Top 6 # Virus Ung Thu Ruot Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.

Virus Nào Có Thể Gây Ung Thư Máu?

Biên dịch: BS. Nguyễn Đình Nguyên

Human T-lymphotrophic virus-1 (HTLV-1, virus gây hại đến tế bào miễn dịch lympho T ở người nhóm 1). Là một loại virus hiếm và đến hiện nay có thể coi nó là loại virus đầu tiên được cho là tác nhân trực tiếp gây ung thư ở người. HTLV-1 là một loại virus gây ung thư mạnh nhất. Là một loại nguy cơ ung thư gắn với di truyền mạnh nhất. HTLV-1 cũng được coi là loại virus duy nhất được cho là có thể gây nên chứng ung thư máu – Ung thư máu dòng Lympho bạch huyết tế bào dòng T ở người lớn (Adult T-cell leukemia lymphoma, ATL) và u lympho Non-Hodgkin.

HTLV-1 lần đầu tiên được nhận dạng vào năm 1980 tại Nhật Bản. Tiền thân của nó được cho là một loại virus cổ ở các nguyên sinh vật từ 40 đến 60 nghìn năm trước.

Ước tính trên toàn thế giới hiện nay có khoảng 15-20 triệu người bị nhiễm HTLV-1. Bệnh nhân hay gặp chủ yếu ở miền nam Nhật Bản, vùng Caribe, Trung Phi, một phần Nam Mỹ và ở một số nhóm sắc dân di cư đến miền Đông-nam nước Mỹ.

Ở Úc, HTLV-1 có thể được coi là một nạn dịch ở người thổ dân Úc sống ở vùng xa xôi hẻo lánh. Một số bộ tộc thổ dân có tới 45% số dân đang sống chung với HTLV-1. Ước tính có khoảng 5000 người bị nhiễm HTLV-1 ở một số thổ dân sống ở các vùng hẻo lánh.

Với thời gian ủ bệnh khá lâu dài, 3-5% số người bị nhiễm HTLV-1 sẽ phát bệnh hoặc ung thư máu dòng lympho bạch huyết tế bào T (adult T-cell leukemia/lymphoma, ATL).

HTLV-1 thuộc nhóm retrovirus, sử dụng RNA (thay vì DNA) trong mã di truyền. Vì thế, trong quá trình tái sinh sản, nó cần phải có một bước chuyển đổi các gene RNA thành DNA trước. Một số gene DNA mới này có thể trở thành thành tố của các nhiễm sắc thể trong tế bào người khi bị nhiễm loại virus này.

HTLV-1 được coi như là “anh em họ hàng” với virus HIV. Vì cách thức lây truyền của nó khá giống nhau. HTLV-1 lây lan theo con đường dịch tiết của cơ thể qua các hình thức như quan hệ tình dục không có bao cao su, dùng chung kim tiêm chích, qua sữa mẹ, thông qua con đường truyền máu hay ghép tạng của bệnh nhân bị nhiễm HTLV-1.

Do tính nguy hiểm của HTLV-1 mà mới đây các chuyên gia hàng đầu của Thế giới về loại virus này đã viết một thư ngỏ đề nghị Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO) kêu gọi mở rộng các chiến dịch ngăn ngừa lây nhiễm để mong loại trừ loại virus cực độc này.

Tài liệu tham khảo

https://www.cancer.org/cancer/cancer-causes/infectious-agents/infections-that-can-lead-to-cancer/viruses.html

https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(18)30974-7/fulltext

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1879625712001022?via%3Dihub

Những Virus Gây Ung Thư Dạ Dày

Trước đây hầu hết chúng ta đều cho rằng, ung thư dạ dày là vì tác dụng phụ của những kiểu thuốc, thói quen ăn uống không chung thủy, suy nghĩ sợ hãi, tinh thần khá lâu,…gây ra. Nhưng ngày nay với nền y khoa tiên tiến hiện đại, một số thầy thuốc đã chẩn đoán ra rằng, ngoài những tác nhân trên thì vi trùng cũng là yếu tố hình thành căn bệnh ung thư dạ dày.

Có hai chủng huẩn gây ra bệnh lý ung thư dạ dày đó là virus EBV và vi khuẩn HP ( vi rút HP). Trong đó thì virus HP là phổ biến và thường gặp hơn cả.

một.Virus EBV

vi khuẩn Epstein-Barr (EBV) hay còn gọi là herpesvirus 4 ở thân thể (human herpesvirus 4) là kiểu gamma siêu vi, phổ biến tới mức khoảng 90% cơ thể trưởng thành trên thế giới đã từng mắc lây truyền và có kháng thể chống lại loại virus này. tuy nhiên, trường hợp mắc ung thư dạ dày bởi vi khuẩn EBV lại chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ chiếm khoảng 5 số bệnh nhân này trên thế giới.

2.Vi virus HP

vi trùng HP (Helicobacter pylori) sống dưới lớp nhầy của niêm mạc dạ dày, sát cạnh một số tế bào biểu mô. mẫu vi trùng này đến khả năng sản sinh ra 1 lượng to urease tạo môi trường HP của dạ dày thành môi trường kiềm. vì thế chúng thường sống trong môi trường axit ít oxy như dạ dày. Không chỉ thế vi rút HP còn có thể chất thải phối ra catalase, một vài chất ngoại độc tố… gây có hại niêm mạc dạ dày, viêm loét dạ dày và cả ung thư dạ dày. hiện tại , một số cách xác định vi trùng HP thường được dùng là nội soi dạ dày, khám máu…

vi khuẩn HP mắc thể lây nhiễm qua đường ăn uống. Việc ăn một vài cái đồ ăn không hợp vệ sinh, đồ ăn chứa những chất độc hại là 1 trong một vài yếu tố dẫn đến lan nhiễm vi trùng HP và gây ra ung thư dạ dày. cho nên, các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo riêng tư cần chú ý tới vệ sinh an toàn thực phẩm trong ăn uống. Đồng thời xây dựng chế độ ăn uống tuyệt vời để phòng kiềm chế lan truyền siêu vi HP, phòng tránh nguy cơ đang mắc bệnh ung thư cổ tử cung và một vài bệnh về dạ dày khác.

Qua đây chúng ta có khả năng dự đoán, virus gây ung thư dạ dày cũng khá phổ biến và rất biến chứng, có khả năng hình thành tình cảnh nhiễm,…Vì vậy các bạn nên định kỳ đi khám sức khoẻ mỗi ngày, nhận thấy bệnh lý sớm và chữa trị đúng thời điểm. Đồng thời giữ gìn vệ sinh ăn uống, ăn chín, uống sạch,… không cần ăn uống chung cho cơ thể khác đặc biệt là các người mắc mắc căn bệnh, không ăn thực phẩm tươi sống, tái,…

Tham khảo nguồn: benhungthudaday.info

Ung Thư Vòm Họng Do Virus Hpv16

Thứ sáu, 19/06/2015 09:04

HPV là loại virus gây ra nhiều bệnh ung thư, trong đó được nhắc đến nhiều nhất là bệnh ung thư cổ tử cung. Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh được nhiễm một số chủng virus HPV có khả năng mắc bệnh ung thư vòm họng cao, không có biện pháp chữa trị sớm có thể dẫn đến tử vong.

Các nhà nghiên cứu làm xét nghiệm máu của 2.537 trong đó có 938 bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư vòm họng, ung thư đầu cổ. Dựa vào mẫu máu xét nghiệm được, phát hiện ra rằng có khoảng 40% bệnh nhân bị ung thư bị nhiễm virus HPV 16. Điều đáng chú ý ở đây là mẫu máu của những người mắc bệnh ung thư được lấy trước 10 năm xuất hiện triệu chứng ung thư vòm họng cũng tìm thấy những kháng thể này.

Các nhà khoa học khẳng định HPV là nguyên nhân gây ra ung thư đầu cổ, không phải tất cả những người bị nhiễm virus này đều bị ung thư, virus HPV có thể tìm thấy trong máu của người không bị ung thư chiếm khoảng 1%, tuy nhiên cũng cần thực hiện khám sàng lọc và kiểm tra sức khỏe thường xuyên, tránh trường hợp phát bệnh.

Giống với chủng virus HPV 18, virus HPV 16 có thể lây nhiễm qua đường tình dục bằng miệng, hậu môn hoặc âm đạo. Nhiều nhận định sai lầm cho rằng không quan hệ tình dục sử dụng bao cao su có thể phòng tránh 100% khả năng lây nhiễm virus, tuy nhiên đây chỉ là biện pháp phòng bệnh tương đối, vẫn có nguy cơ mắc bệnh nếu có sự tiếp xúc về da với người bị nhiễm virus HPV 16. Virus này có khả năng gây bệnh nguy hiểm cho cả nam và nữ, không chỉ với bệnh ung thư vòm họng mà nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật, ung thư hậu môn cũng tăng cao ở người bị nhiễm virus.

Hiện nay đã có biện pháp phòng chống lây nhiễm virus HPV được đánh giá cao là tiêm vắc xin chống HPV. Các nhà khoa học khuyến khích nữ giới trẻ tuổi từ 9- 20 tuổi nên tiêm phòng vắc xin trước khi quan hệ tình dục để mang lại hiệu quả cao nhất. Biện pháp này mới chỉ được áp dụng với nữ giới do vậy tyt lệ ung thư do virus HPV gây ra ở nam giới vẫn khá cao. Hơn nữa, phương pháp Test PAP có thể phát hiện sớm HPV ở nữ giới, nhưng lại không có hiệu quả trong việc sàng lọc HPV ở nam giới.

Một số trung tâm nghiên cứu ung thư của Mỹ khuyến khích việc tiêm vắc xin cho cả nam giới để phòng ngừa bệnh. Bên cạnh đó, khuyến cáo nguy cơ ung thư khi quan hệ tình dục không lành mạnh, an toàn, đặc biệt là quan hệ đồng tính nam.