Top 9 # Vi Rút Ung Thư Vú Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Dùng Vi Rút Hiv Chữa Ung Thư Máu

Vợ chồng anh Jensen và bác sĩ Carl June tại bệnh viện – Ảnh: Georgia Newsday

Vào đầu năm 2012, Marshall Jensen, sống ở tiểu bang Utah của Mỹ, bị sốc khi kết quả kiểm tra cho thấy anh mắc bệnh ung thư máu, thường được gọi là bệnh bạch cầu cấp hay máu trắng. Đây là dạng ung thư ác tính do sự sản sinh đột biến của các tế bào bạch cầu bất thường. Thay vì thực hiện chức năng miễn dịch bảo vệ cơ thể, các bạch cầu bất thường này tấn công hồng cầu rồi đến cả các tế bào khác.

Theo Đài KSL, sau khi trải qua nhiều cuộc phẫu thuật và đủ loại liệu trình không thành công trên khắp nước Mỹ, gia đình Jensen quyết định tham gia chương trình điều trị thử nghiệm tại Bệnh viện Đại học Pennsylvania tại thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania. Điều kỳ diệu đã đến khi vào tuần trước, Jensen, 30 tuổi, cùng vợ Amanda và cậu con trai nhỏ Kezman đã có thể trở về nhà sau khi được xác nhận cơ thể anh đã lần đầu tiên sạch bóng ung thư sau nhiều năm. Đáng chú ý hơn nữa là giờ đây, Jensen đang mang trong người một dạng vô hại của HIV, vi rút gây ra căn bệnh thế kỷ AIDS.

Theo tờ Daily Mail, vào năm 2006, giới y khoa đón nhận một bước đột phá lớn với trường hợp của Timothy Brown, một bệnh nhân HIV/AIDS mắc thêm ung thư máu. Người này được ghép tủy xương từ một người hiến tặng có biến dị gien hiếm gặp. Cuộc cấy ghép không những giúp trị bệnh máu trắng mà còn loại bỏ sạch sẽ vi rút HIV trong cơ thể Brown, khiến ông trở thành người đầu tiên trong lịch sử được tuyên bố khỏi hoàn toàn HIV. Từ đó, các chuyên gia nỗ lực xác lập mối liên hệ tác động qua lại giữa HIV và ung thư máu để tìm phương pháp điều trị hữu hiệu cho cả hai căn bệnh quái ác này.

Đến nay, sau trường hợp của Jensen và một số bệnh nhân khác, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Pennsylvania do bác sĩ Carl June dẫn đầu được đánh giá là đã thành công bước đầu trong việc dùng HIV chữa bệnh máu trắng.

Trong liệu pháp thử nghiệm mang tên Liệu pháp miễn dịch tế bào T, các chuyên gia trích xuất hàng tỉ tế bào T, một dạng tế bào bạch cầu, từ cơ thể bệnh nhân và cho chúng kết hợp với vi rút HIV đã được “thuần hóa”. “Chúng tôi loại bỏ hoàn toàn các đặc tính gây hại của HIV nhưng vẫn giữ nguyên đặc điểm quan trọng nhất của chúng, đó là khả năng chèn gien mới vào tế bào miễn dịch”, Đài KSL dẫn lời bác sĩ June cho hay.

Dưới tác động của HIV, các tế bào T được tái lập trình, mang lại cho chúng khả năng nhận dạng và tiêu diệt tế bào bạch cầu ác tính. Sau một thời gian nuôi trong phòng thí nghiệm, các “chiến binh” này, được nhóm nghiên cứu đặt tên là CTL019, sẽ được truyền trở lại vào cơ thể bệnh nhân để tìm diệt ung thư. Theo bác sĩ June, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các tế bào CTL019 sẽ “ngủ đông” trong cơ thể, phục sẵn trong trường hợp ung thư quay lại.

Trước Mashall Jensen, nhóm của bác sĩ June đã áp dụng thành công Liệu pháp miễn dịch tế bào T cho bé gái Emma Whitehead vào năm 2012. Khi đó, bé Whitehead (7 tuổi) là đứa trẻ đầu tiên được điều trị ung thư máu bằng phương pháp này. Đến nay, cô bé gần như đã hoàn toàn khỏe mạnh, có thể đi học, vui chơi một cách hoàn toàn bình thường dù vẫn phải đến bệnh viện kiểm tra định kỳ. Hai trường hợp của Jensen và Whitehead đã được các chuyên gia thuộc Bệnh viện Đại học Pennsylvania và Bệnh viện Nhi Philadelphia công bố chi tiết trong chuyên san The New England Journal of Medicine.

Ngoài ra, cách đây 6 tháng, nhóm nghiên cứu đã áp dụng liệu pháp mới trên 30 bệnh nhân máu trắng, gồm 5 người từ 26 đến 60 tuổi và 25 người từ 5 đến 22 tuổi. Đến nay, 23 trong số 30 bệnh nhân vẫn còn sống và tình trạng đang tiến triển tốt, theo tờ The New York Times. Từ những kết quả trên, Cơ quan Quản lý dược và thực phẩm Mỹ đã gọi Liệu pháp miễn dịch tế bào T là “liệu pháp đột phá” cho cả người lớn lẫn trẻ em.

Bác sĩ June chia sẻ trong thời gian tới, nhóm của ông sẽ vừa tiếp tục nghiên cứu để tăng hiệu quả và giảm chi phí của liệu pháp mới vừa tìm hướng áp dụng nó để điều trị các loại ung thư khác, với mục tiêu trước mắt là ung thư tuyến tụy.

Phòng Nhiễm Vi Rút Hpv

Bên cạnh tiêm vắcxin phòng bệnh thì ăn uống khoa học, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tập thể thao thường xuyên… sẽ giúp bạn tránh lây nhiễm virus HPV.

Thạc sĩ, bác sĩ Lê Quang Thanh – Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết, ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh nguy hiểm, có thể tước đoạt khả năng làm mẹ của phụ nữ và có tỷ lệ gây tử vong cao. Gần như tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung là do virus HPV gây ra. Các chủng HPV 16 và HPV 18 là thủ phạm gây ra khoảng 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung, còn lại do các chủng HPV nguy cơ cao khác. Ngoài ra, chủng HPV 6 và HPV 11 là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới mụn cóc sinh dục.

“Tại Việt Nam, mỗi năm có đến 5.000 ca mắc ung thư cổ tử cung, trong đó một nửa không qua khỏi. Tính trung bình mỗi ngày có 14 người mắc bệnh, trong đó bảy người tử vong. Hàng năm, Bệnh viện Từ Dũ tiếp nhận 700-800 ca bệnh này. Nó không triệu chứng có điển hình nhìn vào có thể biết được. Ngay cả giai đoạn tiền ung thư cổ tử cung cũng không có biểu hiện rõ ràng”, bác sĩ Thanh nói thêm.

Virus HPV lây nhiễm qua tiếp xúc sinh dục (kể cả quan hệ bằng tay, miệng); truyền qua đồ lót, găng phẫu thuật, kềm bấm sinh thiết… và từ mẹ sang con, gây ra bệnh đa bướu gai hô hấp.

Theo các bác sĩ, nhiễm virus HPV không đồng nghĩa bạn sẽ bị ung thư cổ tử cung bởi virus HPV có nhiều chủng khác nhau, trong đó 90% trường hợp cơ thể có thể làm sạch khi bị nhiễm loại virus này, chỉ có vài chủng HPV có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung. Nếu đã nhiễm HPV thì nên theo dõi và phát hiện sớm tổn thương gây ra. Phát hiện sớm, bạn có thể điều trị áp lạnh, đốt điện, khoét chóp cổ tử cung. Còn phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn có thể phải cắt bỏ cổ tử cung, tử cung, thậm chí phối hợp với xạ trị, hóa trị.

Nhiễm virus HPV có thể gây tử vong, do tính chất và sự nguy hiểm của bệnh, bác sĩ tư vấn một số cách phòng tránh lây nhiễm virus này như sau:

– Thăm khám phụ khoa định kỳ và làm xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung để giảm nguy cơ mắc bệnh và phát hiện bệnh sớm.

– Duy trì chế độ ăn khoa học, đủ dưỡng chất.

– Làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tập thể thao thường xuyên, tăng sức đề kháng để loại bỏ HPV khỏi cơ thể.

– Thiết lập lối sống lành mạnh, sinh hoạt tình dục an toàn, sử dụng bao cao su mỗi khi quan hệ. Hạn chế số bạn tình và chung thủy với một người.

Thạc sĩ, bác sĩ Lê Quang Thanh cho biết, những cách trên chỉ là giải pháp thứ cấp. Biện pháp dự phòng chủ động tốt nhất là tiêm vắcxin phòng ngừa HPV, bởi vắcxin sẽ tạo kháng thể chống lại virus HPV. Độ tuổi tiêm vắcxin ngừa HPV khoảng 9-26 tuổi.

Cũng theo bác sĩ Thanh, đối với một loại vắcxin, khi được phép cho lưu hành thì đã phải trải qua nhiều giai đoạn nghiên cứu, sàng lọc. Trong quá trình nghiên cứu, câu hỏi đầu tiên các chuyên gia, bác sĩ đặt ra là vắcxin này có an toàn hay không, có ảnh hưởng đến sức khỏe, sau đó mới xem nó có hiệu quả đến đâu. Vắcxin thường chỉ có tác dụng phụ tại chỗ như: đau nhẹ ở nơi tiêm, sốt nhẹ. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Bệnh truyền nhiễm Mỹ, đã có hơn 205 triệu liều vắcxin ngừa HPV được sử dụng.

Tại Việt Nam, từ khi cấp phép lưu hành từ năm 2008 đến nay, đã có hơn 1,4 triệu liều vắc xin ngừa HPV được sử dụng. Khi muốn tìm hiểu thông tin y học, vắcxin thì nên tìm đến các cơ sở y tế, bệnh viện, trung tâm y tế dự phòng và nguồn báo chí chính thống.

Vi Rút Bạch Cầu Cấp Ở Gia Súc Có Thể Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú Cho Con Người

[Ngày 21 tháng 9 năm 2015]

Các nhà khoa học đã phát hiện ra BLV trong 59% mẫu lấy từ các bệnh nhân ung thư vú, kết quả này được so sánh với 29% mẫu lấy từ các bệnh nhân không mắc bệnh.

Cho đến thời điểm gần đây, liệu BLV có tồn tại ở con người hay không lại chưa được các nhà khoa học chắc chắn.

Một nhóm nghiên cứu do Gertrude Buehring, giáo sư ngành Vi rút học tại Bộ phận Bệnh truyền nhiễm và Vắc xin thuộc Trường Y Tế Cộng Đồng của Đại học California-Berkeley làm trưởng nhóm, sau khi phát hiện dấu hiệu của BLV trên con người lần đầu tiên vào năm 2014 đã thay đổi hoàn toàn quan điểm bấy lâu nay, rằng việc truyền nhiễm BLV sang con người là không thể xảy ra.

Giáo sư Buehring sau đó đã dẫn dắt nhóm nghiên cứu tìm ra mối liên hệ giữa BLV và bệnh ung thư vú.

Dữ liệu nhanh về bệnh ung thư vú

Tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú tại Mỹ sau hai thập kỷ tăng nhanh đã giảm đáng kể từ năm 2000

Khoảng 231.840 trường hợp mới mắc bệnh ung thư vú xâm lấn sẽ được chẩn đoán tại Mỹ trong năm nay

Trong năm 2015 khoảng 40.290 phụ nữ Mỹ sẽ chết vì bệnh ung thư vú.

Tìm hiểu thêm về bệnh ung thư vú

BLV có trong sữa, bò lấy thịt, gây ra các khối u ác tính và ung thư hạch bạch huyết cho động vật bị nhiễm bệnh với con số lên đến 5%. Một chỉ số tin cậy về tình trạng nhiễm BLV là sự hiện diện của các kháng thể vi rút trong huyết thanh hoặc sữa. Cơ sở cho sự xuất hiện BLV được hình thành dựa trên nghiên cứu đầu tiên tại Mỹ vào năm 1996 với kết quả cho thấy rằng 89% trang trại chăn nuôi bò sữa tại Mỹ có sự xuất hiện của BLV.

Nghiên cứu gần đây nhất về sữa bò được tiến hành vào năm 2007 – với sự tham gia của hơn 82% số bò sữa từ 17 tiểu bang sản xuất sữa chủ yếu của đất nước – cho thấy rằng gần 84% trang trại cho kết quả dương tính với BLV, mặc dù chỉ có 7.5% trang trại độc lập xác nhận sự hiện diện của loại vi rút này.

Giáo sư Buehring cho rằng: “Các thí nghiệm chúng ta đang tiến hành hiện tại có tính chuẩn xác hơn, tuy nhiên vẫn khó để thay đổi hoàn toàn tín điều đã được hình thành, rằng BLV không thể lây sang người”. “Kết quả là, có rất ít động lực để ngành công nghiệp chăn nuôi gia súc thiết lập các quy trình trong đó bao gồm cả sự lây lan của vi rút.”

BLV là một mối nguy đáng kể đối với bệnh ung thư vú

Bằng việc cho thấy khả năng cao hơn về sự hiện diện của BLV đối với bệnh ung thư vú, nghiên cứu mới này đã đưa những phát hiện năm trước của Giáo sư Buehring và nhóm nghiên cứu của ông tiến thêm một bước.

Giáo sư cho rằng:

“Tỉ lệ này cao hơn hẳn so với bất cứ yếu tố nguy cơ nào được công bố thường xuyên đối với bệnh ung thư vú, như béo phì, tiêu thụ rượu và việc sử dụng các kích thích tố hậu mãn kinh.”

Giáo sư Buehring lưu ý rằng nghiên cứu không cho thấy cách thức lây nhiễm của vi rút vào các mô vú, nhưng nó có thể lây qua sữa tiệt trùng, thịt sống hay từ người sang người.

Bà cho rằng, đây là bước quan trọng đầu tiên cùng với các nghiên cứu cần thiết để xác định liệu BLV có tồn tại trong mô vú trước khi bệnh ung thư hình thành hay không. Bà cũng nhấn mạnh rằng, dù sao thì những phát hiện mới nhất không chứng minh rằng BLV gây nên bệnh ung thư vú.

Được viết bởi Jonathan Vernon

(Dịch bởi Phòng khám Gia đình Việt Úc – Theo Medical News Today)

Triệu Chứng Nhiễm Bệnh Và Cách Phòng Ngừa Vi Rút Ebola

Triệu chứng nhiễm bệnh và cách phòng ngừa vi rút Ebola

Về triệu chứng lâm sàng, thời gian ủ bệnh trung bình là 2-21 ngày với các triệu chứng thường gặp bao gồm sốt cấp tính; đau đầu, đau mỏi cơ; nôn, buồn nôn; tiêu chảy; đau bụng; viêm kết mạc.

Bệnh nhân bị phát ban thì ban đầu ban nhú đỏ sẫm mầu như đinh ghim tập trung ở nang lông, sau hình thành nên tổn thương ban dát sẩn có ranh giới rõ và cuối cùng hợp thành ban lan tỏa, thường trong tuần đầu của bệnh. Triệu chứng xuất huyết là đi ngoài phân đen; chảy máu nơi tiêm truyền; ho máu, chảy máu chân răng; đái máu; chảy máu âm đạo.

Hiện chưa có vắcxin phòng bệnh đặc hiệu với virus Ebola, chủ yếu là điều trị hỗ trợ. Các ca bệnh nghi ngờ đều phải được khám tại bệnh viện, cách ly và lấy mẫu bệnh phẩm gửi làm xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán bệnh. Các ca bệnh xác định cần phải nhập viện điều trị và cách ly hoàn toàn.

Virus Ebola có thể truyền qua sữa mẹ. Khi nghi ngờ mẹ bị nhiễm bệnh, mẹ và trẻ cần được nhập viện và cách ly cho đến khi loại trừ nhiễm bệnh. Mẹ nên ngừng cho con bú.

Bệnh nhân được xuất viện khi sau 3 ngày không sốt và không có các dấu hiệu gợi ý có sự đào thải virus ra môi trường như đi ngoài phân lỏng, ho, chảy máu…; Các triệu chứng lâm sàng cải thiện tốt, tình trạng bệnh nhân ổn định, có thể tự thực hiện các hoạt động thường ngày.

Trong trường hợp làm được xét nghiệm, kết quả PCR virus Ebola âm tính (từ ngày thứ 3 trở đi kể từ khi khởi phát). Nếu xét nghiệm PCR virus Ebola âm tính 2 lần liên tiếp, làm cách nhau tối thiểu 48 giờ, trong đó có ít nhất 1 xét nghiệm làm vào ngày thứ 3 trở đi kể từ khi khởi phát mà các triệu chứng lâm sàng không cải thiện, có thể chuyển bệnh nhân ra khỏi khu vực cách ly để tiếp tục chăm sóc.

Để phòng lây nhiễm virus Ebola cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt. Khi phát hiện người nghi ngờ nhiễm virus Ebola cần phải khám và cách ly kịp thời. Tại các cơ sở y tế phải thực hiện các phương pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa theo đường lây; Thực hiện khai báo, thông tin, báo cáo ca bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Đối với người bệnh cần thực hiện cách ly, điều trị tại cơ sở y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế; sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân đúng để hạn chế lây truyền bệnh; hạn chế tiếp xúc, vận chuyển bệnh nhân, trong trường hợp cần vận chuyển phải sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân và xe chuyên dụng. Các vật dụng bị ô nhiễm, đồ thải bỏ và chất thải của bệnh nhân cần phải khử trùng và xử lý theo quy định. Virus Ebola tiếp tục được bài tiết qua tinh dịch và sữa mẹ vì vậy cần tư vấn cho bệnh nhân cách phòng tránh lây truyền sau khi xuất viện…

Người chăm sóc bệnh nhân phải thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân (khẩu trang N95, kính đeo bảo hộ mắt, mũ, găng tay, bao giầy, quần áo) rửa tay ngay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn khác sau mỗi lần tiếp xúc với người bệnh.

Cần hạn chế tối đa việc tiếp xúc với bệnh nhân; thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; sử dụng các thuốc sát khuẩn đường mũi họng. Cần lập danh sách những người tiếp xúc gần và theo dõi tình trạng sức khỏe trong vòng 21 ngày kể từ khi tiếp xúc lần cuối. Tư vấn cho người tiếp xúc về các dấu hiệu bệnh và các biện pháp phòng, chống để tự phòng bệnh, tự theo dõi, phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh Ebola. Nếu xuất hiện các triệu chứng của bệnh cần thông báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán, điều trị kịp thời.

Vi rút Ebola tấn công cơ thể như thế nào

Tại các cơ sở điều trị cần thực hiện nghiêm ngặt việc phân luồng khám, cách ly và điều trị bệnh nhân, các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, trang bị phòng hộ cá nhân cho cán bộ y tế, người chăm sóc bệnh nhân và bệnh nhân khác tại các cơ sở điều trị bệnh nhân theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Bên cạnh đó cần tuân thủ quy trình về xử lý môi trường, chất thải theo quy định như đối với khu vực cách ly các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch khác.

Bệnh do virus Ebola (trước đây gọi là sốt xuất huyết Ebola) là một bệnh nhiễm trùng nặng, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 90%. Bệnh lây truyền do tiếp xúc trực tiếp với mô, máu và dịch cơ thể của động vật hoặc người nhiễm bệnh, có thể bùng phát thành dịch. Vrus có thể lây truyền từ người sang người do tiếp xúc trực tiếp thông qua vết thương da hoặc niêm mạc với máu, chất tiết và dịch cơ thể (phân, nước tiểu, nước bọt, tinh dịch) của người bị nhiễm. Người cũng có thể mắc Ebola do tiếp xúc với các dụng cụ hoặc đồ vật của bệnh nhân bị nhiễm như quần áo, chăn, kim tiêm đã sử dụng. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh bao gồm thợ săn, người sống trong rừng có tiếp xúc với động vật ốm hoặc chết (tinh tinh, vượn người, khỉ rừng, linh dương, nhím, dơi ăn quả…); thành viên gia đình hoặc những người có tiếp xúc gần với người bị bệnh; nhân viên lễ tang, người có tiếp xúc trực tiếp với thi thể bệnh nhân; nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.