên phát và thứ phát, do một ung thư khác di căn vào xương. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới ung thư xương nguyên phát (UTXNP). Bệnh thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Năm 2019, tại Mỹ ước tính  có khoảng 3.500 trường hợp mới mắc và khoảng 1.660 ca tử vong. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc UTXNP chiếm 0,8-1,5% các bệnh ung thư. Bệnh tiến triển nhanh, di căn sớm chủ yếu vào phổi. UTXNP có các thể chính: ung thư xương (osteosarcoma), sarcome Ewing, sarcome sụn (chondrosarcoma) và các loại khác (u tế bào khổng lồ ác tính, sarcoma nội mô mạch máu, u tế bào ngoại mạch ác tính…).

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng

Đau: chiếm 85%-95% các trường hợp. Lúc đầu có thể đau ít sau đau tăng dần liên tục.

Khối u xương thường có dạng hình cầu, hình thoi cứng chắc ranh giới rõ, không di động, u ở sâu, hay gặp nhất là đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày, đầu trên xương cánh tay, đầu trên xương đùi. Các xương dẹt hay gặp là xương chậu và  xương  bả vai.

Có thể gãy xương bệnh lý do va chạm hoặc tiến triển tự nhiên của bệnh.

Các tổn thương phần mềm: teo cơ, sưng nề.

Hạn chế vận động.

Cận lâm sàng

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp Xquang thường quy: u có hình ảnh tạo xương, tiêu xương hoặc hỗn hợp, hình cỏ cháy, bong màng xương, xâm lấn tổ chức phần mền xung quanh.

Chụp CT scan: hình ảnh u phá hủy xương hoặc đặc xương, xâm lấn tổ chức xung quanh. Có thể phát hiện được các tổn thương ung thư xương di căn ở phổi (hình ảnh thả bóng)…

MRI: đánh giá chính xác  xâm lấn của u vào  tổ chức phần mềm,  mạch máu  thần kinh.

Xạ hình xương bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99mTc-MDP để đánh giá tổn thương xương nguyên phát và di căn xương, chẩn đoán giai đoạn bệnh trước điều trị, theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn.

Xạ hình thận chức năng bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99mTc-DTPA để đánh giá chức năng thận trước điều trị và sau điều trị.

Chụp PET/CT toàn thân với 18F-FDG trước điều trị để chẩn đoán u nguyên phát, chẩn đoán giai đoạn bệnh; chụp sau điều trị để theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn; mô phỏng lập kế hoạch xạ trị.

Chụp PET/CT toàn thân với 18F-NaF trước điều trị để đánh giá tổn thương di căn xương, chẩn đoán giai đoạn bệnh, sau điều trị để theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn.

Sinh thiết mở hoặc sinh thiết kim dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT

Giúp chẩn đoán xác định mô bệnh học trước điều trị.

Xét nghiệm sinh học phân tử

Giải trình tự nhiều gen.

Chẩn đoán phân biệt

Với các khối u xương lành tính: chồi xương, u tế bào khổng lồ lành tính (độ I, II, III).

Với các khối u phần mềm xung quanh xâm lấn xương: sarcom bao hoạt dịch, sarcom cơ vân, u thần kinh ngoài vi ác tính.

Các ung thư di căn vào xương.

Các tổn thương không phải u: lao xương, viêm xương.

Chẩn đoán giai đoạn

Theo Ủy ban phòng chống ung thư Mỹ AJCC lần thứ 8 năm 2017.

T: U nguyên phát

Xương chi, xương thân, xương sọ và xương mặt

Tx Không đánh giá được u nguyên phát

T0 Không có bằng chứng về u nguyên phát

T1 U có kích thước lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng 8cm

T2 U có kích thước lớn nhất lớn hơn 8cm

T3 Các khối u không liên tục ở vị trí xương nguyên phát

Xương cột sống

Tx Không đánh giá được u nguyên phát

T0 Không có bằng chứng về u nguyên phát

T1 U giới hạn ở một đốt sống hoặc 2 đốt sống liên tục

T2 U giới hạn ở 3 đốt sống liên tục

T3 U giới hạn ở ít nhất 4 đốt sống liên tục hoặc ở các đốt sống rời nhau

T4 U phát triển vào ống sống hay mạch máu lớn

T4a U phát triển vào ống sống

T4b U phát triển vào mạch máu lớn hoặc có huyết khối ở mạch máu lớn

Xương chậu

Tx Không đánh giá được u nguyên phát

T0 Không có bằng chứng về u nguyên phát

T1 U còn khu trú trong một xương của xương chậu và không có phần mở rộng

T1a U có kích thước lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng 8cm

T1b U có kích thước lớn nhất lớn hơn 8cm

T2 U còn khu trú trong một xương của xương chậu và có phần mở rộng

T2a U có kích thước lớn nhấtnhỏ hơn hoặc bằng 8cm

T2b U có kích thước lớn nhất lớn hơn 8cm

T3 U lan rộng ở 2 xương của xương chậu và có phần mở rộng

T3a U có kích thước lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng 8cm

T3b U có kích thước lớn nhất lớn hơn 8cm

T4 U lan ra cả 3 xương của xương chậu hoặc vượt qua khớp cùng chậu

T4a U vùng khớp cùng chậu và lan vào giữa đến lỗ tiếp hợp

T4b U xâm lấn mạch chậu ngoài hoặc có huyết khối ở mạch máu lớn vùng chậu.

N: Hạch vùng

Nx Không đánh giá được hạch vùng

N0 Chưa di căn hạch vùng

N1 Di căn hạch vùng

M: Di căn xa

Mx Không đánh giá được di căn xa

M0 Chưa di căn xa

M1  Có di căn xa

M1a: Di căn phổi

M1b: Di căn các vị trí khác

G: Độ mô học G

Gx Không đánh giá được độ mô học

G1 Biệt hóa cao – độ ác tính thấp

G2   Biệt hóa vừa – độ ác tính thấp

G3 Kém biệt hóa – độ ác tính cao

Xếp loại giai đoạn theo AJCC lần thứ 8 năm 2017

Giai đoạn

U nguyên phát

Hạch vùng

Di căn xa

Độ mô học

IA

T1

N0

M0

G1hoặc Gx

IB

T2 hoặcT3

N0

M0

G1 hoặc Gx

IIA

T1

N0

M0

G2 hoặcG3

IIB

T2

N0

M0

G2 hoặc G3

III

T3

N0

M0

G2 hoặc G3

IVA

Tbất kỳ

N0

M1a

Gbất kỳ

IVB

Tbất kỳ

N1

Mbất kỳ

Gbất kỳ

Tbất kỳ

Nbất kỳ

M1b

Gbất kỳ

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chung

Có chẩn đoán chính xác bằng mô bệnh học

Đánh giá giai đoạn bệnh chính xác

Điều trị đa mô thức: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị

Căn cứ tình trạng bệnh nhân cụ thể, cân nhắc các biến chứng có thể xảy ra.

Các phương pháp điều trị

Phẫu thuật

Là phương pháp cơ bản điều trị ung thư xương nguyên phát.

Phẫu thuật cắt u cục bộ rộng: Phẫu thuật cắt rộng loại bỏ ung thư, cũng như một phần của các mô khỏe mạnh xung quanh khối u. Song vẫn giữ được chức năng hình thể cơ bản của chi. Có thể chỉ cần tạo hình đơn giản với vật liệu kinh điển như: xương tự thân, xương đồng loại, xi măng sinh học, đinh nẹp vít.

Phẫu thuật cắt chi tối thiểu: là phẫu thuật cắt đoạn chi có chứa u, thường cách rìa u xương lớn 3cm. Sau đó tạo hình lại khuyết hổng phần xương và phần mềm. Vật liệu tạo hình xương khớp: Khớp nhân tạo bằng hợp kim, xương đồng loại, xương tự thân và vật liệu y sinh học… Tạo hình phần mềm bằng chuyển vạt cân cơ có cuống mạch, xoay vạt cân cơ tại chỗ, chuyển vạt vi phẫu… Tùy từng tổn thương khác nhau đưa ra phương án tạo hình cụ thể.

Tại các cơ sở phát triển, đoạn xương có chứa u sau khi cắt được đưa ra ngoài xử lý: xạ trị; nitơ lỏng: thanh trùng… và tái ghép. Phương pháp này cung cấp một mảnh ghép xương lớn phù hợp chính xác với yêu cầu của khuyết hổng xương. Đặc biệt chi phí thấp.

Phẫu thuật xoay vòng cổ chân: Phẫu thuật viên sẽ loại bỏ  khối ung thư và khớp gối. Sau đó, phẫu thuật gắn cổ chân với phần còn lại của chân và tạo ra khớp gối mới. Bàn chân sẽ hướng về phía sau và khớp cổ chân sẽ hoạt động như khớp gối với khả năng có một bộ phận giả được gắn vào bàn chân.

Xạ trị

Xạ trị chiếu ngoài

Chỉ định: Chỉ định xạ trị triệt căn phối hợp với hoá trị cho một số trường hợp không đồng ý mổ hoặc không mổ được.

Xạ trị đóng vai trò bổ trợ sau phẫu thuật.

Liều xạ: Liều xạ 60Gy với u độ thấp; 66Gy với u độ cao; phân liều 2Gy/ngày hoặc có thể xạ trị triệu chứng giảm đau chống chèn ép, liều 3Gy/ngày x 10 ngày hoặc 4,25Gy/ngày x 4 ngày.

Mô phỏng: Chụp mô phỏng bằng CT, MRI hoặc tốt nhất bằng PET/CT, PET/MRI. Ứng dụng kỹ thuật PET/CT mô phỏng xạ trị giúp đánh giá chính xác tổn thương, tăng cường hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ do tia xạ.

Kỹ thuật: Có thể dùng các kỹ thuật thường quy 3D, hoặc các kỹ thuật xạ trị tiên tiến giúp tăng hiệu quả, độ chính xác và giảm thiểu tác dụng phụ như xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị điều biến thể tích (VMAT), xạ trị hạt nặng (Proton therapy, heavy ion).

Xạ phẫu: xạ phẫu có thể bằng dao gamma cổ điển, dao gamma quay (Rotating Gamma Knife), CyberKnife…

Nguyên lý: Liều bức xạ hội tụ tại tiêu điểm khối u với liều rất cao gây hoại tử hoặc bất hoạt tế bào u, đồng thời liều xạ tại các mô lành ở mức tối thiểu, rất ít gây tác dụng phụ cho cơ quan lành xung quanh.

Xạ phẫu được chỉ định cho các trường hợp di căn một vài ổ (Oligometastasis) đặc biệt các trường hợp di căn não.

Xạ trị định vị thân (Stereotactic Body Radiation Therapy: SBRT)

Xạ trị áp sát: cấy hạt phóng xạ vào khối u hoặc diện u trong các trường hợp không phẫu thuật triệt căn hoặc bệnh lý kèm theo không thể phẫu thuật hay bệnh nhân nhất định từ chối phẫu thuật.

Xạ trị trong mổ (Intraoperative Radiation Therapy: IORT)

IORT là một kỹ thuật đặc biệt có thể cung cấp một liều xạ trị duy nhất, tập trung cao liều bức xạ tại nền khối u sau phẫu thuật hoặc phần còn lại của khối u không thể phẫu thuật được, các khối u tái phát, di căn.

IORT có nhiều loại kích thước của đầu phát tia bức xạ (applicator) khác nhau tùy thuộc vào diện cắt và hình dạng khối u, hơn nữa diện tích xạ trị hạn chế nên hầu như không ảnh hưởng các cấu trúc bình thường xung quanh vùng chiếu xạ.

Hóa trị

Nếu không điều trị hóa chất, 80% bệnh nhân UTXNP chết do di căn xa mặc dù đã được điều trị phẫu thuật triệt để tại chỗ. Kết quả sống thêm sau điều trị cải thiện rất nhiều trong vòng 30 năm qua nhờ  những  tiến  bộ  trong  hóa  trị  liệu.  Khoảng  70-90% osteosarcoma ở chi có thể điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn kết hợp với hóa trị mang lại 65% sống thêm sau 5 năm. Điều trị bằng hóa chất động mạch có thể làm tăng độ tập trung của hóa chất vào khối u nhưng không tăng tỷ lệ đáp ứng.

Điều trị đích: Đang được bắt đầu nghiên cứu ứng dụng ức chế yếu tố phát triển biểu bì EGFR, ức chế con đường dẫn truyền mTOR.

Một nghiên cứu sử dụng imatinib trên 56 bệnh nhân chordoma giai đoạn tiến triển, 70% bệnh nhân ổn định, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là 9 tháng.

Erlotinib và lapatinib được sử dụng có hiệu quả ở bệnh nhân chordomas kháng với imatinib với tỷ lệ đáp ứng một phần và bệnh không tiến triển tương ứng là 33% và 39%.

Một số thuốc đích khác có hiệu quả như sunitinib, dasatinib٭, denosumab٭…

Điều trị miễn dịch

Điều trị miễn dịch đang nở rộ mang lại nhiều hứa hẹn cho bệnh nhân ung thư nói chung, trong đó có ung thư xương. Các thử nghiệm lâm sàng với pembrolizumab, nivolumab٭, atezolizumab đang được tiến hành.

Điều trị cụ thể

Osteosarcoma

Giai đoạn khu trú

Điều trị triệt căn cho Osteosarcoma đòi hỏi phải kết hợp giữa phẫu thuật và hóa trị. So với phẫu thuật đơn thuần, điều trị đa mô thức cho Osteosarcoma có độ ác tính cao làm tăng tỷ lệ sống thêm không bệnh từ 10-20% lên tới trên 60%.

Mục đích của phẫu thuật là lấy bỏ khối u triệt căn đồng thời bảo tồn chi tối đa có thể. Hầu hết bệnh nhân nếu được phối hợp với hóa trị có thể bảo tồn chi. Doxorubicin, cisplatin, methotrexate liều cao và ifosfamide là những thuốc cho tỷ lệ đáp ứng cao  nhất. Phác đồ phối hợp doxorubicin – cisplatin là phác đồ cơ bản thường dùng nhất. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng phác đồ này thêm với methotrexate và/hoặc ifosfamide mang lại đáp ứng cao hơn. Tuy có nhiều phác đồ tiền phẫu, hậu phẫu được ứng dụng trong lâm sàng nhưng chưa phác đồ nào được cho là tốt nhất. Hóa chất tiền phẫu làm tăng tỷ lệ bảo tồn chi, tuy nhiên không kéo dài thời gian sống thêm so với hóa trị hậu phẫu đơn thuần. Các thử nghiệm gần đây khuyến cáo lên thay đổi phác đồ hóa chất hậu phẫu nếu như phác đồ đó cho đáp ứng kém khi điều trị tiền phẫu.

Đối với Osteosarcoma độ ác tính thấp, có thể được điều  trị bằng  phẫu  thuật  đơn thuần.

Giai đoạn di căn xa hoặc bệnh tái phát

Osteosarcoma giai đoạn di căn xa có thể được điều trị với mục đích triệt căn như giai đoạn chưa di căn xa. Có khoảng 30% osteosarcoma xuất hiện di căn xa ngay từ ban đầu, trong số này hơn 40%, những trường hợp có thể phẫu thuật cắt bỏ các khối di căn xa, có thể được điều trị với mục đích triệt căn, sống thêm lâu dài.

Đối với osteosarcoma tái phát cần được đánh giá thời gian tái phát di căn, số lượng và vị trí ổ di căn. Tiên lượng bệnh xấu, khả năng chữa khỏi khoảng 20%. Phẫu thuật đóng vai trò cơ bản, trong đó phẫu thuật lấy triệt để nhân di căn luôn được cân nhắc kể cả với trường hợp di căn đa ổ. Hóa trị lần 2 ít hiệu quả hơn và hiện nay chưa có phác đồ chuẩn. Các tác nhân có hiệu quả bao gồm: Ifosfamide +/- etoposide +/- carboplatin.

Ewing sarcoma

Giai đoạn khu trú

Với phẫu thuật hoặc xạ trị đơn thuần, sống thêm 5 năm chỉ đạt dưới 10%. Tuy nhiên, khi kết hợp với hóa trị thì tỷ lệ sống thêm đạt 60-70% ở giai đoạn khu trú, 20-40% ở giai đoạn bệnh di căn xa.

Hầu hết các nghiên cứu đưa ra phác đồ hóa trị tân bổ trợ 3-6 đợt, điều trị tại chỗ, tiếp theo củng cố thêm 6-10 hóa trị khác nữa. Thời gian điều trị 10-12 tháng. Các tác nhân có hiệu quả nhất là doxorubicin, cyclophosphamide, ifosfamide, vincristine, dactinomycin٭ và etoposide. Hóa chất liều cao phối hợp với ghép tủy đang được nghiên cứu với Ewing sarcoma độ ác tính cao.

Giai đoạn di căn xa

Bệnh ở giai đoạn này được điều trị như giai đoạn khu trú tuy nhiên có tiên lượng xấu hơn, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm chỉ còn 20%. Phác đồ hóa chất liều cao kết hợp với ghép tủy đang được nghiên cứu hứa hẹn mang lại kết quả khả quan hơn.

Với bệnh tái phát, tiên lượng phụ thuộc vào thời gian tái phát, thời gian tái phát sau 2 năm có tiên lượng tốt hơn. Chưa có phác đồ hóa chất chuẩn cho giai đoạn này. Các phác đồ thường dùng là sự kết hợp giữa nhóm alkyl hóa (Cycophosphamide, ifosfamide liều cao) với nhóm ức chế men topoisomerase (Etoposide, topotecan) hoặc irinotecan với temozolomide.

Chondrosarcoma

Điều trị phụ thuộc vào độ mô học

Độ mô học thấp: chỉ cần phẫu thuật đơn thuần lấy bỏ hết tổn thương, không cần điều trị bổ trợ.

Độ mô học cao: phẫu thuật lấy u với rìa cắt rộng rãi. Nếu không bảo tồn được phải cắt cụt chi. Xạ trị được chỉ định cho những trường hợp phẫu thuật không lấy bỏ hết được tổn thương. Hóa trị được sử dụng như osteosarcoma, tuy nhiên độ nhạy cảm thấp hơn nhiều.

Một số phác đồ hóa trị

Một số phác đồ hóa trị điều trị osteosarcoma

Phác đồ T-10

Tiền phẫu:

Methotrexate 8-12g/m2, truyền tĩnh mạch, hàng tuần x 4 tuần

Calcium leucovorin 15mg/m2, truyền tĩnh mạch, hoặc uống 6 giờ/lần x 10 lần, bắt đầu 24 giờ sau khi dùng methotrexate.

Hậu phẫu (BCD):

Bleomycin 15U/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2

Cyclophosphamide 600mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2

Dactinomycin٭ 600µg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2

Sau đó:

Methotrexate 8-12g/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1 vào tuần 9, 10, 14, 15

Calcium leucovorin 15mg/m2, truyền tĩnh mạch hoặc uống 6 giờ/lần x 10 lần, bắt đầu 24 giờ sau khi dùng methotrexate

Doxorubicin 30mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2 tuần 11.

Duy trì (3 tuần sau):

Độ 1-2

Doxorubicin 30mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 22

Cisplatin 120mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 22

BCD (như phần trên) ngày 42.

Nhắc lại mỗi vòng duy trì với tổng số 3 đợt

Độ 3-4

Bleomycin 15U/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2

Cyclophosphamide 600mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2

Dactinomycin ٭600µg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2.

Sau đó:

Methotrexate 8-12g/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1 vào tuần 9, 10, 14, 15

Calcium leucovorin 15mg/m2, truyền tĩnh mạch, 6 giờ sau dùng methotrexate.

Doxorubicin 30mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1, 2 tuần 11.

Điều trị duy trì trong 4 đợt.

Phác đồ dùng hàng tuần liều cao methotrexate và doxorubicin (HDMTX):

Vincristine 2mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1

Methotrexate 7.500mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1 (30 phút sau vincristine)

Calcium leucovorin 15mg/m2, truyền tĩnh mạch, 3 giờ/lần x 8 lần (2 giờ sau MTX) sau đó 15mg/m2, uống 6 giờ/lần x 8 lần

HDMTX-DOX

Doxorubicin 75mg/m2, ngày 6

HDMTX hàng tuần x 4, sau HDMTX-Dox hàng 3 tuần x 6, sau HDMTX hàng tuần x 4, sau HDMTX-Dox hàng 3 tuần x 6, sau HDMTX hàng tuần x 4.

Phác đồ EOI (European Osteosarcoma Intergroup)

Doxorubicin 25mg/m2, truyền tĩnh mạch, ngày 1-3

Cisplatin 100mg/m2, truyền tĩnh mạch, (truyền liên tục) ngày 1

Nhắc lại mỗi đợt sau 3 tuần (3 đợt tiền phẫu, phẫu thuật vào ngày thứ 63 sau đó bổ sung 3 đợt hẫu phẫu).

Phác đồ IE: dùng với trường hợp thất bại với hoá trị methotrexate liều cao

Ifosfamide 3.000mg/m2, truyền tĩnh mạch, (truyền 3 giờ), ngày 1-4, mesna hỗ trợ Etoposide 75mg/m2, truyền tĩnh mạch (truyền 1 giờ) ngày 1-4

Nhắc lại mỗi đợt sau 3-4 tuần (điều trị 02 đợt).

Phác đồ IE: chỉ định với trường hợp di căn vào thời điểm chẩn đoán

Ifosfamide 3.500mg/m2, truyền tĩnh mạch, (truyền 3 giờ), ngày 1-5, mesna hỗ trợ

Etoposide 100mg/m2, truyền tĩnh mạch (truyền 1 giờ) ngày 1-5

Dùng thuốc kích thích tăng bạch cầu (G-CSF) từ ngày thứ 6. Phác đồ này độc tính cao với tuỷ xương, nguy cơ suy tuỷ, cân nhắc khi áp dụng.

Nhắc lại mỗi đợt sau 3 tuần.

Phác đồ hóa trị điều trị sarcom Ewing

Phác đồ IESS-MD1

Pha 1 (tuần 1-8)

Vincristine 1,5mg/m2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch, ngày 1, 8, 15, 22, 29, 36.

Cyclophosphamide 500mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8, 15, 22, 29, 36.

Doxorubicin 60mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 36.

Pha 2 (tuần 9-68) tiếp theo xạ trị

Dacinomycin 0,015mg/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1-5.

Vincristine 1,5mg/m2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43.

Cyclophosphamide 1.200mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43.

Doxorubicin 60mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 43.

Pha 3 (tuần 69-98)

Dacinomycin 0,015mg/kg, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Vincristine 1,5mg/m2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43

Cyclophosphamide 500mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43

Phác đồ EICESS (European Intergroup Cooperative Ewings Sarcoma Studies) Vincristine 1,5mg/m2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch, ngày 1

Cyclophosphamide 500mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 1

Dacinomycin 0,5mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 3 (Dacinomycin xen kẽ với doxorubicin)

Doxorubicin 30mg/m2 da, truyền tĩnh mạch ngày 2

Chu kỳ 21 ngày.

PHÒNG BỆNH

Tuyên truyền có lối sống khỏe mạnh, tránh các chất độc hại có nguy cơ gây ung thư, khi có dấu hiệu bất thường cần được khám sàng lọc phát hiện sớm chữa trị đúng phác đồ.

TIÊN LƯỢNG

Tiên lượng bệnh còn nặng nề, bệnh tiến triển nhanh, di căn sớm chủ yếu vào phổi.

Điều trị bệnh ở giai đoạn sớm có kết quả tốt.

THEO DÕI

Khi bệnh ổn định có thể theo dõi bệnh nhân định kỳ.

Năm đầu 3 tháng 1 lần, từ năm thứ hai trở đi: 6 tháng 1 lần.

Các xét nghiệm cận lâm sàng: Công thức máu, sinh hóa máu, chụp tim phổi, siêu âm bụng, chụp cộng hưởng từ nơi tổn thương… phát hiện tái phát và di căn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai (2010). Điều trị nội khoa bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Chấn Hùng (2004). Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2014). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng, Nguyễn Tiến Quang (2019). Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Bùi Diệu và cs (2016). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Văn Hiếu (2010). Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư. Nhà xuất bản  Y học.

Mai Trọng Khoa (2013). Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa, Nguyễn Xuân Kử (2012). Một số tiến bộ về kỹ thuật xạ trị ung thư và ứng dụng trong lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa và cộng sự (2012). Y học hạt nhân (Sách dùng cho sau đại học). Nhà xuất bản Y học.

Daniel G. Haller, Lawrence D, Kevin A, William J (2013). Cancer Management: A Multidisciplinary Approach, Bone Sarcoma, UBM Medica, LLC, a UBM company.

Devita, Hellman & Rosenberg’s (2014). Cancer: Principles & Practice of Oncology, 10th Edition, Bone Sarcoma, Lippincott Williams & Wilkins.

Hagop M. Kantarjian, Robert A. Wolff, Charles A. Koller (2010). The MD Anderson Manual of Medical Oncology, Soft tissue and bone sarcomas. MD Anderson Centre, Texas.

National Comprehensive Cancer Network (2019). Bone Cancer, version 1.2020. NCCN Clinical Practice Guideline in Oncology.

Phát Hiện Ung Thư Xương Nguyên Phát Bằng Cách Nào?

Ung thư xương nguyên phát là bệnh ít gặp hơn so với các loại ung thư khác. Bệnh phát triển âm thầm, khi phát hiện thường ở giai đoạn muộn và tiên lượng điều trị rất xấu.

Bệnh ung thư xương nguyên phát là ung thư bắt nguồn từ các tế bào tạo xương, tế bào sụn và tế bào liên kết của mô xương. Các tế bào này phân chia và phát triển tạo thành khối u ác tính trong xương, có khả năng xâm lấn các mô xung quanh và di căn đến các cơ quan xa trong cơ thể.

Ung thư xương nguyên phát thường xuất hiện ở những nơi như xương chày, xương đùi, đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương quay.

Ung thư xương nguyên phát phát triển theo 4 giai đoạn:

Giai đoạn I: Các tế bào ung thư chỉ mới xuất hiện trong mô xương và chưa có dấu hiệu lây lan sang các bộ phận khác, nó cũng ít gây hại và chưa chen lẫn với các tế bào bình thường khác. Nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách không gây nguy hiểm đến tính mạng.

Giai đoạn II: Các khối u dần phát triển nhưng vẫn chưa lan truyền, chỉ giới hạn ở xương. Giai đoạn này nếu được phát hiện và điều trị thì tiên lượng tốt

Giai đoạn III: Tế bào ung thư bắt đầu hiện ra ở nhiều vị trí khác nhau của xương. Xuất hiện ít nhất 2 vị trí trên xương, nhưng chưa lan đến hạch bạch huyết và các bộ phận xung quanh.

Giai đoạn IV: Các tế bào ung thư tăng trưởng nhanh và bắt đầu di căn từ xương sang bộ phận khác với tốc độ nhanh chóng và cạnh tranh khốc liệt với những tế bào bình thường gây đau đớn cho cơ thể. Giai đoạn này tiên lượng rất xấu.

Để chẩn đoán ung thư xương nguyên phát dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Các phương pháp cận lâm sàng bao gồm:

Chụp X-Quang: Là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đầu tiên khi người bệnh có dấu hiệu đau xương. Trên X-quang có thể thấy hình ảnh phản ứng màng xương, gián đoạn xương mất chất khoáng…

Chụp cắt lớp vi tính: Phát hiện được hình ảnh u xương, kích thước hình dạng, vị trí chính xác khối u.

Chụp MRI: Ngoài phát hiện khối u, phát hiện tình trạng xâm lấn tủy hay các mô xung quanh.

Chụp PET: Đưa một lượng nhỏ glucose phóng xạ vào mạch máu và khi di và máu sẽ di chuyển đến xương rồi hình ảnh sẽ được ghi lại bằng máy làm căn cứ kết luận bệnh

Chụp xạ hình xương: Đưa một lượng phóng xạ vào máu và chúng di chuyển đến xương và được chụp lại bằng máy xạ hình. Là phương pháp phát hiện sớm ung thư xương ng

Sinh thiết xương: Từ vị trí phát hiện tổn thương tiến hành sinh thiết tế bào để xác định có phải u ác tính không.

Xạ hình xương là phương pháp phát hiện sớm những tổn thương do ung thư xương nguyên phát gây ra. Từ đó làm cơ sở tiến hành sinh thiết và phát hiện sớm khối u ác tính trong xương.

Phòng đơn nguyên Y học hạt nhân- khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City cung cấp dịch vụ chụp xạ hình xương toàn thân Tc99m- MDP

Những ưu điểm của phương pháp xạ hình xương:

Phương pháp xạ hình xương cho phép quan sát toàn bộ hệ thống xương trong cơ thể, có độ nhạy cao. Là phương pháp được ưu tiên lựa chọn hàng đầu trong tất cả bệnh nhân ung thư có nguy cơ di căn xương.

Giúp đánh giá chức năng toàn bộ hệ thống xương, đánh giá tình trạng viêm xương tủy xương, phát hiện ung thư xương nguyên phát, ung thư di căn xương mà không phương pháp nào khác có thể thay thế được.

Hệ thống máy SPECT/CT hàng đầu Việt Nam và Đông Nam Á.

Đội ngũ chuyên môn bác sĩ giàu kinh nghiệm, được đào tạo chuyên sâu và bài bản trong và nước ngoài, nhiều bác bác sĩ có thâm niên lâu năm về Y học hạt nhân.

Ung thư xương nguyên phát được phát hiện sớm nhờ phương pháp xạ hình xương. Là phương pháp với nhiều ưu điểm vượt trội so với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác. Ung thư xương nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách cơ hội khỏi bệnh cao, giúp giảm đau đớn và chi phí cho người bệnh.

Khách hàng có thể trực tiếp đến Vinmec Times City để thăm khám hoặc liên hệ hotline 0243 9743 556 để được hỗ trợ.

XEM THÊM:

Điều Trị Và Tiên Lượng Ung Thư Xương Nguyên Phát

Nếu không hóa trị, 80% bệnh nhân UNG THƯ xương chết do di căn xa mặc dù đã điều trị triệt để tại chỗ. Kết quả sống thêm sau điều trị cải thiện đáng kể trong vòng 30 năm qua nhờ vào hoá trị liệu. Tuy nhiên, phác đồ nào hiệu quả nhất vẫn chưa được xác định. Tính tổng thể, có khoảng 70-90% osteosarcoma ở chi có thể điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn với sự hỗ trợ của hóa trị tiền phẫu và đã mang lại 65% sống trên 5 năm. Điều trị bằng hoá chất động mạch có thể làm cho độ tập trung của thuốc vào u cao hơn nhưng không cải thiện được tỷ lệ đáp ứng.

Một số phác đồ hóa trị điều trị osteosarcoma

– Phác đồ T-10:

Tiền phẫu

Methotrexat 8-12g/m 2, TM, hàng tuần x 4

Calcium leucovorin 15mg/m 2, TM, hoặc uống 6 giờ/lần x 10 lần, bắt đầu 24 giờ sau MTX

Hậu phẫu (BCD)

Bleomycin 15U/m 2, TM, ngày 1, 2

Cyclophosphamid 600mg/m 2, TM, ngày 1, 2

Actinomycin D 600µg/m 2, TM, ngày 1, 2

Sau đó

Methotrexat 8-12g/m 2, TM, ngày 1 vào tuần 9, 10, 14, 15

Calcium leucovorin 15mg/m 2, TM hoặc uống 6 giờ /lần x 10 lần, bắt đầu 24 giờ sau dùng MTX

Doxorubicin 30mg/m 2, TM, ngày 1, 2 tuần 11

Duy trì (3 tuần sau)

Độ 1-2

Doxorubicin 30mg/m 2, TM, ngày 1, 22

Cisplatin 120mg/m 2, TM, ngày 1, 22

BCD (như phần trên) ngày 42

Nhắc lại mỗi vòng duy trì với tổng số 3 đợt

Ngày 3-4

Bleomycin 15 U/m 2, TM, ngày 1, 2

Cyclophosphamid 600mg/m 2, TM, ngày 1, 2

Actinomycin-D 600µg/m 2, TM, ngày 1, 2

Sau đó

Methotrexat 8-12mg/m 2, TM, ngày 1 vào tuần 9, 10, 14, 15

Calcium leucovorin 15mg/m 2, TM, 6 giờ sau dùng MTX.

Doxorubicin 30mg/m 2, TM, ngày 1, 2 tuần 11

Điều trị duy trì trong 4 đợt

– Phác đồ dùng hàng tuần liều cao Methotrexat và Doxorubicin (HDMTX):

Vincristin 2mg/m 2, TM, ngày 1

Methotrexat 7500mg/m 2, TM, ngày 1 (30 phút sau vincristin)

Calcium leucovorin 15mg/m 2, TM, 3 giờ/lần x 8 lần (2 giờ sau MTX) sau đó 15mg/m 2, uống 6 giờ/lần x 8 lần

HDMTX-DOX

Doxorubicin 75mg/m 2, ngày 6

HDMTX hàng tuần x 4, sau HDMTX-Dox hàng 3 tuần X 6, sau HDMTX hàng tuần x 4, sau HDMTX-Dox hàng 3 tuần x 6, sau HDMTX hàng tuần x 4

– Phác đồ EOI (European osteosarcoma Intergroup):

Doxorubicin 25mg/m 2, TM, ngày 1-3

Cisplatin 100mg/m 2, TM, (truyền liên tục) ngày 1.

Nhắc lại mỗi đợt sau 3 tuần (3 đợt tiền phẫu, phẫu thuật vào ngày thứ 63 sau đó bổ sung 3 đợt hậu phẫu)

– Phác đồ IE: dùng với trường hợp thất bại với hóa trị Methotrexat liều cao

Ifosfamid 3.000mg/m 2, TM, (truyền 3 giờ), ngày 1-4, mesna hỗ trợ

Etoposid 75mg/m 2, TM (truyền 1 giờ) ngày 1-4

Nhắc lại mỗi đợt sau 3-4 tuần (điều trị 02 đợt).

– Phác đồ IE: chỉ định với trường hợp di căn vào thời điểm chẩn đoán

Ifosfamid 3500mg/m 2, TM, (truyền 3 giờ), ngày 1-5, mesna hỗ trợ

Etoposid 100mg/ m 2, TM (truyền 1 giờ) ngày 1-5

Dùng G-CSF từ ngày thứ 6. Phác đồ này độc tính cao với tủy xương, nguy cơ suy tủy, cân nhắc khi áp dụng.

Nhắc lại mỗi đợt sau 3 tuần.

Phác đồ hóa trị điều trị sacôm Ewing:

Phác đồ IESS-MD1 Pha 1 (tuần 0t-8).

Vincristin l,5mg/m 2 da (tối đa 2mg) truyền tĩnh mạch, ngày 1, 8, 15, 22, 29, 36

Cyclophosphamid 500mg/m 2 da truyền tĩnh mạch ngày 1, 8, 15, 22, 29, 36

Doxorubicin 60mg/m 2 da truyền tĩnh mạch ngày 36

Pha 2 (tuần 9-68) tiếp theo xạ trị.

Dacinomycin 0,015mg/kg truyền tĩnh mạch ngày 1-5, 7

Vincristin l,5mg/m 2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43

Cyclophosphamid 1.200mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43

Doxorubicin 60mg/m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 43

Pha 3 (tuần 69-98)

Dacinomycin 0,015mg/kg truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Víncristin l,5mg/m 2 da (tối đa 2mg), truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36,43

Cyclophosphamid 500mg/ m 2 da, truyền tĩnh mạch ngày 15, 22, 29, 36, 43

Phác đồ EICESS (European Intergroup Cooperative Ewings Sarcoma Studies)

Vincristin 1,5mg/m 2 da (tối đa 2mg) truyền tĩnh mạch, ngày 1

Cyclophosphamid 500mg/m 2 da truyền tĩnh mạch ngày 1

Dacinomycin 0,5mg/m 2 da truyền tĩnh mạch ngày 3

(Dactinomycin xen kẽ với Doxorubicin)

Doxorubicin 30mg/m 2 da truyền tĩnh mạch ngày 2

Chu kỳ 21 ngày

Bảng 3. Phác đổ VAIA

Thuốc Liều dùng/m2 da Đường dùng Ngày dùng

Vincristin 1,5mg TM nhanh 1+21 (1, 4, 7, 10, 13, 16, 19,

22, 25, 28, 31, 34, 37, 40)

Doxorubicin 20mg TM 4 giờ 1-3 (1, 7, 13, 19, 25, 31, 37)

Ifosphamid 2000mg TM 1 giờ 1-3,21-23

(1, 4, 7, 10, 13, 16, 19, 22, 25,

28, 31, 34, 37, 40)

Với Mesna bảo vệ tiết niệu

Dactinomycin 0,5mg TM nhanh 21-23 (4, 10, 16, 22, 28, 34, 40)

Một số loại mô bệnh học: Sacôm nội mô mạch máu, u tế bào ngoại mạch ác tính, u mô bào sợi ác tính tại xương phác đồ hóa trị điều trị như trong UNG THƯ phần mềm.

Tiên lượng của bệnh UNG THƯ xương phụ thuộc vào: vị trí khối u ở chi dễ điều trị hơn vị trí ngoài chi, u các vị trí khó phẫu thuật như cột sống, xương chậu có tiên lượng xấu hơn. Thể mô bệnh học của sacôm xương và sacôm Ewing xấu hơn các thể mô bệnh học khác. Đối vối loại sacôm tạo xương thông thường có các yếu tố tiên lượng xấu là phốt phát kiềm tăng cao trên hai lần giá trị bình thường, hình ảnh X-quang thể tạo xương, liều hóa trị điều trị < 85%, di căn sau hóa trị và phẫu thuật.

Ung Thư Gan Nguyên Phát

Ung thư gan nguyên phát là ung thư bắt nguồn từ gan, khác với ung thư gan thứ phát là loại ung thư từ một cơ quan khác của cơ thể di căn đến gan.

Trên thế giới, ung thư gan nguyên phát đứng hàng thứ 5 ở nam giới và thứ 7 ở nữ giới trong các loại ung thư thường gặp và đứng hàng thứ 3 về nguyên nhân gây tử vong do ung thư. Hơn 80% số trường hợp bệnh xuất hiện ở châu Á và châu Phi với yếu tố nguy cơ thường gặp nhất là nhiễm viêm gan siêu vi B mạn tính từ giai đoạn trẻ nhỏ. Trong khi tại các nước phương tây, tần suất ung thư gan nguyên phát thấp hơn và yếu tố nguy cơ chủ yếu là do lạm dụng rượu. Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm viêm gan siêu vi B trong dân số khá cao (15-20%) là nguyên nhân chính khiến ung thư gan nguyên phát đứng hàng đầu trong các loại ung thư thường gặp ở cả nam và nữ.

Nhìn chung, ung thư gan nguyên phát có tiên lượng xấu. Phẫu thuật cắt bỏ khối u là lựa chọn hàng đầu cho khả năng chữa khỏi cao nhất tuy nhiên chỉ có một số ít trường hợp còn có thể thực hiện được.

Gan nằm ở bụng trên bên phải. Gan có nhiều chức năng bao gồm:

Dự trữ glycogen (nhiên liệu cho cơ thể). Glycogen được tổng hợp từ các loại đường ăn vào. Khi cần thiết, gan lại phân huỷ glycogen thành glucose đưa vào máu.

Chuyển hoá chất béo và chất đạm (protein) từ thức ăn.

Sản xuất protein cần thiết cho quá trình đông máu (các yếu tố đông máu).

Chuyển hoá và/hoặc loại bỏ rượu, thuốc, chất độc và độc tố khỏi cơ thể.

Tiết mật giúp hoà tan và hấp thu chất béo trong thức ăn.

Ung thư là gì?

Cơ thể được cấu thành từ hàng triệu tế bào nhỏ bé. Ung thư là bệnh ở mức độ tế bào mà chúng đều có đặc điểm chung là có cấu tạo bất thường và tăng sinh ngoài tầm kiểm soát. Có nhiều loại tế bào khác nhau tạo nên nhiều loại mô và cơ quan khác nhau trong cơ thể. Do đó có nhiều loại ung thư khác nhau tùy tế bào bệnh xuất phát từ cơ quan nào.

Khối u ác tính là một khối u chứa những tế bào ung thư đang tăng trưởng. Trong quá trình phát triển, nó xâm lấn vào các mô và cơ quan lân cận gây tổn thương cho các cơ quan này. Ngoài ra, tế bào ung thư từ khối u ban đầu cũng có thể di chuyển theo dòng máu hay bạch huyết đến gieo rắc ở cơ quan khác. Từ đó chúng tiếp tục tăng sinh và hình thành khối u thứ phát gọi là di căn. Những khối u thứ phát này có thể tiếp tục phát triển, xâm lấn, gây tổn thương mô lân cận và di căn một lần nữa.

Mỗi loại ung thư có mức độ nguy hiểm, khả năng điều trị hiệu quả và tiên lượng khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định đó là loại ung thư gì, kích thước như thế nào và đã có di căn hay chưa. Những thông tin này cho phép bạn có được những lực chọn điều trị thích hợp và tiên lượng bệnh.

Ung thư gan nguyên phát là gì?

Ung thư gan được phân loại thành ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ phát:

Ung thư gan nguyên phát là ung thư bắt nguồn từ gan.

Ung thư gan thứ phát là bệnh ung thư di căn đến gan từ một bộ phận khác của cơ thể. Nhiều loại ung thư có thể di căn đến gan, trong đó thường gặp nhất là ung thư ruột, tụy, dạ dày, phổi hoặc ung thư vú. Điều trị và tiên lượng của ung thư gan thứ phát thường khác với ung thư gan nguyên phát.

Phần còn lại của bài viết này chỉ đề cập đến ung thư gan nguyên phát. Đặc biệt nói về loại phổ biến nhất của dạng này là ung thư tế bào gan.

Có nhiều loại ung thư gan nguyên phát khác nhau bao gồm:

Ung thư tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma – HCC). Thường gặp nhất trong các loại ung thư gan nguyên phát (khoảng 90% các trường hợp). Đây là loại ung thư bắt nguồn từ tế bào gan thường do hậu quả của xơ gan hoặc viêm gan.

Ung thư tế bào gan dạng tấm sợi (Fibrolamellar hepatocellular carcinoma – FHCC) là một phân loại hiếm gặp của ung thư tế bào gan. Loại ung thư này thường phát triển trên nền mô gan bình thường.

Ung thư tế bào ống mật (Cholangiocarcinoma – CC). Đây là loại ít gặp (khoảng 5 – 10% trường hợp). Tế bào ung thư phát triển từ tế bào biểu mô ống mật.

Ung thư nguyên bào gan (Hepatoblastoma). Là một bệnh ung thư hiếm gặp ở trẻ em (chỉ khoảng 0,5-1 % trường hợp).

Sarcoma mạch máu (Angiosarcoma). Đây là loại rất hiếm. Ung thư phát triển từ tế bào mạch máu trong gan.

Nguyên nhân gây ung thư gan nguyên phát

Khối ung thư bắt đầu từ một tế bào bất thường mà nguyên nhân gây nên hiện tượng này hiện vẫn chưa được biết rõ ràng. Người ta cho rằng những tác nhân gây tổn thương hoặc thay đổi gen trong tế bào làm cho tế bào nhân lên một cách mất kiểm soát.

Hầu hết những bệnh nhân ung thư gan có ghi nhận một hoặc vài yếu tố nguy cơ sau:

Xơ gan. Là thương tổn tiến triển chậm gây ra sẹo xơ trong nhu mô gan. Có nhiều nguyên nhân gây xơ gan nhưng thường là do uống rượu và viêm gan siêu vi C. Tuy nhiên, chỉ một số ít bệnh nhân ung thư gan tiến triển thành ung thư gan.

Nhiễm viêm gan siêu vi B hoặc viêm gan siêu vi C lâu dài. Thông thường phải mất khoảng 20-30 năm sau khi nhiễm bệnh mới xuất hiện ung thư gan. Nhiễm viêm gan siêu vi rất phổ biến ở châu Á và châu Phi. Rất nhiều trẻ nhỏ ở đây nhiễm viêm gan siêu vi B, đó là lí do ung thư gan ở những vùng này thường gặp ở người trẻ tuổi.

Ăn phải một số chất độc hoặc độc tố. Ví dụ như aflatoxin, là chất thường bị dây nhiễm trong một số loại thực phẩm như hạt đậu phộng bị mốc. Vấn đề này chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển.

Một số tình trạng viêm nhiễm kéo dài của đường ruột như viêm loét đại tràng, làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư đường mật.

Một số bằng chứng cho thấy hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ ung thư gan.

Nhiễm ký sinh trùng (sán lá gan). Chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư đường mật.

Các triệu chứng của bệnh ung thư gan nguyên phát là gì?

Khi ung thư tiến triển xa hơn nữa, các triệu chứng đặc hiệu có thể xuất hiện bao gồm:

Đau bụng ở vị trí của gan.

Vàng da và niêm mạc. Triệu chứng bắt đầu xuất hiện trước tiên ở tròng trắng của mắt sau đó vàng dần dần toàn thân. Vàng da xuất hiện do ung thư gây tắc nghẽn ống mật làm bilirubin không được bài tiết xuống ruột và thấm vào máu.

Bụng to. Có thể do khối ung thư phát triển to hoặc do tụ dịch trong ổ bụng gây ra bởi các rối loạn chức năng gan.

Làm thế nào để chẩn đoán và đánh giá ung thư gan?

Hình siêu âm bụng cho thấy nốt ung thư tế bào gan (HCC) ở gan trái.

Nếu bị nghi ngờ ung thư gan, bạn có thể được đề nghị làm một số xét nghiệm. Mục đích của các xét nghiệm này nhằm:

Xác định rằng bạn có bị ung thư gan hay không. Nếu có thì xác định đây là ung thư gan nguyên phát hay ung thư gan thứ phát.

Đánh giá giai đoạn của ung thư. Xác định xem ung thư đã ảnh hưởng bao nhiêu phần gan và liệu đã có lan ra các cơ quan khác của cơ thể chưa?

Đánh giá tình trạng chức năng gan và sức khỏe chung của bạn.

Do đó, cần thực hiện một số các xét nghiệm bao gồm:

Siêu âm, CT scan hoặc MRI. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh này cho phép xác định chính xác vị trí và mức độ lan rộng của ung thư gan.

Sinh thiết gan. Bác sĩ thực hiện lấy một mẫu mô nhỏ và quan sát dưới kính hiển vi để xem các tế bào bất thường nhờ đó xác định loại ung thư.

Xét nghiệm máu giúp đánh giá chức năng gan và tình trạng sức khỏe của bạn.

Các xét nghiệm khác có thể được thực hiện nếu các xét nghiệm trên không không đủ để xác định rõ tình trạng bệnh của bạn. Ví dụ như nội soi ổ bụng (nhìn vào bên trong ổ bụng qua ống soi).

Hình CT scan bụng cho thấy khối ung thư tế bào gan (HCC) ở gan phải (mũi tên đen).

Hình MRI gan cho thấy nốt ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) ở gan trái (mũi tên trắng).

Các lựa chọn để điều trị ung thư gan nguyên phát là gì?

Các phương pháp điều trị chính của ung thư gan nguyên phát là phẫu thuật và hóa trị. Ngoài ra còn có một số kỹ thuật điều trị khác cũng có khi được sử dụng. Việc lựa chọn phương pháp điều trị tuỳ thuộc vào các yếu tố sau:

Vị trí của khối ung thư.

Giai đoạn của ung thư (kích thước và độ lan rộng của ung thư).

Tình trạng sức khỏe, đặc biệt là tình trạng chức năng gan (nhiều trường hợp ung thư gan có chức năng gan kém do xơ gan đi kèm).

Một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích chữa khỏi ung thư. Cơ hội tốt nhất để ung thư gan được chữa khỏi là khi bệnh được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm. Các bác sĩ thường có khuynh hướng gọi là điều trị triệt để ung thư (remission) thay vì gọi là chữa khỏi bệnh ung thư (cure). Điều trị triệt để có nghĩa là không còn bằng chứng của ung thư sau khi điều trị. Nếu bạn được điều trị triệt để ung thư, bạn có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, một số trường hợp ung thư tái phát lại sau điều trị triệt để vài tháng hay vài năm. Đây là lí do tại sao bác sĩ hay tránh dùng từ chữa khỏi bệnh.

Trong trường hợp ung thư gan không còn có thể chữa khỏi được, điều trị nhằm mục đích kiểm soát ung thư. Những phương pháp điều trị này nhằm hạn chế sự tăng trưởng và lan rộng của khối ung thư giúp bạn tránh được các triệu chứng ung thư trong một thời gian.

Một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích giảm nhẹ triệu chứng. Ví dụ, nếu ung thư đã ở giai đoạn muộn, thuốc giảm đau giúp bạn bớt đau hoặc các phương pháp điều trị làm giảm kích thước khối u giúp giảm nhẹ các triệu chứng do ung thư gây ra.

Phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư là phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu nhằm mục đích đều trị triệt để ung thư nếu còn có thể thực hiện được. Phẫu thuật này được thực hiện khi khối u không quá to, chưa lan rộng ra ngoài gan và phần gan còn lại sau khi cắt còn đủ để đảm nhiệm chức năng. Mô gan còn lại sẽ tái sinh bù trù vào phần gan bị cắt sau vài tuần. Tuy nhiên, không thể thực hiện phẫu thuật này nếu khối u khá to mà gan bị xơ nặng.

Ghép gan cũng là một lựa chọn điều trị triệt để nhưng cũng chỉ phù hợp cho một số ít trường hợp.

Vài phẫu thuật khác đóng vai trò điều trị giảm nhẹ. Ví dụ phẫu thuật đặt ống thông đường mật (stent) khi có tắc mật do ung thư xâm lấn vào ống mật để điều trị vàng da, đặt ống dẫn lưu dịch qua thành bụng để giảm nhẹ báng bụng.

Hóa trị là phương pháp sử dụng thuốc chống ung thư để diệt tế bào ung thư hoặc để ngăn chặn chúng tăng trưởng. Hoá trị không thể chữa khỏi ung thư nhưng có thể làm giảm kích thước khối u và nhờ đó làm chậm tiến triển của bệnh.

Nhiều loại thuốc mới đang được nghiên cứu để điều trị ung thư gan. Ví dụ sorafenib là một loại thuốc ức chế kinase đa mục tiêu. Nó cản trở sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Nghiên cứu cho thấy sorafenib có thể có lợi ích cho những bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến triển xa.

Một số kỹ thuật điều trị khác đôi khi được sử dụng như:

Hủy u bằng chích cồn (percutaneous ethanol injection – PEI). Cồn nguyên chất được chích trực tiếp vào khối u qua da dưới hướng dẫn và định vị của siêu âm. Cồn hủy u bằng cách làm mất nước trong mô, đông protein trong tế bào và ngừng cung cấp máu nuôi u do phá hủy mạch máu trong u.

Hủy u bằng sóng radio (Radiofrequency Ablation – RFA). Bác sĩ chọc kim qua da vào khối u. Sóng radio cường độ cao được được truyền qua kim để làm nóng tế bào ung thư và tiêu diệt chúng.

Phương pháp áp lạnh (Cryotherapy). Một dụng cụ nhỏ bằng kim loại chứa nitơ lỏng (cryoprobe) được áp trực tiếp vào khối u. Nhiệt độ cực lạnh của nitơ lỏng giúp tiêu diệt tế bào ung thư.

Hoá tắc mạch (TACE). Thuốc hoá trị được trộn với hoá chất dầu sau đó hỗn hợp này được tiêm trực tiếp vào các nhánh động mạch cung cấp máu nuôi khối ung thư. Hóa chất dầu giúp giữ thuốc hóa trị tồn tại trong khối u lâu hơn do đó làm tăng hiệu quả điều trị ung thư.

Xạ trị. Sử dụng chùm tia bức xạ năng lượng cao chiếu tập trung vào mô ung thư để tiêu diệt hoặc ngăn chặn sinh trưởng các tế bào ung thư. Xạ trị ít khi được sử dụng cho bệnh ung thư gan nguyên phát ngoại trừ một số trường hợp ung thư đường mật.

Tiên lượng ung thư gan nguyên phát như thế nào?

Nhìn chung ung thư gan nguyên phát có tiên lượng xấu. Người mắc bệnh ung thư gan thường có sức khoẻ kém do xơ gan kèm theo. Chỉ một số ít bệnh nhân có cơ hội điều trị triệt để bằng phẫu thuật cắt bỏ ung thư gan hoặc ghép gan. Khi không còn điều trị triệt để được, các phương pháp khác chỉ có thể làm chậm tiến triển của bệnh.

Tài liệu tham khảo

http://www.patient.co.uk/health/Cancer-of-the-Liver-Primary.htm

http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/data/news/2011/4/8017/chandoangnp.htm

http://phongkhamchuyengan.com/viem-gan-b.htm

http://www.wattpad.com/3101050-ung-th%C6%B0-gan-tr%E1%BA%A7n-v%C4%83n-h%E1%BB%A3p

http://www.radrounds.com/photo/hepatocellular-carcinoma-hcc

http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2211568413000892

http://radiology.rsna.org/content/214/3/761/F6.expansion.html

http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0720048X12000320

http://globocan.iarc.fr/factsheets/cancers/liver.asp

http://www.intechopen.com/books/liver-tumors-epidemiology-diagnosis-prevention-and-treatment/epidemiology-and-risk-factors