Top 10 # X Quang Ung Thu Xuong Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Chụp X Quang Tuyến Vú

Chụp X quang tuyến vú (còn gọi là chụp nhũ ảnh) là một phương pháp chụp hình ảnh chuyên biệt sử dụng một hệ thống x quang chuyên dụng cho việc kiểm tra ngực . Chụp x quang tuyến vú,được sử dụng như một phương pháp tầm soát để phát hiện ung thư vú giai đoạn sớm ở những phụ nữ không có triệu chứng và để phát hiện, chẩn đoán bệnh lý vú ở phụ nữ có các triệu chứng như u , đau hoặc tiết dịch ở đầu núm vú

Tại sao chụp X quang tuyến vú lại quan trọng?

Chụp X quang tuyến vú có vai trò chính trong việc phát hiện sớm ung thư vú vì phương pháp này có thể cho thấy những thay đổi ở vú trong vòng hai năm trước khi người bệnh hoặc bác sĩ có thể nhận thấy những thay đổi này. Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới, và cho đến nay là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ khuyến cáo phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên chụp X quang tuyến vú để tầm soát ung thư vú. Nghiên cứu cho thấy chụp X quang tuyến vú hàng năm giúp phát hiện sớm ung thư vú, là giai đoạn hầu như có thể chữa khỏi và có những phương pháp điều trị để bảo tồn vú.

Dù chụp X quang tuyến vú là phương pháp tầm soát ung thư vú tốt nhất hiện nay, nhưng phương pháp này không giúp phát hiện tất cả các trường hợp ung thư vú.

Thực hiện tầm soát X quang tuyến vú thường xuyên như thế nào?

Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (ACS) và Cục Phòng Bệnh Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến cáo phụ nữ từ 40-49 tuổi nên chụp X quang tuyến vú thường xuyên hàng năm và phụ nữ trên 50 tuổi nên chụp X quang tuyến vú hai năm một lần.

Những phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú cao nên gặp bác sĩ để được tư vấn. Có thể bạn cần phải thực hiện tầm soát sớm hơn và thường xuyên hơn.

Hình ảnh kỹ thuật số thu được nhờ sử dụng hệ thống vi tính chụp X quang tuyến vú. Hệ thống này có phơi nhiễm bức xạ thấp. Một kỹ thuật viên hình ảnh thông thạo tay nghề sẽ đặt và ép vú giữa hai bản ép. Sau đó, thiết bị X quang chuyên dụng sẽ chụp hai ảnh của mỗi vú từ hai hướng. Hầu hết bệnh nhân nữ chụp X quang tuyến vú đều cảm thấy hơi khó chịu và một số người có thể cảm thấy đau. Nhưng kỹ thuật ép vú là cần thiết để làm dẹp và giảm được độ dày của vú. Càng ít lớp mô nằm chồng lên nhau, chùm tia X càng cho ra hình ảnh rõ.

Hình ảnh chụp X quang tuyến vú được đưa vào máy vi tính, sau đó sẽ được phóng to hoặc làm cho nổi bật . Nếu có một khu vực nghi ngờ, bác sĩ sẽ sử dụng máy vi tính để quan sát hình ảnh gần hơn.

Trước khi chụp x quang tuyến vú bệnh nhân nên chuẩn bị như thế nào?

Không hẹn chụp x quang tuyến vú vào tuần lễ trước khi bạn có kinh, vú của bạn thường trở nên căng hơn trong thời gian này. Thời gian tốt nhất để chụp nhũ ảnh là ngày cuối cùng của kỳ kinh cho đến hai tuần sau kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh vừa rồi của bạn.

Phải luôn nhớ thông báo cho bác sĩ hoặc kỹ thuật viên hình ảnh nếu có bất kỳ khả năng có thai nào.

Vào ngày khám, mặc đồ rộng rãi thoải mái có áo và quần không dính liền nhau, không sử dụng chất khử mùi, nước hoa, không thoa xức phấn hoặc dầu ở nách hoặc vú.

Vui lòng đem theo tất cả những phim chụp nhũ ảnh trước đây để bác sĩ có thể so sánh với phim hiện tại.

Bạn sẽ được yêu cầu trả lời một bảng câu hỏi trước khi chụp nhũ ảnh. Nếu bạn không biết rõ phải trả lời ra sao cho bất cứ câu hỏi nào, xin vui lòng hỏi kỹ thuật viên hình ảnh.

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện như thế nào?

Chụp x quang tuyến vú được thực hiện bởi một kỹ thuật viên hình ảnh được đào tạo chuyên sâu, thường là một nữ kỹ thuật viên hình ảnh.

Trong phòng chụp, bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay áo choàng và đứng tại máy chụp X quang.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đặt vú của bạn vào máy chụp x quang. Vú của bạn sẽ được đặt vào một mặt phẳng đặc biệt và được ép bằng một tấm ép (thường làm bằng nhựa Plexiglas trong suốt hoặc loại nhựa khác). Bạn sẽ cảm thấy tức ở vú khi vú bị siết bởi máy ép. Một số người có vú nhạy cảm có thể cảm thấy khó chịu. Trong trường hợp này, bạn nên lên lịch chụp nhũ ảnh khi vú của bạn ít căng nhất.

Việc ép vú là cần thiết vì:

Ép dẹp bề dày của vú để có thể nhìn thấy được tất cả các mô.

Dàn trải mô vú ra để cho những bất thường nhỏ không bị che khuất bởi vùng mô vú phủ bên ngoài,

Chỉ cần sử dụng một liều tia X thấp vì phần mô vú được chụp bị ép mỏng hơn,

Giữ vú cố định nhằm tránh bị nhòe hình do cử động gây ra,

Giảm sự khuếch tán cuả tia X để hình ảnh được rõ nét hơn.

Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ đứng sau một tấm chắn bằng kính trong khi phát tia X. Bệnh nhân sẽ được yêu cầu thay đổi tư thế chút ít giữa các lần chụp ảnh. Thường chụp từ trên xuống dưới và chụp xéo. Qui trình này được lặp lại để chụp vú bên kia.

Chụp X quang tuyến vú kéo dài trong bao lâu?

Mỗi lần chụp cần khoảng ba mươi phút. Khi chụp X quang tuyến vú thực hiện xong, bạn sẽ được yêu cầu chờ cho đến khi kỹ thuật viên hình ảnh kiểm tra các hình ảnh để xác định xem có cần phải chụp bổ sung thêm hình ảnh hay không.

Bệnh nhân có đặt túi ngực cũng thực hiện theo các hướng dẫn tương tự để kiểm tra vú như những trường hợp không đặt túi ngực..

Sự khác biệt khi chụp x quang tuyến vú có và không có đặt túi ngực như sau:

Đặt túi ngực (vú có túi tạo hình) có thể mất nhiều thời gian hơn vì cần phải chụp theo nhiều hướng hơn.

Đặt túi ngực cũng có thể làm cho việc đọc nhũ ảnh trở nên khó khăn hơn vì cáccấy ghép bằng silicon hoặc bằng dung dịch nước muối đều không cho tia X đi qua và có thể cản trở không nhìn thấy rõ những mô bên dưới túi ngực, nhất là khi cấy ghép được đặt ở phía trước thay vì ở phía dưới các cơ ngực. Ước tính có khoảng 25% mô vú sẽ không nhìn thấy được trên hình chụp nhũ ảnh do phần cấy ghép che lấp. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ sử dụng kỹ thuật đặc biệt để chụp X quang rõ hơn hai vú của bệnh nhân . Khi thực hiện kỹ thuật này, bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu.

Đối với chụp x quang tuyến vú, kỹ thuật ép vú là việc quan trọng. Kỹ thuật viên hình ảnh sẽ rất cẩn thận và chỉ đè ép tối thiểu trên vú cấy ghép trong suốt quá trình chụp X quang vú. Kỹ thuật đè ép vú có thể gây ra tình trạng rỉ silicon hoặc làm nặng thêm hoặc làm thay đổi hình dạng hoặc kết cấu của vú, trường hợp này rất hiếm nhưng vẫn có thể xảy ra.

Khi nào thì bệnh nhân nhận được kết quả?

Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ kiểm tra kết quả chụp x quang tuyến vú của bệnh nhân và sẽ thông báo ngay cho bác sĩ chỉ định khi có bất kỳ nghi ngờ nào . Bệnh nhân sẽ nhận được kết quả trong ngày hoặc trong vòng hai (2) ngày tùy theo các yêu cầu lâm sàng và chẩn đoán.

Để biết thêm thông tin và đặt hẹn, xin vui lòng liên hệ Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh của Bệnh Viện FV: (08) 54 11 34 00

Chẩn Đoán X Quang U Phổi

Chẩn đoán X quang U phổi

Đại cương.

U ở phổi bao gồm u lành và ác. U lành hiếm gặp, u ác rất hay gặp. U ác gồm carcinoma phế quản, carcinoma tế bào phế nang và các dạng khác của sarcoma. Carcinoma của phổi có tỷ lệ nam/nữ là 6/1.

Giải phẫu bệnh:

Về vi thể,  có 3 nhóm tế bào chính: nhóm tế bào không biệt hoá, tế bào sừng và adeno-carcinoma.

Hình ảnh X quang không có khả năng phân biệt các loại u trên. Đôi khi một carcinoma có thể bị bỏ qua trên hình ảnh X quang và sau đó một vài năm mới phát hiện được và cho thấy là ác tính. Người ta có thể đoán được đó là ung thư tế bào sừng vì có thời gian phát triển dài, dù cho kết quả chẩn đoán cuối cùng là ung thư tế bào không biệt hoá. Sự chuyển đổi từ dạng u ác tính thấp đến dạng u ác tính cao rất hay gặp trong ung thư phổi.

Nguồn gốc:

carcinoma có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trên cây phế quản,  không có vị trí hay gặp ở bên phổi nào hoặc thuỳ và phân thuỳ nào. Không giống như lao, nó không thể xác định nguồn gốc bằng một vị trí đặc biệt. Walter và Pryce thống kê thấy 47,1% ở trung tâm; 49,6% ở ngoại vi; 3,3% ở vùng trung gian.

Hình thức lan tràn:

có thể lan tràn theo đường bạch mạch, đường phế quản hoặc đường máu.

Ung thư phế quản thể trung tâm (hay ung thư rốn phổi).

Ung thư phế quản thể ngoại vi.

Một số đặc điểm của ung thư phế quản.

Ung thư phế quản thể trung tâm:

Ung thư phế quản thể trung tâm chiếm khoảng 60% ung thư phổi được phát hiện đầu tiên ở rốn phổi, có hai kiểu phát triển là:

Loại phát triển từ trong thành phế quản phát triển dọc theo thành phế quản vào hạch phế quản gây đậm và rộng rốn phổi.

Loại phát triển trong lòng phế quản kèm theo phì đại hạch bên cạnh gây xẹp phổi. Sự thay đổi từ loại tổn thương không gây tắc phế quản đến tổn thương có gây tắc phế quản là rất hay gặp.

Phì đại rốn phổi:

Phì đại rốn phổi thường là dấu hiệu đầu tiên của X quang trong ung thư phế quản thể trung tâm và cũng là dấu hiệu dễ bỏ qua nhất.

Từ năm 1923, Assmann và gần đây nhất là Riger đã cố gắng xác định mức độ chiều rộng trung bình của rốn phổi. Song điều này không được sử dụng rộng rãi vì nhiều lý do làm thay đổi kích thước rốn phổi như thay đổi do yếu tố kỹ thuật, tuổi tác. Để tránh bỏ dấu hiệu chẩn đoán sớm này, cần luôn luôn quan sát kỹ rốn phổi và nhớ rằng rốn phổi trái rộng và cao hơn bên phải một ít. Cần chú ý sự tăng lên theo chiều rộng của rốn phổi cũng như tăng độ cản quang của rốn phổi. Dấu hiệu trên dễ nhận biết ở bên phải nhưng khó xác định ở bên trái khi bóng mờ của rốn phổi bị ngành xuống quai động mạch chủ trải rộng che lấp. Chụp cắt lớp vi tính dễ dàng giải quyết vấn đề này. Tất cả những trường hợp nghi ngờ ung thư phế quản thì tư thế chụp nghiêng là rất quan trọng, nó có thể giúp bộc lộ các u ở trước và sau rốn phổi hoặc chồng lên rốn phổi. Đôi khi u nằm sát cột sống sau tim hoặc sau quai động mạch chủ. Mặc dù đa số các carcinoma ở rốn phổi là loại ung thư tế bào sừng phát triển chậm làm rốn phổi cũng to ra chậm và cho một hình u giới hạn rõ, tròn hoặc bầu dục. Hình u này có thể to bằng quả cam, trước khi triệu chứng lâm sàng hoặc dấu hiệu chèn ép xuất hiện.

Khối u khổng lồ ở các hạch trung thất ít gặp mặc dù thực tế các hạch ở trung thất cũng bị xâm nhập.

Loại ung thư tế bào không biệt hoá hay gặp nhất, làm phì đại và tăng đậm rốn phổi, phát triển nhanh và gây xu hướng xẹp phổi, xâm nhập hạch trung thất trong thời gian tương đối ngắn. Ung thư tế bào không biệt hoá hiếm khi tạo nên một hình mờ lớn có giới hạn rõ.

Ung thư rốn phổi gây xẹp phổi:

Xẹp một thuỳ hoặc phân thuỳ là dấu hiệu thường gặp trong ung thư rốn phổi. Xẹp phổi có thể do u từ trong phế quản, hay gặp hơn là do chèn ép từ ngoài phế quản phối hợp với trong phế quản. Xẹp phổi có thể gây hình ảnh mờ thuần nhất dạng tam giác có lõm cạnh điển hình, có khi là hình xẹp phổi không hoàn toàn.

Hình ảnh ung thư rốn phổi thường phối hợp với các dấu hiệu X quang khác như nhão cơ hoành. Hình mờ ở rốn phổi do xẹp phổi thường phối hợp với hình ảnh X quang của sự lan tràn của u vào quanh phế quản và quanh các mạch máu. Dấu hiệu “tia sáng” của u có thể không nhìn thấy được do có xẹp phổi phối hợp.

Ung thư rốn phổi gây khí phế thũng tắc nghẽn: dấu hiệu này dễ bỏ qua trên phim chụp, thường thấy rõ ở thì thở vào sâu. Vì vậy, nếu có nghi ngờ cần chụp ở thì thở ra.

Ung thư phế quản thể trung tâm là thể ung thư hay gặp của ung thư phổi. Nó xuất hiện ở các phế quản gần rốn phổi. Vì vậy, cần thiết phải chỉ định nội soi phế quản để xác định nếu trên X quang nghi ngờ.

Các biến chứng khác của ung thư phổi trung tâm:

Nhiễm khuẩn cấp hoặc mãn tính.

Giãn phế quản.

áp xe hoá: hay gặp và thường là loại không thối. áp xe có thể tạo nên khối mờ hoặc hình sáng dạng vòng nhẫn, có thành dày. Chụp cắt lớp vi tính làm rõ hơn ổ áp xe. áp xe trong ung thư thường ở nền phía trước không giống áp xe phổi thông thường.Về mặt lâm sàng, áp xe phổi do ung thư cũng có thể có biểu hiện  của hội chứng nhiễm khuẩn giống áp xe phổi thông thường.

Sự xâm nhập trực tiếp của ung thư phổi vào xương lồng ngực: hiếm gặp, trừ trường hợp u Pancoast-Tobias, thường gây tiêu xương sườn 1 và xương sườn 2. Trong trường hợp này, u phổi mặc dù đã vượt qua phế mạc dẫn đến tiêu xương sườn nhưng vẫn không gây tràn dịch phế mạc. Tiêu xương sườn có thể do sự di căn của ung thư phổi nhưng có khi là ngược lại. Tuy nhiên, không phải tất cả những trường hợp tiêu xương sườn trên một hình mờ đông đặc của phổi đều là ác tính.

Ung thư phế quản ngoại vi:

Ung thư phế quản ngoại vi thường biểu hiện một hình mờ cản quang tròn hoặc bầu dục. Trong những trường hợp ngoại lệ có thể thấy hình ảnh đầu tiên là một đám phế viêm, không có hình ảnh của xẹp phổi như trong ung thư phế quản trung tâm.

Triệu chứng lâm sàng:

Xuất hiện muộn trong những trường hợp ung thư phổi ngoại vi dạng hình tròn. Đa số các trường hợp ung thư phế quản ngoại vi thường được phát hiện khi khám X quang hàng loạt hoặc tình cờ khi chiếu dạ dày, chụp huỳnh quang phổi. Đa số là loại ung thư tế bào sừng hoặc tế bào trụ thường phát triển chậm trên một vài năm.

Hình ảnh X quang quy ước:

Hay gặp nhất là mờ tròn trên 2cm đường kính, có cản quang thuần nhất, giới hạn rõ, một số trường hợp dễ nhầm với núm vú hoặc một nốt di căn ung thư .

Dạng hình mờ kiểu đồng xu này có thể gặp trong nhiều trường hợp. ở Anh, người ta thống kê thấy 50% là do carcinoma, 30% là u lao, số còn lại là u sụn phế quản (hamartoma). Hiếm hơn là u hạt do nấm, hạt thấp hoặc nốt bụi phổi hoặc kén phổi. Ngay cả ung thư phế nang lúc đầu cũng có thể xuất hiện dạng mờ hình đồng xu. Vôi hoá trong đám mờ hình đồng xu này có thể thấy được bằng chụp cắt lớp vi tính và thường là biểu hiện của u lao, u sụn phế quản, rất hiếm thấy trong carcinoma.

Khi u xâm nhập theo đường máu sẽ có  hình ảnh “tia nắng mặt trời”. Hình dải mờ này không nên lẫn lộn với hình dày dính phế mạc gặp trong u lao ở ngoại vi. Trong đa số các trường hợp, soi phế quản thường cho kết quả âm tính. Để xác định bản chất ổ tổn thương, tốt nhất là chọc sinh thiết dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính.

Theo Kerley, hình mờ tương đối tròn được giải thích là được hình thành trên một động mạch phế quản. Ung thư phổi ngoại vi không được kiểm soát điều trị, nó sẽ to ra chậm chạp hàng năm, từ nốt mờ 1cm có thể lên tới 6 đến 8cm đường kính sau một thời kỳ phát triển kéo dài hàng năm. Nếu trường hợp u tăng gấp đôi nhanh chóng (trong hàng tuần, hàng tháng), người ta không nghĩ đến ung thư phổi mà hay gặp là u lao ở trẻ em và người trưởng thành hoặc có thể là kén phổi bội nhiễm. Tuy nhiên, ung thư phổi phát triển nhanh thường kèm theo sự thay đổi hình thể từ nốt tròn có thể thành bầu dục, mờ dạng thuỳ phổi do xẹp thuỳ hoặc phân thuỳ.

Hoại tử do thiếu mạch nuôi dưỡng xuất hiện và làm cho nốt mờ hình đồng xu trở nên một hình hang có thành dày với bờ nham nhở. Hiếm khi có mức khí trước trừ khi bị bội nhiễm. ổ áp xe mãn tính thành dày có thể có phế viêm xung quanh thường rất đáng nghi ngờ.

Đôi khi ung thư phế quản ngoại vi xuất hiện gần phế mạc, nó có thể vượt qua phế mạc để vào xương sườn bên cạnh mà không kích thích gây nên tràn dịch phế mạc (hay gặp trong u Pancoast).

Sự chèn tắc không hoàn toàn u có thể gây phế viêm, kèm theo áp xe hoá, khó phân biệt với áp xe do căn nguyên phế quản lành tính. Tuy nhiên, những biến chứng này của ung thư phế quản ngoại vi ít gặp hơn so với ung thư phế quản thể trung tâm. Do ung thư phế quản thể ngoại vi không thể chẩn đoán được bằng nội soi phế quản nên phải sử dụng phương pháp chọc sinh thiết dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính. Đây là thủ thuật cho kết quả chẩn đoán xác định với độ tin cậy cao. Tuy nhiên, chẩn đoán phân biệt trước hết nên dựa vào tuổi, giới, hội chứng lâm sàng; chụp phế quản cản quang ngày nay ít được sử dụng. Nếu cần thiết phải tiến hành thì phải cân nhắc nếu thể tạng cho phép. Chụp phế quản cản quang tốt nhất là đưa catheter vào sâu tới vùng nghi ngờ mới có thể cho thấy vùng méo mó hoặc cắt cụt của phế quản, ngay cả những trường hợp u mới phát triển gây lồi vào trong lòng phế quản.

Chẩn đoán phân biệt tính chất lành tính hay ác tính của các hình mờ ở phổi bằng chụp cắt lớp vi tính (CLVT):

Có thể nói, hình ảnh chụp CLVT trước hết là cho thấy rõ hơn vị trí, giới hạn và nhất là đường bờ của u. Các nốt mờ do ung thư phổi thường có giới hạn không đều, bờ có hình ảnh tia nắng mặt trời. CLVT cũng cho thấy rõ hơn hình ảnh của xẹp phổi. Đặc biệt, chụp CLVT cho biết rõ sự thay đổi tỷ trọng của một ổ tổn thương tạo hình mờ trước và sau khi tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Nếu một khối mờ ở phổi có sự thay đổi tỷ trọng sau tiêm cản quang (tối thiếu là trên 20 đơn vị Hounsfield) thì chứng tỏ nó được một hệ thống mạch máu nuôi dưỡng và thường là dấu hiệu của một khối u ác tính. Và ngược lại, nếu tỷ trọng của vùng mờ không thay đổi đáng kể (không ngấm thuốc cản quang) thì chứng tỏ nó không có mạch máu nuôi dưỡng (thông thường đó là những ổ mủ, ổ bã đậu, đám vôi hoá hoặc xơ sẹo do lao…). Ngoài ra, CLVT còn bộc lộ rõ hơn đường bờ của hang trong trường hợp do ung thư phổi gây hoại tử.

Sự tạo hang trong ung thư phổi.

Đặc điểm chung:

Sự tạo hang trong ung thư phổi có thể do hoại tử hoặc nhiễm khuẩn. Sự tạo hang do nhiễm khuẩn thường xuất hiện ở phần cuối của phế quản phân thuỳ hoặc thuỳ. Hang trong thuỳ phổi xẹp có thể không nhìn thấy hoặc chỉ thấy một vùng tăng sáng nhẹ, bờ không rõ trên phim X quang quy ước. Chụp CLVT có thể thấy một hình hang tròn rộng đơn độc nhưng phần lớn là thấy một hệ thống hang có vách ngăn, thành hang thường dày (trên 5mm). Phim chụp X quang tia cứng ở tư thế đứng có lọc có thể thấy một hoặc nhiều mức khí, mức nước. Trên phim chụp CLVT cho thấy rõ hang có tỷ trọng dịch mủ. Những bệnh nhân nhiễm khuẩn dạng này, lâm sàng thường rất nặng nề, đôi khi dễ nhầm với áp xe phổi.

Hình ảnh X quang và phân biệt chẩn đoán:

Các hang trong ung thư phổi có thành dày, bờ không đều, có hình mờ lồi ở bờ hang. Khác với u nấm, bờ hang trong u nấm nhẵn đều và có hình liềm hơi, trong khi bờ hang trong ung thư phổi nham nhở. Mức khí-nước trong hang ung thư rất giống trong áp xe phổi lành tính. Xung quanh ổ áp xe lành tính thường có phù nề, còn quanh ổ áp xe ung thư thường rõ. Sự chẩn đoán phân biệt khó khăn và không cần thiết vì cả hai đều chịu sự ảnh hưởng của kháng sinh điều trị. Tạo hang trong u lao lớn hiếm gặp nhưng gây nên hình ảnh như trong ung thư ngay cả khi có thành dày và trơn. Đôi khi hình ảnh nhồi máu phổi tròn, rộng trong bệnh viêm nhiều động mạch (bệnh Wegener) khó phân biệt với hang ung thư. Còn nhồi máu phổi trong ung thư phổi thường ở giai đoạn cuối cùng của bệnh, do phá huỷ tổ chức hoặc do xâm nhập trực tiếp của u vào mạch máu.

Một vài bệnh nấm có hang thành dày nhưng vẫn là biểu hiện lành tính. Bờ hang của nấm thường trơn tru, khác với bờ hang trong ung thư là không đều. Vấn đề khó khăn nhất cho chẩn đoán phân biệt là khi ổ áp xe xảy ra ở phần tận cùng của các phế  quản ngoại vi. Những trường hợp này hang thường có kích thước từ 6 đến 8cm đường kính, thành hang mỏng… Không có phương pháp X quang để xác định loại hang  này là ác tính hay lành tính. Hang trong trường hợp mảnh phổi biệt lập (sequestration) thường có thành dày, nó có thể trở thành nơi xuất hiện của ung thư. Thành hang có thể được viền bởi tổ chức ung thư. Ung thư xảy ra trên một hang lao rất hiếm.

U Pancoast (ung thư đỉnh phổi).

Là một dạng bất thường của ung thư phổi, nó phát triển ở vùng đỉnh phổi, có thể bên phải hoặc bên trái, lan ra ngoài vào xương sườn và phần mềm, hiếm khi lan xuống rốn phổi. Về giải phẫu bệnh, u này thuộc loại ung thư phế quản thể ngoại vi.

Ricandini báo cáo lần đầu tiên (1918), sau đó Pancoast (1924-1932) mô tả và đến nay u mang tên ông ta.

Lâm sàng của u Pancoast biểu hiện đau vùng vai, thường được chẩn đoán là đau rễ thần kinh do lồi đĩa đệm hoặc hội chứng bỏng buốt Codman. Đau có thể do u xâm nhập vào xương sườn hoặc phế mạc. ở giai đoạn sớm hình ảnh X quang không có dấu hiệu xung quanh hoặc cho thấy một hình lồi ít ỏi giống hình mờ của động mạch dưới đòn tạo nên. Khi quá trình ung thư tiến triển xâm nhập vào đám rối thần kinh cánh tay, đau sẽ tăng lên lan nhanh xuống tay và gây ra liệt hoặc teo cơ ở bàn tay. Khi chuỗi hạch thần kinh giao cảm cổ bị xâm nhập sẽ gây hội chứng Claude-Berna-Horner: sụp mí mắt, hẹp đồng tử, không còn khả năng bài tiết mồ hôi bên phía cơ thể bị bệnh. Hội chứng về phổi như ho, khái máu, khó thở rất rõ. Ngay cả giai đoạn muộn, hình u trên X quang có thể không thấy hoặc xuất hiện chỉ là một hình mờ giới hạn rõ, kích thước không to lắm, bờ trên có thể lồi hoặc lõm. Vùng mờ hiếm khi vượt xuống đầu cuối cung trước xương sườn 2.

Trên 70% trường hợp u gây ăn mòn xương sườn 2. ở giai đoạn này, chẩn đoán lâm sàng và X quang đã rõ. Tiên lượng về lâm sàng không hy vọng, hầu hết các trường hợp không còn khả năng phẫu thuật. Một số trường hợp được cải thiện bằng điều trị quang tuyến.

Về chẩn đoán phân biệt, như đã nói ở trên, có một số trường hợp tiêu xương sườn ngay cạnh vùng mờ ở phổi, có thể tạo nên do viêm phổi tụ cầu hoặc lao mãn tính.

Ung thư tiểu phế quản (ung thư tế bào phế nang, bệnh tăng sinh tuyến phổi).

Ngày nay, người ta thống nhất quan điểm về vị trí ung thư xuất hiện ở tế bào căn bản của niêm mạc tiểu phế quản tận cùng mà không phải ở phế nang.

Phần lớn bệnh xuất hiện ở tuổi 30 đến 60.

Bệnh bắt đầu ở ngoại vi. ở giai đoạn sớm, hình ảnh không đủ để hiện hình trên X quang. Những trường hợp phát triển chậm, lúc đầu có thể xuất hiện là một hình mờ nhỏ, giới hạn không rõ với hình dạng không có gì đặc biệt. Thường được phát hiện tình cờ hoặc được xem như một vết sẹo hoặc bỏ qua. Trong những trường hợp khác thấy ở dạng hình mờ tròn, giới hạn không rõ, đơn độc, đường kính 2 đến 5cm. Đôi khi lại ở dạng mờ tròn kiểu đồng xu. Trong những trường hợp khác lại là hình xâm nhập một thuỳ phổi. Hình ảnh này có thể quan sát được ở ngay giai đoạn sớm. Phẫu thuật cắt bỏ thuỳ phổi ở giai đoạn này có thể có tác dụng nếu quá trình ác tính còn chậm, tình trạng chung của bệnh nhân còn tốt. Hình ảnh X quang cho thấy khi bệnh tiến triển có hình ảnh nhiều nốt mờ nhỏ đường kính từ 2 đến 3cm, ở 2 bên phổi giống bệnh thoái hoá hạt (sarcoidosis). Có khi lại là một nốt tròn 1 đến 2cm đường kính giống di bào ung thư, nhưng tất cả đều có bờ không đều. Biến chứng tạo hang và tràn dịch phế mạc ít gặp.

Sarcoma ở phổi.

U nguồn gốc trung bì cực kỳ hiếm gặp ở phổi, không có lâm sàng và X quang điển hình, tổn thương gây nên một nốt mờ kiểu đồng xu, đám mờ rộng hoặc cả một bên phổi. Nó giống carcinoma cấp tính với tính chất lan tràn nhanh. Nhiều trường hợp sarcoma thớ trong lòng phế quản có nguồn gốc lành tính thuộc loại u tuyến.

U hạch bạch huyết ác tính tiên phát ở phổi.

Có thể gặp dưới dạng khác nhau của một u tiên phát ở phổi như nốt đồng xu, xẹp phổi, khí phế thũng tắc nghẽn, khối mờ lớn, tràn dịch màng phổi.

Sự tạo hang ở trung tâm khối mờ hay gặp hơn trong carcinoma.

U lành ở phổi.

U tuyến phế quản:

Tuổi hay gặp từ 20 đến 50, có thể gặp ở trẻ em. U thường ở phế quản cấp I, II, đôi khi có thể lan đến phế quản cấp IV.

Trong trường hợp ung thư hoá, u có thể tiến đến gần rốn phổi và phát triển vào trong lòng phế quản. Khi u phát triển sẽ gây tắc phế quản một phần, giai đoạn sau sẽ tắc hoàn toàn.

Các u tuyến ở phế quản lớn thường có xu thế phát triển ở trong lòng hơn là ngoài lòng phế quản. U nhỏ ít được phát hiện, trừ khi u làm rộng rốn phổi và tăng đậm rốn phổi. Nếu phần ở ngoài phế quản của u rộng hơn sẽ xuất hiện hình mờ hình bầu dục, thường là đám mờ cả một thuỳ gần rốn phổi trông rất giống một carcinoma. Chụp phế quản sẽ cho thấy hình ảnh u kiểu tảng băng làm chèn đẩy phế quản bên cạnh. Thành phế quản trơn tru và căng ra nhưng không bị xâm lấn. Hầu hết các u này có khái huyết và nhiễm khuẩn tái diễn. Soi và sinh thiết phế quản sẽ cho chẩn đoán xác định. Trong một số trường hợp tắc phế quản không hoàn toàn sẽ dẫn đến giãn phế quản vô khuẩn phía cuối của u. Phế quản sẽ chứa đầy dịch trở nên dày đậm và trông giống ngón tay chồng lên rốn phổi, giãn phế quản kiểu này rất giống giãn tĩnh mạch nhưng không đậm như thế.

U tuyến phế quản ở ngoại vi thì cực kỳ hiếm, khó phân biệt với carcinoma.

Các u lành khác ở phổi:

U xơ, u cơ trơn ở phổi, u sụn phế quản (hamartoma):

Các u này có thể xuất hiện sâu trong phổi. Không có hình ảnh X quang xác định trừ u sụn phế quản là có vôi hoá ở trung tâm với đường bờ tròn rõ.

U lao (tuberculoma):

Là loại u lành tính, hay gặp ở phổi, cần phân biệt với u ác tính ở phổi.

U lao thường nằm trên một phổi có thương tổn lao phổi cũ ở xung quanh như xơ hoá co kéo, vôi hoá hoặc lao xơ hang. Bản chất của u lao là khối bã đậu được tổ chức hoá thành vỏ bao bọc xung quanh.

Hình ảnh u lao thường tròn, bờ rõ nhưng không đều. Đậm độ cản quang của bờ u tăng, dạng vôi hoá, có thể có hình hang phá huỷ ở trong lòng u. Đặc biệt, theo dõi trong nhiều năm không thấy phát triển thêm.

Các khối mờ do tràn mủ, tràn dịch, viêm dày ở phế mạc:

Dấu hiệu Bernou trong các khối ở phế mạc có góc tù với thành ngực. Các khối ở phế mạc rãnh liên thuỳ thường có dạng bầu dục, hình thoi, hình khẩu trang hoặc hình mắc võng nằm ở vị trí rãnh liên thuỳ (nhất là phổi phải).

Bệnh ác tính thứ phát ở lồng ngực (Metastasis).

Khái quát:

Một u hạch, u tuyến ức ác tính hoặc một u tế bào không biệt hoá có thể xuất hiện các hạch trong trung thất và có thể lan truyền trực tiếp vào phổi tạo nên những khối mờ giới hạn không rõ, bờ khối mờ có những dải mờ hình khía toả ra.

Loại lan tràn trực tiếp vào phế mạc thường rất hiếm. Người ta cho rằng phế mạc gần như là một vật ngăn cản tại chỗ rất chắc chắn, không cho tế bào ung thư lan tràn.

Các hình thức lan tràn:

Sự lan tràn theo đường bạch huyết:

Hình ảnh X quang lúc đầu có thể là dấu hiệu phì đại hạch. Dấu hiệu này thường không dễ phát hiện. Triệu chứng ở phổi lúc đầu là hình ảnh đường Kerley B ở ngoại vi một hoặc cả hai bên, thuỳ dưới phổi. Trong ung thư vú, đường Kerley B có thể xuất hiện trước tiên ở bên phổi đối diện. Các đường này dễ dàng bỏ qua nếu nó bị vú che lấp. Cần chụp có lọc, hơi chếch để bộc lộ các đường bạch mạch ở sâu (đường B) xuất hiện muộn hơn, ít khi một bên.

Chú ý, nhiều trường hợp lan tràn ung thư theo đường bạch mạch không thấy phì đại hạch trung thất, nhưng ở bình diện nghiêng có thể thấy hạch sau xương ức.

Di căn theo đường phế quản:

Xuất hiện trong ung thư tiểu phế quản và đôi khi cả ung thư phế quản, lao phổi. Căn nguyên của loại di căn theo đường phế quản thường là ung thư ở hầu họng hoặc thanh quản.

Di căn theo đường máu:

Có thể xuất hiện từ một số dạng thực sự của bệnh ác tính. Nhưng thường là từ cacrinoma ở vú, phổi, thận, tuyến thượng thận, tinh hoàn, tuyến giáp, bàng quang, tuyến tiền liệt, đại tràng phải (đại tràng trái hiếm hơn), ung thư rau, hiếm khi ung thư cổ hoặc thân tử cung. Các nốt lan tràn theo đường máu từ ung thư phế quản tiên phát thường xuất hiện cùng bên với ổ nguyên phát

ở bên phổi đối diện nếu có thì thường là một hoặc nhiều nốt mờ tròn giới hạn rất rõ. Các tế bào ung thư lan tràn vào phổi ở thời điểm khác nhau tạo nên hình ảnh các nốt mờ to, nhỏ khác nhau. ở giai đoạn sớm, đậm độ cản quang ít chưa thấy được trên phim. Khi phát triển lên cho thấy hình mờ tròn rõ. Di căn ung thư có dạng hình mờ không rõ giới hạn, thường xuất phát từ những vị trí bất thường như ung thư tử cung. Nếu các nốt di bào nhiều, bệnh nhân thường tử vong trước khi các nốt hợp lại thành nốt to. Nếu ít nốt thì các nốt có thể đạt tới kích thước lớn bằng quả bóng quần vợt. Các dạng u nguyên phát cũng ảnh hưởng tới kích thước di bào. Di bào ung thư rau có thể to bằng quả nho; di bào ung thư thận, thượng thận, tinh hoàn có thể to bằng quả cam. Vôi hoá nốt di bào gặp trong các trường hợp di bào ung thư xương. Đôi khi các nốt mờ to được phát hiện tình cờ hoặc phải đặt vần đề điều tra nguồn gốc ung thư trong khi bệnh nhân chưa có biểu hiện một căn bệnh ác tính.

Di bào ung thư thể kê:

Đôi khi phổi tràn ngập các tế bào ung thư cùng tuổi. Nó xuất hiện rất cấp tính. Thường do một dạng tế bào không biệt hoá xâm nhập vào thân hoặc các nhánh chính của động mạch phổi. Sự phát triển bệnh tâm phế mãn bán cấp tính làm cho bệnh nhân tử vong nhanh chóng. Loại căn nguyên thứ hai của lan tràn thể kê là ung thư tuyến giáp và tuyến tiền liệt. Các nốt thường từ 2 đến 3mm đường kính, xu hướng to dần xuống dưới nền, có thể tới 0,5cm, cản quang đậm, giới hạn rõ và phát hiện chỉ là tình cờ. U tuyến giáp có thể sờ thấy hoặc có khi không. Di bào ung thư có thể tồn tại không thay đổi hoặc không gây triệu chứng trong hàng chục năm. Di bào thể kê của ung thư tuyến tiền liệt ít gặp hơn nhưng cũng giống tuyến giáp là có thể không có triệu chứng gì và phát hiện chỉ là tình cờ.

Di bào ung thư thể u cục đơn độc:

Loại di bào ung thư thể u cục đơn độc hay gặp là từ ung thư thận.

Di bào ung thư vào trung thất:

Tóm tắt những đặc điểm góp phần chẩn đoán phân biệt u lành và u ác ở phổi.

Kích thước: u ác tính thường có kích thước lớn hơn 2cm đường kính. Tuy nhiên u dưới 2cm đôi khi cũng ác tính.

Bờ u: u lành tính thường có bờ nhẵn rõ nét, trong khi u ác tính bờ u thường có hình tia (tia nắng mặt trời).

Giới hạn: u lành rõ, u ác kém rõ.

Hình thể: u lành thường có dạng hình tròn hoặc oval, trong khi u ác hình thể không rõ.

Thời gian u to gấp đôi: u lành thường dưới 1 tháng và trên 16 tháng; u ác trên 1 tháng và dưới 16 tháng.

Có thể thấy u vệ tinh trong u ác tính.

U lành tính không tạo hang (trừ u lao), u ác thường tạo hang, thành hang dày trên 15mm, bờ hang nham nhở do hoại tử tạo nên. Nếu thành hang dưới 5mm chiều dày, tỷ lệ lành tính tới 95%.

Dấu hiệu vôi hoá ở trung tâm u trên phim chụp X quang quy ước, cho phép nghĩ nhiều đến u lành tính. Trong một số trường hợp trên phim chụp X quang quy ước không có hình vôi hoá, nhưng khi chụp cắt lớp vi tính có hình vôi hoá thành chấm là dấu hiệu của u ác tính.

Phế quản hơi gặp trong 30% các u ác tính nhưng chỉ gặp trong 5% u lành tính.

Chụp cắt lớp vi tính có tiêm cản quang tĩnh mạch cho thấy, nếu u ngấm thuốc cản quang mạnh (tăng trên 20 đơn vị Hounsfield-HU) thì tỉ lệ ác tính trên 98%.

Ngày nay, nhờ có nội soi phế quản có thể giúp xác định chẩn đoán, đặc biệt là nội soi có kết hợp sinh thiết. Tuy nhiên, nội soi chỉ thực hiện được đối với những u sát rốn phổi và phế quản lớn.

Những u nằm ở ngoại vi phổi, phương pháp chọc sinh thiết tế bào dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính là biện pháp hữu hiệu nhất, mang lại chẩn đoán xác định và độ tin cậy cao.

Chụp X Quang Đại Tràng Dùng Thuốc Cản Quang

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang là kỹ thuật làm cản quang khung đại tràng bằng dịch treo Baryt. Để thực hiện phương pháp này, bệnh nhân phải đảm bảo thụt tháo ruột sạch hoàn toàn trước khi cho thuốc đối quang vào. Đây là một trong những phương pháp giúp phát hiện những bất thường ở đại tràng, trong đó có ung thư.

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang thực hiện như thế nào?

Chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang là phương pháp thường được bác sĩ xem xét trong chẩn đoán nhiều bệnh lý đại tràng, trong đó có ung thư đại tràng. Trước khi chụp đại tràng cản quang, đại tràng cần được làm rỗng để đảm bảo hình ảnh phim chụp không bị mờ và không có sự nhầm lần giữa các tổn thương ở đại tràng. Ngoài ra, để kết quả chụp chính xác nhất, người khám cũng nên áp dụng chế độ ăn đặc biệt đó là chế độ ăn không gây tồn đọng trước 2 ngày, đồ ăn không nhiều xơ, lên men. Bệnh nhân cũng sẽ được dùng thuốc nhuận tràng và thụt tháo kĩ 2 lần trước khi làm thủ tục chụp vài giờ.

Người khám được chụp với nhiều tư thế khác nhau, hình ảnh của các đoạn đại tràng như sigma, trực tràng, góc lách trái, góc gan, manh tràng, đại tràng lên… được ghi lại để bác sĩ đánh giá tình trạng tổn thương của mỗi người.

THAM KHẢO: Nội soi đại tràng giá bao nhiêu

Kết quả có thể thấy qua chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang

Kết quả chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang có thể không phát hiện bất thường gì và bác sĩ sẽ khuyên nên chụp lại sau thời gian nhất định, tùy từng trường hợp cụ thể.

Ngoài quan sát được những tổn thương thực thể như những bất thường về kích thước (đại tràng dài, ngắn bẩm sinh), những bất thường bề mặt… chụp X quang đại tràng có thuốc cản quang có thể phát hiện các bệnh lý như:

Phình đại tràng

Phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung) là bệnh lý gây táo bón mạn tính ở trẻ em do vô hạch đại tràng. Hình ảnh qua chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang bằng baryt cho hình ảnh đại tràng sigma giãn to, trực tràng teo nhỏ, đại tràng dài ra, thuốc ngấm không đều ở đoạn vô hạch.

Tổn thương polyp

Các polyp giống như mụn thịt nhỏ, phát triển từ lớp niêm mạc của ruột và nhô ra vào trong lòng ruột hay đôi khi mọc trên cuống. Một số khối polyp có thể phẳng, một số người có vài polyp nằm rải rác ở các phần khác nhau của đại tràng… Các polyp ở đại tràng có thể là polyp tăng sản, polyp u tuyến hay polyp mô thừa. Trong đó polyp u tuyến được cho là tiền thân của ung thư đại trực tràng.

Tăng sản lympho

Cho hình ảnh các nốt đường kính nhỏ, cỡ chỉ 1 – 3mm của các nang lympho đặc trưng bằng các khuyết sáng hay thấy ở đoạn cuối hồi tràng và manh tràng.

Viêm đại tràng

Viêm đại tràng là một trong những bệnh lý đường tiêu hóa ngày càng phổ biến. Hình ảnh chụp X quang đại tràng dùng thuốc cản quang có thể thất đại tràng hình ống, ổ loét, giả polyp…

Ung thư đại trực tràng

Là bệnh ung thư đường tiêu hóa phổ biến hàng đầu ở nữ giới và thứ ba ở nam giới. X quang đại tràng thường được xem xét khi nội soi đại trực tràng thất bại. Với phương pháp chụp đối quang kép có thể phát hiện những tổn thương nhỏ. Hình ảnh phim chụp có thể qua sát thể sùi vào lòng (hình khuyết bờ không đều), thể thâm nhiễm hay thể loét… Để đánh giá chính xác tình trạng bệnh, các bác sĩ thường phải kết hợp với nhiều phương pháp chẩn đoán chuyên sâu khác.

Các phương pháp chẩn đoán khác của ung thư đại trực tràng

Nội soi đại trực tràng: là một trong những phương pháp tiêu chuẩn, có độ chính xác được đánh giá cao hơn chụp khung đại tràng, nhất là khi kết hợp với sinh thiết giải phẫu mô bệnh học.

Siêu âm bụng: phát hiện u địa tràng di căn qua, hạch ổ bụng. Siêu âm qua nội soi, siêu âm qua trực tràng với đầu dò có dải tần cao cho phép đánh giá mức xâm lấn ung thư, tình trạng hạch tiểu khung

CT/MRI: phân tích đầy đủ tình trạng bệnh

Xét nghiệm máu dấu ấn ung thư cũng có gái trị nhất định trong phát hiện, theo dõi hiệu quả điều trị ung thư sau này…

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc đã trang bị đầy đủ trang thiết bị y tế hiện đại bậc nhất, bao gồm các máy X quang, nội soi, CT… tiên tiến nhất để chẩn đoán chính xác các bệnh lý đại tràng.

Chẩn Đoán X Quang Dạ Dày

Chẩn đoán x quang dạ dày- tá tràng

ĐẠI CƯƠNG

Dạ dày, tá tràng cũng như toàn bộ đường ống tiêu hoá không cản quang với tia X, nên khi xét nghiệm X-quang dạ dày, tá tràng bệnh nhân phải uống thuốc cản quang Barium Sulfat (BaSO 4) hay còn gọi là chất Baryt.

Giá trị của chẩn đoán X-quang dạ dày, tá tràng ngoài xác định các tổn thương thực thể như loét, ung thư… còn cho biết những rối loạn về cơ năng, co bóp, lưu thông của dạ dày, tá tràng và những dấu hiệu chèn ép từ bên ngoài của các tạng lân cận vào dạ dày.

PHƯƠNG PHÁP X-QUANG DẠ DÀY-TÁ TRÀNG

Chuẩn bị bệnh nhân:

Bệnh nhân phải nhịn ăn trước 4-6 giờ.

Không uống các loại thuốc có tính chất cản quang trước khi đến chiếu, chụp X-quang ít nhất 3 ngày.

Nếu có hẹp môn vị phải rửa dạ dày trước khi chiếu, chụp X-quang.

Nhất thiết phải được thăm khám lâm sàng trước khi có chỉ định chiếu, chụp X-quang để loại trừ hai trường hợp có thủng tạng rỗng hoặc tắc ruột.

Kỹ thuật X-quang

Xét nghiệm X-quang dạ dày phải kết hợp cả chiếu và chụp.

Chiếu dạ dày

Được thực hiện trong buồng tối hoặc chiếu bằng máy X-quang tăng sáng truyền hình.

Chiếu X-quang dạ dày- tá tràng nhằm các mục đích sau:

Chiếu kiểm tra ổ bụng trước khi cho bệnh nhân uống thuốc cản quang để loại trừ dấu hiệu thủng tạng rỗng hoặc tắc ruột.

Xem co bóp và lưu thông của dạ dày.

Nén dạ dày để bộc lộ những tổn thương nghi do loét hoặc ung thư …bị che lấp khi dạ dày đầy thuốc.

Chụp dạ dày

Tiến hành theo quy trình sau:

Chụp một phim chuẩn dạ dày tư thế đứng (tư thế Standard).

Thực chất là lấy được toàn bộ dạ dày từ phình vị đến hết khung tá tràng vào thời điểm sau khi uống đầy thuốc cản quang và thuốc cản quang đã lưu thông xuống tá tràng (thông thường sau khi uống thuốc cản quang khoảng 5 phút).

Tiếp theo chụp một loạt 4 phim dạ dày tư thế nằm sấp kiểu Gutmann, mỗi phim cách nhau khoảng 2 đến 3 phút.

Trên loạt phim chụp nằm sấp, ngoài việc đánh giá những thay đổi về hình thể của dạ dày, còn cho biết lưu thông dạ dày, khả năng co bóp của hai bờ cong.

Nếu nghi ngờ bệnh lý ở tâm – phình vị nhất thiết phải chụp phim dạ dày tư thế bệnh nhân nằm ngửa đầu dốc (tư thế Trendelenburg).

Chụp dạ dày cản quang kép (Double contrast):

Là phương pháp chụp sử dụng hai loại cản quang:

Uống Baryt một ngụm nhỏ sau đó cho uống hợp chất sinh hơi vào dạ dày (gồm acide tatric và Natri bicarbonate để tạo khí CO 2 trong lòng dạ dày). Phương pháp này sẽ làm dạ dày căng hơi và giúp ta thấy rõ hai bờ cong cũng như niêm mạc của dạ dày. Nó được chỉ định trong những trường hợp có nghi ngờ trên phim chụp dạ dày thông thường.

Chụp khung tá tràng:

Thực chất là phim chụp tư thế bệnh nhân đứng, lấy toàn bộ dạ dày và tá tràng sau khi thuốc đã lưu thông xuống tá tràng.

Phương pháp này được chỉ định khi có nghi ngờ có khối u ở đầu tụy.

HÌNH ẢNH X-QUANG DẠ DÀY-TÁ TRÀNG BÌNH THƯỜNG

Dạ dày

Dạ dày nằm ngay dưới bờ cơ hoành bên trái, gồm hai phần:

Phần đứng chạy gần song song bên trái cột sống.

Phần ngang vắt qua cột sống và chếch sang phải.

Túi hơi dạ dày nằm sát bờ dưới cơ hoành trái, trên phim chụp dạ dày đứng cho thấy hình mức khí, mức dịch.

Một số trường hợp dạ dày có dạng hình thác (Cascade stomach): Trên phim chụp dạ dày đứng sẽ cho thấy hình ảnh hai mức khí, dịch ở túi hơi dạ dày. Nguyên nhân của dạ dày hình thác có thể là bẩm sinh, đôi khi là do ổ loét ở tâm vị tạo nên.

Ở người béo dạ dày thường nằm ở cao và chạy ngang trên rốn, lưu thông nhanh co bóp hai bờ cong tăng (hypertony).

Ở người gầy và phụ nữ dạ dày thường sa thấp dưới mào chậu, lưu thông chậm và nhu động co bóp giảm (hypotony).

Bờ cong lớn là bờ trái của dạ dày, chạy từ phình vị đến ống môn vị. Niêm mạc ở đây thường rất thô, dễ nhầm với các tổn thương bệnh lý.

Bờ cong bé là bờ bên phải của dạ dày, chạy từ tâm vị đến ống môn vị.

Ống môn vị điều chỉnh thuốc cản quang từ vùng môn vị sang hành tá tràng, nó tạo nên một dải mờ rộng 6-7mm, dài 10mm nối dạ dày với hành tá tràng, có lúc không thấy được trên phim nếu chụp vào thời điểm ống môn vị đóng.

Bình thường hai bờ cong co bóp mềm mại và thay đổi đường cong trên các phim chụp.

Niêm mạc dạ dày:

Nếu uống ít thuốc cản quang, ta có thể thấy được các nếp niêm mạc dạ dày. Đó là những dải sáng to bằng chiếc đũa chạy ngoằn ngoèo dọc theo phần đứng và phần ngang của dạ dày.

Ở vùng hang vị đôi khi có những nếp niêm mạc chạy ngang, làm gián đoạn một vài chỗ của hai bờ cong, hoặc tạo nên những chỗ nhô thuốc cản quang, dễ nhầm với ổ nhô thuốc do loét ở bờ cong.

Hành tá tràng

Có hình như củ hành hoặc hình tam giác, đỉnh nối với tá tràng đoạn 1, đáy có ống môn vị đổ vào. Trong trường hợp túi mật to có thể gây đè ép gây khuyết thuốc cạnh ngoài của hành tá tràng.

Tá tràng

Hình chữ U có 4 đoạn:

Đoạn 1: Tiếp nối với hành tá tràng.

Đoạn 2: Chạy dọc theo bờ bên phải cột sống, có chiều cao bằng chiều cao của hai thân đốt sống. Bờ trong của tá tràng cách bờ cong lớn của dạ dày một khoảng bằng chiều rộng của một thân đốt sống.

Đoạn 3: Chạy chếch sang trái.

Đoạn 4: Chạy chếch lên trên, và sang trái đến góc TREITZ để nối với hỗng tràng.

Niêm mạc của tá tràng trên phim chụp X-quang nhìn tương tự như hình “lông chim” hoặc “lá cây dương sỉ”.

HÌNH ẢNH DẠ DÀY-TÁ TRÀNG BỆNH LÝ

Hình ảnh viêm niêm mạc dạ dày.

Hình ảnh X-quang tùy thuộc vào bệnh nguyên và mức độ thương tổn sẽ có các dấu hiệu như:

Có mức dịch vị ở vùng túi hơi dạ dày. Trên phim chụp dạ dày tư thế đứng ở vùng túi hơi dạ dày xuất hiện 3 mức: mức khí, mức dịch vị, mức baryt. Nếu quá trình viêm xảy ra ở hành tá tràng thì hành tá tràng cũng có 3 mức khí – dịch như trên.

Loét dạ dày

Có hai loại ổ loét ở dạ dày: Loét ở bờ cong dạ dày và loét ở mặt dạ dày.

Loét ở bờ cong dạ dày: Thường gặp là loét ở bờ cong bé, loét ở bờ cong lớn ít gặp.

Loét ở mặt dạ dày: Có thể loét ở mặt trước hoặc ở mặt sau dạ dày (không phân biệt được trên phim chụp đầy thuốc).

Hình ảnh trực tiếp của ổ loét ở bờ cong bé dạ dày:

Là hình ảnh nhô thuốc ở bờ cong bé, được tạo nên do thuốc cản quang Baryt lọt vào trong ổ loét của thành dạ dày.

Ổ nhô thuốc thường có hình gai hoa hồng, hình cựa gà hoặc hình tròn như núm nắp ấm, thấy được liên tục trên tất cả các phim chụp, không thay đổi về vị trí, hình thể và kích thước.

Đáy ổ loét có khi nhẵn hoặc nham nhở.

Chân ổ loét, chỗ sát với bờ cong có thể có hình sáng do viêm phù nề hoặc nếu là ổ loét ác tính, đoạn bờ cong hai bên ổ loét có thể bị cứng, hoặc thâm nhiễm hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Ổ loét HAUDEK là ổ loét thủng bịt, thấy rõ trên phim chụp dạ dày tư thế đứng. Một ổ nhô thuốc cản quang ở bờ cong và có hai mức nước ngang: một mức của thuốc cản quang Baryt nằm ở dưới đáy và một mức của dịch vị nhẹ hơn nằm trên và trên cùng là khoảng sáng của hơi.

Hình ảnh gián tiếp của ổ loét ở bờ cong bé:

Bờ cong lớn đối diện với ổ loét có thể có hình co lõm (hình dấu ấn ngón tay), làm cho dạ dày có hình dạng như “đồng hồ cát”, hoặc hình “chữ B” mà không thấy hình ảnh trực tiếp của ổ loét ở bờ cong bé.

Có thể thấy hình ảnh những nếp niêm mạc quy tụ về phía chân của ổ loét, hoặc bờ cong bé bị co rút, do sẹo ổ loét cũ xơ chai co kéo, làm cho dạ dày có dạng “dạ dày hình con ốc sên”.

Hình ảnh nhô thuốc ở bờ cong do ổ loét tạo nên cần được phân biệt với:

Hình nhô thuốc của bờ cong do sóng nhu động của dạ dày. Hình nhô thuốc này sẽ thay đổi trên các phim chụp.

Hình cản quang ở góc bờ cong bé do góc TREITZ tạo nên: hình cản quang có dạng hình “lông chim” hoặc “lá cây dương sỉ” và có sự thay đổi khi chiếu nén.

Hình ảnh X-quang của ổ loét ở mặt dạ dày:

Đó là một hình đọng thuốc ở mặt dạ dày.

Ổ loét thường được thấy rõ hơn trên phim chụp nếu cho uống ít thuốc baryt hoặc trong trường hợp ổ loét có quầng phù nề lớn ở xung quanh.

Nếu uống đầy thuốc, ổ loét ở mặt dạ dày thường bị che lấp.

Để thấy rõ ổ loét ở mặt dạ dày, trong trường hợp này người ta phải sử dụng kỹ thuật chiếu nén hoặc kỹ thuật chụp dạ dày cản quang kép.

Ổ đọng thuốc do loét ở mặt dạ dày thường kèm theo quầng sáng xung quanh do phù nề, hoặc hình ảnh các nếp niêm mạc quy tụ vào ổ loét.

Bờ cong lớn đối diện với ổ loét có thể có hình co lõm, làm cho dạ dày có dạng “đồng hồ cát”.

Đáy ổ loét có khi nhẵn hoặc nham nhở.

Chân ổ loét, chỗ sát với bờ cong có thể có hình sáng do viêm phù nề hoặc nếu là ổ loét ác tính, đoạn bờ cong hai bên ổ loét có thể bị cứng, hoặc thâm nhiễm hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Cần phân biệt ổ đọng thuốc do loét mặt dạ dày với hình ảnh các nốt đọng thuốc của cục baryt chưa tan.

Hình ảnh của những ổ loét dạ dày ở những vị trí ít gặp:

Loét bờ cong bé vùng tâm vị

Loét bờ cong lớn

Đó là những loại ổ loét ít gặp nhưng dễ bị ung thư hoá. Ổ loét thường có kích thước lớn nên đôi khi dễ nhầm với ổ nhô thuốc do sóng nhu động của bờ cong lớn tạo nên.

Loét ống môn vị: biểu hiện bằng hình ảnh một ổ đọng thuốc ở ống môn vị, hoặc ống môn vị bị gập góc trông có dạng chữ “L”.

Loét hành tá tràng

Đặc điểm của ổ loét ở hành tá tràng thường là ổ loét mặt, ổ loét bờ thường ít gặp hơn.

Có hai loại ổ loét ở hành tá tràng: ổ loét mới (loét non) và ổ loét cũ (loét xơ chai, biến dạng hành tá tràng).

Hình ảnh X-quang ổ loét non hành tá tràng:

Đó là hình ổ đọng thuốc, thường nằm ở chính giữa hành tá tràng, có quầng sáng do phù nề hoặc quy tụ niêm mạc xung quanh ổ loét. Hành tá tràng vẫn giữ nguyên hình thể, chưa bị biến dạng. Trường hợp ổ loét non nằm ở bờ của hành tá tràng sẽ cho thấy hình ảnh khuyết một cạnh của hành tá tràng, đôi khi có thể thấy một ổ đọng thuốc nằm ngay vùng khuyết thuốc.

Những ổ loét mới ở hành tá tràng dễ bị che lấp nếu hành tá tràng ngấm đầy thuốc baryt, chỉ thấy được ổ loét này khi chiếu nén.

Hình ảnh X-quang ổ loét xơ chai hành tá tràng:

Khi hành tá tràng bị xơ chai hoàn toàn sẽ gây tắc hẹp lưu thông xuống ruột gây hẹp môn vị.

Hình ảnh gián tiếp của loét hành tá tràng:

Đôi khi ổ loét ở hành tá tràng không cho thấy trên phim chụp bằng hình ảnh ổ đọng thuốc mà chỉ biểu hiện qua những dấu hiệu gián tiếp như:

Hành tá tràng không ngấm thuốc.

Khuyết một cạnh của hành tá tràng.

Hành tá tràng gục về phía sau.

Hình ảnh hẹp môn vị.

Loét tá tràng

Loét tá tràng còn gọi là loét hậu hành. Ổ loét thường xảy ra ở đoạn tá tràng D2. Hình ảnh X-quang biểu hiện bằng một ổ đọng thuốc nằm trên một đoạn của tá tràng bị hẹp hoặc ngấm thuốc kém. Hình ảnh này được hình tượng như “hạt ngọc xâu qua sợi chỉ”.

Ung thư dạ dày

Hình ảnh X-quang dạ dày cũng được phân ra 3 thể giống như hình đại thể của giải phẫu bệnh lý: đó là thể u cục (còn gọi là thể sùi), thể nhiễm cứng và thể loét.

Ung thư dạ dày thể u cục:

Là thể ung thư thường gặp ở dạ dày.

Hình ảnh X-quang dễ nhận biết trên phim chụp bởi một vùng khuyết thuốc cản quang có giới hạn nham nhở. Hình khuyết thuốc không có sự thay đổi trên tất cả các phim chụp.

Thể ung thư này thường xảy ra ở vùng hang vị dạ dày. Nếu khối u choán toàn bộ vùng hang vị sẽ tạo nên hình ảnh dạ dày bị cắt cụt.

Lâm sàng khi khám thực thể có thể sờ thấy khối u ở vùng thượng vị và kèm theo dấu hiệu cơ năng của hẹp môn vị.

Cần phân biệt hình khuyết thuốc cản quang do ung thư dạ dày thể u cục gây nên với:

Hình khuyết thuốc vùng thân vị dạ dày do cột sống đè lên khi bệnh nhân chụp dạ dày nằm sấp (thường gặp ở phụ nữ).

Do thức ăn trong dạ dày chưa tiêu hết.

Hình khuyết thuốc cản quang vùng hang vị do u đầu tụy chèn:

U đầu tụy thường gây khuyết thuốc phần bờ cong lớn của hang vị, giới hạn vùng khuyết thuốc thường nhẵn.

Kèm theo là dấu hiệu khung tá tràng giãn rộng.

Dấu hiệu lâm sàng thường có vàng da tắc mật.

Ung thư dạ dày thể nhiễm cứng

Nhiễm cứng do ung thư dạ dày có thể xảy ra ở một vùng của bờ cong hoặc toàn bộ dạ dày.

Nhiễm cứng xảy ra ở một đoạn của bờ cong sẽ cho thấy đoạn bờ cong đó không có sóng nhu động, tồn tại trên tất cả các phim chụp.

Nhiễm cứng xảy ra ở một vùng của dạ dày, sẽ gây hẹp lòng dạ dày ở vùng đó, thể ung thư này được gọi là ung thư thể nhẫn.

Nhiễm cứng ở vùng thân vị sẽ tạo cho dạ dày có hình ảnh dạ dày hai túi. Do hẹp cân đối ở giữa nên dạ dày có dạng chữ “X” (Khác với dạ dày hình chữ “B” trong loét bờ cong bé).

Nếu ung thư nhiễm cứng thể nhẫn xảy ra ở vùng hang vị sẽ tạo cho hang vị có hình “cổ ngỗng”.

Cần lưu ý phân biệt ung thư nhiễm cứng thể nhẫn vùng hang vị với hẹp hang vị do viêm xơ hang vị.

Trong viêm xơ hoá hang vị ta còn thấy sóng nhu động của hai bờ cong dạ dày và các nếp niêm mạc ở đây vẫn còn.

Trong ung thư thể nhiễm cứng hang vị, hai bờ cong vùng nhiễm cứng không còn thấy sóng nhu động, các nếp niêm mạc đã bị mất.

Nếu nhiễm cứng xảy ra trên toàn bộ hai bờ cong dạ dày, sẽ cho ta hình ảnh dạ dày có dạng hình “túi da” (leathe botle), hoặc dạ dày bé (linite plastic).

Hai bờ cong không còn sóng nhu động, dạ dày tiêu thuốc nhanh, hành tá tràng giãn to.

Ung thư dạ dày thể loét và loét ung thư hoá:

Người ta chỉ xác định được hình ảnh X-quang của ung thư dạ dày thể loét và loét ung thư hoá dựa trên quá trình tiến triển của bệnh.

Ung thư dạ dày thể loét cho thấy ổ loét xuất hiện đồng thời trên nền tổ chức ung thư.

Loét ung thư hoá là tổn thương ung thư xuất hiện trên cơ sở một ổ loét lành tính có từ trước.

Hình ảnh X-quang ung thư dạ dày thể loét và loét K hoá là những ổ loét có các dấu hiệu như sau:

Chân ổ loét ở bờ cong bé có hình quầng sáng, kiểu hình “thấu kính” hoặc hình “chân rễ”.

Các nếp niêm mạc quanh một ổ loét ở mặt của dạ dày hoặc ở dưới chân một ổ loét của bờ cong bé không còn thấy rõ hoặc thay đổi hướng đi (dấu hiệu VESPIGNANI).

Ổ loét có đáy nham nhở hoặc phẳng (ổ loét hình bình nguyên).

Trên thực tế các thể ung thư dạ dày nói trên có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân.

Ung thư ở phần cao của dạ dày:

Đây là loại ung thư ít gặp.

Tổn thương ung thư nằm ở vùng tâm phình vị dạ dày. Triệu chứng lâm sàng thường nổi bật là nuốt khó và sặc khi ăn uống, cơ thể suy sụp.

Khám X-quang có thể kết hợp chiếu và chụp sẽ thấy các dấu hiệu như:

Khuyết nham nhở vùng phình vị, thấy rõ được trên phim chụp tư thế bệnh nhân nằm ngửa đầu dốc (Trendelenburg).

Thay đổi góc His (góc tạo nên bởi thực quản đổ vào tâm vị).

Khi ung thư tâm vị gây xâm nhập thực quản đoạn tâm vị, sẽ gây hẹp lòng thực quản tâm vị, bờ thực quản nham nhở.

Có dấu hiệu Hammer (khi chiếu thực quản dạ dày sẽ cho thấy thuốc cản quang lưu thông qua tâm vị giống như nước trườn qua khe đá).

Hẹp môn vị dạ dày

Hẹp môn vị dạ dày có thể do các nguyên nhân thường gặp sau đây:

Loét xơ chai hành tá tràng.

Ung thư dạ dày.

Phì đại cơ thắt môn vị.

Thông thường hẹp môn vị do loét xơ chai hành tá tràng, dạ dày thường giãn rất to, nằm thấp xuống dưới mào chậu, co bóp của hai bờ cong yếu (Hypotony) hoặc không còn. Lưu thông của thuốc cản quang xuống tiểu tràng rất chậm (có thể sau vài giờ). Lòng dạ dày chứa nhiều thức ăn và dịch vị, vì thế khi uống thuốc cản quang vào dạ dày, ta sẽ thấy thuốc cản quang bị phân tán trong lòng dạ dày (dấu hiệu tuyết rơi).

Trong trường hợp hẹp môn vị do ung thư dạ dày, ta có thể thấy dạ dày ít khi bị giãn to, thuốc cản quang vẫn có thể lưu thông được xuống tá tràng, tuy có hơi chậm.

Nếu hẹp môn vị do tắc lưu thông dạ dày bởi một ung thư dạ dày thể nhẫn ở vùng hang vị thì lòng dạ dày ở đây sẽ bị hẹp và đờ cứng. Nếu hẹp môn vị do ung thư dạ dày thể u cục vùng hang vị, thường tạo nên hình ảnh dạ dày bị cắt cụt.