Top 10 # Vacxin Ung Thu Co Tu Cung Tiem May Mui Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Nghien Cuu Dieu Tri Ung Thu Bieu Mo Khoang Mieng Co Su Dung Ky Thuat Tao Hinh Bang Vat Ranh Mui Ma

Published on

Luận án Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má.Ung thư biểu mô khoang miệng là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính niêm mạc miệng phủ toàn bộ khoang miệng bao gồm: Ung thư môi (gồm môi trên, môi dưới, mép), lợi hàm trên, lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng, lưỡi (phần di động), niêm mạc má và sàn miệng

1. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 Luận án Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má.Ung thư biểu mô khoang miệng là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính niêm mạc miệng phủ toàn bộ khoang miệng bao gồm: Ung thư môi (gồm môi trên, môi dưới, mép), lợi hàm trên, lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng, lưỡi (phần di động), niêm mạc má và sàn miệng [31]. MÃ TÀI LIỆU BQT.YHOC. 00129 Giá : 50.000đ Liên Hệ 0915.558.890 Trên thế giới, tỉ lệ ung thư biểu mô khoang miệng khác nhau tuỳ theo khu vực địa lý. Ở Hoa Kỳ, ung thư vùng đầu cổ chiếm 15% tổng số ung thư các loại với tỷ lệ mắc là 9,5 ca trên 100.000 dân. Trong đó, tỷ lệ các khối u ác tính vùng khoang miệng là 30% tổng số ung thư đầu cổ và 5% tổng số các ung thư nói chung. Tỷ lệ mắc bệnh cao ở Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á. Tại Việt nam, theo ghi nhận ung thư 1991-1995, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam là 2,7/100.000 dân (chiếm 1,8%), ở nữ là 3/100.000 dân (chiếm 3,1%). Tính đến năm 2008, ung thư biểu mô khoang miệng là một trong mười ung thư nam giới phổ biến nhất Việt nam [2], [4], [40], [62]. Chỉ định điều trị ung thư biểu mô khoang miệng khác nhau tuỳ theo giai đoạn bệnh. Ở giai đoạn I và II, phẫu thuật hoặc xạ trị đơn thuần có vai trò như nhau. Đối với giai đoạn III và IV, thường có sự phối hợp giữa phẫu thuật, xạ trị và hoá trị (có thể là phẫu thuật và xạ trị, xạ trị và hoá trị hoặc cả ba phương pháp). Tuy nhiên, chỉ định phẫu thuật bao giờ cũng được ưu tiên hàng đầu vì lợi ích của phương pháp này mang lại như không gây tổn thương mô lành, thời gian điều trị ngắn và bệnh nhân không phải chịu đựng những tác dụng phụ do xạ trị. Khoang miệng có nhiều chức năng quan trọng như phát âm, hô hấp, dinh dưỡng và thẩm mỹ. Mặt khác, phẫu thuật cắt bỏ các khối u ác tính đòi hỏi diện cắt phải đủ rộng để tránh tái phát. Vì vậy, việc tạo hình lại các khuyết hổng khoang miệng sau phẫu thuật cắt bỏ khối u là một thách thức lớn đối với phẫu thuật viên, đồng thời cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của phẫu thuật. Trên thế giới, cùng với sự tiến bộ của phẫu thuật tạo hình, nhiều loại vạt cơ và da- cơ như vạt da tại chỗ và kế cận, cơ ngực lớn, cơ ức đòn chũm, cơ lưng to, cơ thang, cơ bám da cổ sử dụng liền cuống đã mang lại hiệu quả rất lớn trong tái tạo các tổn khuyết vùng khoang miệng. Tuy nhiên những vạt trên khó đạt hiệu quả cao vì sự hạn chế vươn dài của vạt, sự quay của vạt quá cồng kềnh và làm biến dạng rất nhiều ở vùng có cuống vạt đi qua [19].

2. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 Vi phẫu thuật ra đời cho phép sử dụng các vạt da-cơ hay da-cơ-xương từ xa có cuống nuôi để nối với mạch máu dưới kính phóng đại [78]. Tiến bộ này đã mang lại cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật tạo hình, tuy nhiên không phải cơ sở ngoại khoa nào cũng có thể áp dụng được. Trong các vạt da tại chỗ và kế cận, vạt rãnh mũi má được coi là vạt có cuống mạch, có thể sử dụng để điều trị các tổn khuyết vùng khoang miệng. Vạt rãnh mũi má đã được sử dụng từ năm 600 trước Công nguyên [48], sau đó đến thế kỷ XIX-XX đã được nhiều tác giả nghiên cứu cải tiến sử dụng rộng rãi với rất nhiều hình thức như chuyển vạt cuống trên, cuống dưới hoặc vạt đảo để tái tạo những khuyết hổng phần mềm vùng hàm mặt. Vạt này được nhiều tác giả thừa nhận là vạt có nhiều ưu điểm về màu sắc, chất liệu, sức sống tốt, linh hoạt, đa dạng và sẹo nơi cho vạt kín đáo trùng với nếp rãnh mũi má trên mặt. Mặt khác việc tạo hình bằng vạt này cho phép tiến hành phẫu thuật trong thời gian ngắn, điều đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhân già yếu hoặc có bệnh kèm theo không chịu được phẫu thuật nặng nề và kéo dài. Ở nước ta, các nghiên cứu về ung thư biểu mô khoang miệng chưa nhiều, đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về điều trị khối u ác tính khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má. Chính vì vậy, đề tài này được thực hiện nhằm các mục tiêu sau: 1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của ung thư biểu mô khoang miệng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu. 2. Đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má. MỤC LỤC Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU 3 1.1.1. Hình thể 3 1.1.2. Mạch máu 5 1.1.3. Thần kinh 6 1.1.4. Bạch huyết 6 1.2. DỊCH TỄ HỌC, NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ 8 1.2.1. Dịch tễ học 8 1.2.2. Các yếu tố nguy cơ 9 1.3. CHẨN ĐOÁN 11 1.3.1. Chẩn đoán xác định 11 1.3.2. Chẩn đoán phân biệt 16

5. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 viện K”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 7. Huỳnh Anh Lan, Nguyễn Thị Hồng (2002), “Phòng chống UTBM khoang miệng trong thực hành và trong cộng đồng”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 6, tr. 14-17. 8. Trần Đặng Ngọc Linh (1998), “Khảo sát dịch tễ học, bệnh học lâm sàng, điều trị ung thư hốc miệng”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 9. Trần Đặng Ngọc Linh, Phan Thanh Sơn, Phạm Chí Kiên và CS (1999), “Ung thư hốc miệng. Dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản chuyên đề ung ung bướu, 3(4), tr. 143-149. 10. Trịnh Văn Minh (1998), Giải phẫu người tập I, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr. 451-484. 11. Đoàn Hữu Nghị, Phạm Hoàng Anh, Trần Kim Chi (1995), “Bước đầu nhận xét giai đoạn bệnh những ung thư thường gặp ở bệnh viện K 1992 – 1994″, Chống đau ung thư và điều trị triệu chứng, Hà Nội, tr. 15-17. 12. Phạm Cẩm Phương (2005), ” Đánh giá hiệu quả của hoá chất tân bổ trợ phác đồ CF trong điều trị ung thư lưỡi giai đoạn III, IV (Mo) tại bệnh viện K từ năm 2002 – 2005″, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện, Trường Đại học y Hà Nội. 13. Lương Thị Thúy Phương (2005), “Đánh giá kết quả sử dụng vạt rãnh mũi má trong điều trị tổn khuyết phần mềm tầng giữa và dưới mặt”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện chuyên ngành phẫu thuật tạo hình, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 14. Nguyễn Hữu Phúc, Nguyễn Chấn Hùng và CS (2004), “Ung thư lưỡi, dịch tễ, chẩn đoán và điều trị”, Y học thành phố Hồ Chí Minh chuyên đề ung bướu học, Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, tr 137-145. 15. Lê Văn Quảng (2012), “Nghiên cứu điều trị ung thư lưỡi giai đoạn III, IV (M0) bằng Cisplatin – 5 Fluorouracil bổ trợ trước phẫu thuật và/hoặc xạ trị”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà nội. 16. Nguyễn Quang Quyền (1995), Bài giảng giải phẫu học tập 1, Nhà xuất bản Y học, tr. 305. 17. Lê Đình Roanh (2001), “Cấu trúc của một số u phổ biến”, Bệnh học các khối u, Nhà xuất bản y học, tr. 129-155. 18. Trần Thiết Sơn (2006), “Quá trình liền vết thương”, Phẫu thuật tạo hình, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr.19-23. 19. Lê Văn Sơn (2003), “Phục hồi các tổn khuyết vùng hàm mặt bằng vạt cân-cơ thái dương”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội.

6. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 20. Hàn Thị Vân Thanh, Nguyễn Quốc Bảo (2009), “Kết quả điều trị phẫu thuật ung thư sàn miệng tại bệnh viện K giai đoạn 2003-2008”, Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y tế, 3(651), p.65-68. 21. Nguyễn Văn Thành (2002), “Khảo sát độ mô học của carcinom tế bào gai ở hốc miệng”, Tạp chí y học thực hành,431, Bộ Y tế, tr 19-24. 22. Nguyễn Hữu Thợi (2007), “Các nguyên tắc xạ trị trong ung thư”, Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản y học, tr. 31-38. 23. Bạch Minh Tiến (2002),”Sử dụng vạt trán và vạt rãnh mũi má điều trị tổn khuyết phần mềm vùng mũi”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 24. Vi Huyền Trác (2000), “U ác tính hay ung thư”, Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản y học, pp. 115-129 25. Phạm Tuân (1991), “Các ung thư vùng đầu cổ”, Ung thư học lâm sàng (sách dịch), Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr. 306-327. 26. Nguyễn Văn Vi, Huỳnh Anh Lan (2000), “Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ ung thư hốc miệng”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng hàm mặt năm 2000, Trường Đại học Y dược thànhphố Hồ Chí Minh, tr. 107-122.

Vacxin Phòng Ung Thư Cổ Tử Cung

16/09/2017 Tác giả: Tham vấn y khoa bởi: Bệnh viện Thu Cúc Đội ngũ bác sĩ Thu Cúc 1.112 lượt xem

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, độ tuổi nên tiêm phòng ung thư cổ tử cung là từ 9 – 26 tuổi và chưa có quan hệ tình dục. Tuy nhiên vacxin này cũng có hiệu quả với những phụ nữ đã có quan hệ tình dục và đã có con. Nhưng lưu ý là những đối tượng này cần chưa nhiễm virus gây ung thư cổ tử cung (HPV).Để biết chính xác bạn có nhiễm virus HPV hay không, bạn cần đến bệnh viện để làm xét nghiệm ung thư cổ tử cung. Bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm HPV để chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe. Trường hợp bạn chưa nhiễm virus HPV thì có thể tiến hành tiêm vacxin phòng ung thư cổ tử cung.Bạn cần tiêm đủ 3 mũi vacxin phòng bệnh. Mũi thứ 2 cách mũi đầu tiên 2 tháng, mũi thứ 3 cách mũi đầu tiên 6 tháng. Bạn cần phải tiêm đúng lịch hẹn của bác sĩ. Nếu để muộn so với lịch tiêm thì cần tiêm bổ sung mũi tiếp theo, không cần tiêm lại từ đầu.Trong trường hợp đang trong quá trình tiêm vacxin phòng ngừa ung thư cổ tử cung mà có thai cần dừng tiêm đến khi sinh xong mới tiêm mũi tiếp theo. Tuy nhiên, thời gian hoàn tất ba mũi tiêm không được quá 2 năm.

Việc tiêm vacxin phòng ung thư cổ tử cung không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Vì thế bạn cần chú ý tới chế độ sinh hoạt hàng ngày: sinh hoạt tình dục lành mạnh, sử dụng bao cao su trong khi quan hệ tình dục để tránh lây nhiễm các bệnh ở đường sinh dục; vận động thể dục thể thao hàng ngày và bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.Bạn cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm bệnh lý tiềm ẩn trong cơ thể (nếu có) để kịp thời điều trị sớm bệnh.Bệnh viện Thu Cúc hiện không thực hiện dịch vụ tiêm vắc xin phòng ngừa HPV – virus gây ung thư cổ tử cung. Để tiêm phòng ung thư cổ tử cung, bạn có thể tới các bệnh viện phụ sản, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm y tế địa phương…Để tìm hiểu thêm thông tin về việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung hoặc đặt lịch tầm soát ung thư cổ tử cung tại bệnh viện Thu Cúc, mời bạn liên hệ tổng đài 1900 55 88 92 hoặc hotline 0936 388 288 để được tư vấn kỹ lưỡng.

Vacxin Phòng Bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung

Vacxin phòng bệnh ung thư cổ tử cung

1. Tác dụng của vắc xin phòng ung thư tử cung

Có nhiều chủng HPV gây nên bệnh ung thư tử cung thường lây lan qua đường tình dục gây ra hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung. Hiện nay có hai loại vắc xin được sử dụng rộng rãi trên thế giới đó là Gardasil và Cervarix Cả hai loại này có thể ngăn chặn hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung nếu trước khi nữ giới tiếp xúc với vi rút gây bệnh.

Ngoài ra, cả hai có thể ngăn ngừa ung thư âm đạo và âm hộ ở phụ nữ, và Gardasil có thể ngăn chặn các mụn cóc ở bộ phận sinh dục ở phụ nữ và nam giới.

2. Sử dụng vắc xin ung thư cổ tử cung cho lứa tuổi nào

Vắc xin tiêm chủng ung thư cổ tử cung được khuyế n khích cho trẻ em cả gái và trai từ 11-12 tuổi mặc dù nó có thể tiêm chủng ở 9 tuổi nhưng mục đích chung là tiêm ngừa trước khi họ biết quan hệ tình dục. Một khi họ bị nhiễm với HPV thì vắc xin không hiệu quả bằng.

Nếu ở lứa tuổi từ 11-12 chưa được tiêm chủng thì trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh dịch khuyến cáo. Nữ giới dưới 26 tuổi chưa được tiêm phòng chủng vắc xin ung thư cổ tử cung thì nên tiêm ngay vắc xin phòng chủng để ngừa bệnh.

Tiêm ba mũi vắc xin trong khoảng 6 tháng đối với cả hai loại vắc xin này. liều thứ hai cách liều thứ nhất 1-2 tháng và liều thứ 3 tiêm sau liều thứ nhất 6 tháng.

Chú ý: Khuyến cáo dùng vắc xin tiêm ngừa ung thư cổ tử cung cho phụ nữ mang thai hoặc những người bị bệnh nặng. Sau khi tiêm xong nếu thấy có hiên tượng dị ứng nào thì nên tới gặp bác sĩ.

3. Vì sao phải tiêm phòng 3 mũi vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung

4.Thuốc ngừa chủng ung thư cổ tử cung giúp phòng tránh bệnh trong quan hệ tình dục.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, Gardasil và Cervarix có hiệu quả trong các nhóm nữ giới trong độ tuổi hoạt động tình dục 26 hoặc trẻ hơn, một số người đã bị nhiễm một hoặc nhiều loại HPV. Tuy nhiên, Gardasil và Cervarix chỉ bảo vệ bạn từ các chủng cụ thể của HPV mà bạn đã không được tiếp xúc.

5.Tác dụng phụ của vắc xin phòng tránh ung thư cổ tử cung

Thường thù sau khi tiêm xong thì người tiêm biểu hiện các hiệu ứng nhẹ với thuốc như nhức đầu, sốt nhẹ hoặc có các triệu chứng giống như bị cúm. Đôi khi chóng mặt hoặc ngất xỉu xảy ra sau khi tiêm, đặc biệt là ở thanh thiếu niên. Còn lại ngồi trong 15 phút sau khi tiêm có thể làm giảm nguy cơ ngất xỉu. Ngoài ra, Cervarix cũng có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy hoặc đau bụng.

Tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm các phản ứng dị ứng nặng và thần kinh, chẳng hạn như điểm yếu, tê liệt và sưng não – đã được báo cáo ở một số ít phụ nữ. Tuy nhiên, hầu như tất cả các báo cáo của các tác dụng phụ có hại đối dường như đã xảy ra một cách tình cờ trong khoảng thời gian tiêm chủng.

6.Những phụ nữ đã được tiêm phòng vaccin ung thư cổ tử cung vẫn cần phải làm xét nghiệm

Thuốc chủng ngừa ung thư cổ tử cung không có ý định để thay thế các xét nghiệm pap. Thói quen tầm soát ung thư cổ tử cung thông qua kiểm tra vùng chậu và xét nghiệm Pap thường xuyên vẫn là một phần quan trọng của chăm sóc y tế dự phòng của người phụ nữ.

Vacxin Phòng Chống Ung Thư Cổ Tử Cung Là Gì?

Vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung là gì? Các loại vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung. Tiêm vacxin chống ung thư cổ tử cung là gì? Tiêm vacxin phòng chống ung thư tử cung cần bao nhiêu mũi. Tiêm vacxin chống ung thư cổ tử cung bao nhiêu tiền. Tiêm vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung cần làm những xét nghiệm gì?

Vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung là gì?

Vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung là loại vacxin phòng chống virus HPV – Nguyên nhân chính dẫn đến ung thư cổ tử cung ở phụ nữ. Virus HPV – Virus Human Papillomavirus là tác nhân chính gây nên các bệnh ở bộ phận sinh dục. Các bệnh cụ thể như: sùi mào gà, ung thư cổ tử cung, các bệnh ung thư âm hộ khác.

Virus HPV có khoảng 120 chủng loại khác nhau. Trong số 120 loại chủng HPV này, có 2 chủng HPV: HPV16 và HPV18 là nguyên nhân gây ra khoảng 70% số ca mắc bệnh ung thư cổ tử cung, 60% các bệnh về ung thư âm đạo, 40% các bệnh ung thư âm hộ, 80% các bệnh về ung thư hậu môn. Hai chủng HPV là HPV6 và HPV11 là nguyên nhân chính gây nên mụn cóc ở bộ phận sinh dục.

Tiêm vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung là gì?

Tiêm vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung có thể giúp ngăn chặn các chủng HPV có thể dẫn tới ung thư cổ tử cung. Việc tiêm phòng HPV sẽ đạt được kết quả tốt nhất khi vacxin được tiêm trước khi bắt đầu hoạt động tình dục – trước khi xảy ra phơi nhiễm HPV.

Có những loại vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung nào?

Vacxin Gardasil thường được gọi với tên “vacxin ung thư cổ tử cung của Mỹ”. Hay cũng có tên gọi khác là vaxin tứ giá. Sở dĩ có những tên gọi này là vì vacxin này được sản xuất và cung cấp bởi Mỹ. Ngoài ra, tên gọi “vaxin tứ giá” xuất phát từ đặc tính về số lượng chủng virus HPV có thể phòng tránh.

Vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung Gardasil có thể phòng chống tới 4 loại chủng virus HPV khác nhau. Các loại chủng virus HPV này bao gồm: HPV16, HPV18, HPV6 và HPV11. Gardasil là vacxin phòng ngừa HPV nguy cơ gây nên bệnh ung thư cổ tử cung, ung thư âm đạo, ung thư âm hộ, sùi mào gà, ung thư hậu môn từ HPV16 và HPV18. Và các trường hợp mụn cóc ở bộ phận sinh dục từ HPV6 và HPV11. Bốn loại chủng virus HPV này khi được phòng chống sẽ hạn chế được những trường hợp mắc bệnh.

Hiện nay, loại vacxin này được cấp phép tiêm cho cả nam và nữ tại nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam loại vacxin này mới được cấp phép sử dụng cho nữ giới từ 9 đến 26 tuổi.

Lịch tiêm của vacxin Gardasil bao gồm 3 mũi tiêm. Mũi tiêm 1 là ngày tiêm mũi đầu tiên. Mũi tiêm 2 được tiêm cách 2 tháng sau mũi tiêm đầu tiên. Mũi tiêm 3 được tiêm cách 6 tháng sau mũi tiêm đầu tiên.

Vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung Cervarix có xuất xứ từ Bỉ. Vacxin này còn có tên gọi là vacxin nhị giá. Tên gọi nhị giá là do vacxin này có khả năng phòng ngừa trường hợp gây bệnh từ hai chủng HPV là HPV16 và HPV18. Phòng ngừa các tổn thương ung thư ác tính và tiền ung thư trên cơ thể người.

Ở nhiều nước phát triển trên thế giới như Mỹ và Úc, vacxin được chỉ định sử dụng cho cả nam giới và nữ giới từ 9 tuổi trở lên. Và ở một số nước còn cho phép tiêm vacxin Cervarix đối với phụ nữ 45 tuổi trở xuống. Tuy nhiên, ở Việt Nam vacxin Cervarix được chỉ định dùng cho bé gái từ 10 tuổi trở lên và phụ nữ dưới 25 tuổi.

Lịch tiêm của vacxin Cervarix cũng bao gồm 3 mũi. Tuy nhiên có sự khác biệt về thời gian cách nhau giữa các mũi so với vacxin Gardasil. Mũi tiêm 1 là ngày tiêm mũi đầu tiên. Mũi tiêm thứ 2 được tiêm cách 1 tháng so với mũi tiêm đầu tiên. Mũi tiêm thứ 3 được tiêm cách 6 tháng so với mũi tiêm đầu tiên.

Cần làm những xét nghiệm gì trước khi tiêm vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung

Trước khi tiêm vacxin chống ung thư cổ tử cung không cần làm các xét nghiệm. Điều kiện để thực hiện các mũi tiêm phòng HPV rất đơn giản. Tất cả nữ giới trong độ tuổi từ 9 đến 26, không mang thai, không mắc các bệnh cấp tính và không dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc là có thể tới các cơ sở y tế để tiến hành tiêm vacxin phòng HPV. Khi tới các cơ sở y tế để tiêm phòng, bạn sẽ được kiểm tra, sàng lọc trước.

Tiêm vacxin phòng chống ung thư cổ tử cung bao nhiêu tiền?

Với 2 loại vacxin phòng ngừa ung thư cổ tử cung khác nhau cũng có 2 mức giá khác nhau. Mức giá này được áp dụng hầu như giống nhau tại các cơ sở y tế.

Đối với vacxin Gardasil: 1.300.000 đồng/ lần

Đối với vacxin Cervarix: 850.000 đồng/ lần

Các loại vacxin này tuy có tác dụng phòng tránh ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, để đảm bảo sức khỏe luôn trong tình trạng tốt nhất, cần thăm khám định kì tại các cơ sở y tế để được tư vấn và phát hiện bệnh kịp thời.