Top 3 # Xạ Trị Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung

Ung thư biểu mô nội mạc tử cung là u biểu mô ác tính nguyên phát từ biểu mô nội mạc tử cung, thường biệt hóa dạng tuyến, nó có khả năng xâm nhập lớp cơ và lan đến những nơi xa.

2.1.1.Triệu chứng cơ năng

+ Ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc rong kinh, rong huyết ở phụ nữ tiền mãn kinh hoặc còn kinh. Triệu chứng này hay gặp khoảng (80%).

+ Chảy dịch hôi âm đạo có thể gặp khoảng 30% các người bệnh. Chảy dịch thường do nhiễm khuẩn, máu lẫn chất hoại tử tạo mùi hôi.

+ Đau vùng hạ vị thường xuất hiện muộn khi khối u đã lan tràn hoặc xâm lấn vào các bộ phận khác trong hố chậu, triệu chứng này có thể gặp khoảng 20,4%.

2.1.2. Triệu chứng thực thể

Các dấu hiệu thăm khám lâm sàng thường ít thấy. Đặt mỏ vịt chẩn đoán loại trừ trường hợp ra máu từ cổ tử cung. Nếu người bệnh đến ở giai đoạn muộn có thể thấy thân tử cung to, hoặc có xâm lấn cổ tử cung, âm đạo hay có dấu hiệu di căn xa.

Siêu âm: Siêu âm, đặc biệt là siêu âm đầu dò âm đạo được sử dụng đánh giá ban đầu với những người bệnh nghi ngờ ung thư nội mạc tử cung. Siêu âm cho phép nhận biết chiều dày bất thường của nội mạc tử cung, độ xâm lấn u.

Chụp buồng tử cung có thuốc cản quang: hiện bỏ ít dùng

Chụp MRI: cho phép đánh giá chẩn đoán u tại chỗ và các các mức độ xâm nhập u cũng như những tổn thương nghi ngờ di căn.

Sinh thiết nội mạc tử cung: sinh thiết nội mạc tử cung là yêu cầu bắt buộc trong chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung. Nhằm đánh giá tổn thương là lành tính hay ác tính và độ mô học, típ mô bệnh học và ung thư nguyên phát ở nội mạc tử cung hay của cổ tử cung.

Soi buồng tử cung :soi buồng tử cung cho phép nhìn thấy tổn thương, xác định mức độ lan rộng bề mặt và định hướng cho sinh thiết đúng vị trí tổn thương để chẩn đoán mô bệnh học.

Chất chỉ điểm sinh học: các chất chỉ điểm như CA-125, TAG-72, CA 15-3, LSA… có thể tăng trong ung thư nội mạc tử cung. Tuy nhiên, các chất chỉ điểm này thường chỉ tăng trong giai đoạn muộn của bệnh.

Dựa vào chẩn đoán sinh thiết niêm mạc tử cung.

2.4. Phân loại thể, mức độ

Phân loại mô học các ung thư nội mạc của WHO 2003 hiện nay được sử dụng rộng rãi, gồm các loại sau:

Ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc tử cung (Endometrioid adenocarcinoma)

+ Biến thể với biệt hóa vảy (Variant with squamous differentiation) + Biến thể tuyến nhung mao (Villoglandular variant)

+ Biến thể chế tiết (Secretory variant)

+ Biến thể tế bào có lông (Ciliated cell variant)

Ung thư biểu mô tuyến nhầy (Mucinous adenocarcinoma)

Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch (Serous adenocarcinoma)

Ung thư biểu mô tuyến tế bào sáng (Clear cell adenocarcinoma)

Ung thư biểu mô tuyến hỗn hợp (Mixed adenocarcinoma)

Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)

Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (Transitional cell carcinoma)

Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (Small cell carcinoma)

Ung thư biểu mô không biệt hóa (Undifferentiated carcinoma)

2.5. Chẩn đoán giai đoạn(FIGO 1988)

IU khu trú ở thân tử cung

IAU giới hạn ở nội mạc tử cung

IBU xâm lấn dưới ½ cơ tử cung

ICU xâm lấn trên ½ cơ tử cung

II:U xâm lấn tới cổ tử cung nhưng không lan ra khỏi

IIBXâm lấn tuyến cổ tử cung

III:Xâm lấn mô đệm cổ tử cung

IIIAU lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong

IIIBU xâm lấn tới thanh mạc và/ hoặc phần phụ và /

IIIChoặc tế bào học dịch rửa phúc mạc dương tính

U lan tới khung chậu và/ hoặc hạch cạnh động

IVBU xâm lấn tới niêm mạc bàng quang và/ hoặc

niêm mạc đại tràng Sigma hoặc di căn xa

U xâm lấn niêm mạc bàng quang và/ hoặc niêm

Di căn xa bao gồm cả hạch ổ bụng và hạch bẹn

Trong các phương pháp điều trị ung thư nội mạc, phẫu thuật được coi là biện pháp ưu tiên hàng đầu. Có hai phương pháp phẫu thuật: Phẫu thuật mở bụng và phẫu thuật nội soi. Xạ trị là phương pháp điều trị hữu hiệu thứ hai trong điều trị ung thư nội mạc tử cung. Điều trị xạ trị, hóa trị và nội tiết cho các trường hợp giai đoạn muộn.

Chỉ định điều trị dựa vào phân loại bệnh theo FIGO:

+ Giai đoạn I: cắt tử cung hoàn toàn, phần phụ hai bên và lấy hạch chậu, hạch cạnh động mạch chủ. Điều trị tia xạ bổ trợ khi có các yếu tố tiên lượng xấu.(độ mô học 2 hoặc 3, hoặc có xâm lấn trên ½ chi ều sâu lớp cơ). Nếu ung thư niêm mạc tử cung đã lan xuống ống cổ tử cung và thâm nhiễm thì phải áp dụng phẫu thuật Wertheim.

+ Giai đoạn II: cắt tử cung hoàn toàn, hai phần phụ và lấy hạch. Sau 4-6 tuần tiến hành tia xạ hậu phẫu toàn khung chậu sau đó xạ áp sát. Trường hợp tổn thương tại cổ tử cung lớn thì tia xạ trước, sau 4 – 6 tuần mới tiến hành phẫu thuật.

Giai đoạn III: phẫu thuật và xạ trị vẫn là phương pháp điều trị chính. Nếu mổ được thì cắt tử cung hoàn toàn và xạ trị, nếu không thì xạ bằng kim radium đặt tại chỗ và hóa trị liệu hormon.

Giai đoạn IV: người bệnh ở giai đoạn muộn hoặc tái phát ở các vị trí xa, có thể điều trị tia xạ chống đau, chống chảy máu và chèn ép. Điều trị nội tiết và điều trị bằng progestatif.

Theo dõi định kỳ 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng /lần trong 2 năm tiếp theo và sau đó mỗi năm một lần.

(Lượt đọc: 2676)

Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung

1. Ung thư niêm mạc tử cung là gì?

Niêm mạc tử cung là lớp bao phủ toàn bộ bề mặt phía bên trong của tử cung. Đây là một lớp có vai trò quan trọng việc thụ thai và bảo vệ quá trình mang thai ở phụ nữ. Cấu tạo của niêm mạc tử cung có 2 lớp: Lớp đáy (còn gọi lớp niêm mạc căn bản): thường không chịu tác động tác động của chu kỳ kinh nguyệt. Lớp nông (còn gọi niêm mạc tuyến): thường chịu tác động bởi sự biến đổi của chu kỳ kinh nguyệt.

Ung thư niêm mạc tử cung là một loại ung thư phát sinh từ niêm mạc tử cung. Đây là kết quả của sự phát triển bất thường các tế bào có khả năng xâm nhập, lây lan đến các cơ quan khác. Ung thư niêm mạc tử cung có thể xuất hiện tại cả phần đáy và cổ tử cung.

2. Nguyên nhân gây ung thư niêm mạc tử cung

2.1. Bị nhiễm virus HPV

2.2. Khói thuốc lá

Tuy không hút thuốc lá trực tiếp nhiều như nam giới nhưng nữ giới lại là đối tượng dễ hít phải khói thuốc (cả hút thuốc chủ động và hít khói thuốc bị động), do đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để HPV tấn công cơ thể gây nguy cơ ung thư niêm mạc tử cung.

2.3. Hệ miễn dịch suy yếu

Những nữ giới có hệ miễn dịch suy yếu (nhiễm HIV/AIDS, đã ghép tạng…) có nguy cơ nhiễm HPV cao hơn rất nhiều nữ giới bình thường, từ đó làm tăng nguy cơ mắc ung niêm mạc tử cung.

2.4. Chế độ ăn thiếu rau xanh, trái cây

Những người có thói quen ăn ít rau xanh và trái cây thường có nguy cơ gây mắc ung thư niêm mạc tử cung nguyên nhân do bởi thiếu khoáng chất, chất xơ và vitamin.

2.5. Béo phì

Những người béo phì có nguy cơ mắc ung thư niêm mạc tử cung cao hơn so với những người bình thường. Nguyên nhân được giải thích là do mất cân bằng nội tiết tố trong cơ thể do béo phì khiến cho lượng mỡ dư thừa tăng sự tích tụ estrogen, làm tăng sinh niêm mạc tử cung và nguy cơ gây ung thư.

2.6. Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ ung thư niêm mạc tử cung. Nguy cơ này sẽ giảm sau khoảng 10 năm dùng thuốc.

2.7. Sinh nhiều con, sinh con ở độ tuổi còn trẻ

Phụ nữ mang thai từ 3 lần trở lên và lần mang thai đầu trước 17 tuổi sẽ có nguy cơ mắc ung thư niêm mạc tử cung cao hơn so với những người bình thường.

2.8. Tiền sử gia đình có người mắc bệnh

Trong gia đình có mẹ, chị em gái mắc ung thư niêm mạc tử cung có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới khác.

3. Điều trị ung thư niêm mạc tử cung bằng phương pháp xạ trị

Dựa trên những chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm tế bào học âm đạo (PAP SMEAR), HPV, soi cổ tử cung, sinh thiết các bác sĩ sẽ chỉ định các hình thức điều trị ung thư niêm mạc tử cung bao gồm:

3.1. Xạ trị chùm tia ngoài

Khi xạ trị được sử dụng làm phương pháp điều trị cho bệnh nhân mắc ung thư niêm mạc tử cung thường sẽ được kết hợp với hóa trị liệu (gọi là hóa xạ trị đồng thời). Phương pháp điều trị xạ trị chùm tia ngoài được thực hiện 5 ngày một tuần và thường kéo dài từ 6 đến 7 tuần nhằm tiêu diệt tế bào ung thư.

3.2. Xạ trị áp sát (xạ trị trong)

Xạ trị áp sát là phương pháp điều trị ung thư niêm mạc tử cung, bằng nguồn bức xạ được đặt trong một thiết bị trong âm đạo (và đôi khi trong cổ tử cung) nhằm tiêu diệt tế bào ung thư.

Có hai loại xạ trị áp sát cổ tử cung:

– Liệu pháp xạ trị liều thấp (LDR) được thực hiện trong vài ngày. Trong thời gian này, bệnh nhân nằm trên giường trong một phòng riêng tại bệnh viện với các dụng cụ giữ chất phóng xạ tại chỗ.

– Liệu pháp xạ trị liều cao (HDR) được thực hiện ngoại trú tại bệnh viện (thường cách nhau ít nhất một tuần). Đối với mỗi đợt điều trị liều cao, chất phóng xạ được đưa vào trong vài phút và sau đó loại bỏ. Ưu điểm của điều trị HDR là không phải ở lại bệnh viện hoặc nằm yên trong thời gian dài.

4. Xạ trị ung thư niêm mạc tử cung gây tác dụng phụ như thế nào?

Xạ trị ung thư niêm mạc tử cung có thể gây ra rất nhiều tác dụng phụ của xạ trị ung thư đến người bệnh. Cụ thể:

– Gây thiếu máu và biến chứng ở não.

– Gây các bệnh ở họng, miệng và tổn thương trên da, da sẽ bị tấy đỏ và bệnh nhân có thể thấy rát nhẹ ở nơi tiếp xúc. Vùng da bị ảnh hưởng sẽ bị khô theo thời gian và gây ngứa.

– Suy giảm chức năng hệ tiêu hóa khiến niêm mạc dạ dày bị sưng nề, viêm nhiễm, buồn nôn, đau thắt ở bụng, tiêu chảy…

– Gây viêm bàng quang với các triệu chứng đau hoặc rát khi đi tiểu, tiểu nhiều, tiểu liên tục. Những tác dụng phụ này có thể xảy ra trong vòng 2 tuần sau khi người bệnh bắt đầu thực hiện xạ trị và có thể kéo dài 1 tháng sau khi xạ trị hoàn thành.

– Gây ra hiện tượng mãn kinh ở phụ nữ với các triệu chứng: nóng bừng, khô âm đạo, thay đổi tâm trạng, và giảm ham muốn tình dục, mệt mỏi.

– Gây vô sinh hoặc giảm khả năng sinh sản.

– Phóng xạ còn có thể làm cho âm hộ và âm đạo nhạy cảm và gây cảm giác đau và đôi khi ra tiết dịch.

5. Chi phí xạ trị ung thư niêm mạc tử cung là bao nhiêu?

6. Dinh dưỡng cho bệnh nhân xạ trị ung thư niêm mạc tử cung

Việc điều trị bằng phương pháp xạ trị khiến cho bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung gặp phải những tác dụng phụ. Vì vậy, bệnh nhân và người nhà cần chú ý xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học bao gồm:

6.1. Trái cây, rau xanh

Trong quá trình điều trị, việc bổ sung trái cây và rau xanh giúp chống lại các tế bào ung thư, cung cấp vitamin, các khoáng chất quan trọng. Người bệnh nên lựa chọn những loại rau xanh, trái cây tươi, đảm bảo vệ sinh an toàn, thực phẩm. Bên cạnh đó, cần loại bỏ những loại thực phẩm rau xanh, trái cây hư hỏng, chứa chất hóa học và bảo quản.

6.2. Tinh bột

Sau xạ trị người bệnh thường rơi vào tình trạng suy sụp sức khỏe và tinh thần dẫn đến tình trạng sụt cân, mệt mỏi. Đồng thời, khi khối u phát triển dẫn đến quá trình chuyển hóa trong cơ thể thay đổi, diễn ra liên tục làm cơ thể bị tiêu hao năng lượng lớn. Do đó, để duy trì sức khỏe bệnh nhân nên bổ sung các loại tinh bột có trong các loại ngũ cốc nguyên hạt. Tránh ăn những thực phẩm chế biến sẵn chứa đường đơn hoặc những thực phẩm có chứa các chất phụ gia và các chất bảo quản, vì đây là những thực phẩm không đảm bảo an toàn cho sức khỏe, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

6.3. Thực phẩm giàu protein

Đối với bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung việc bổ sung protein góp phần sửa chữa các tế bào và mô bị tổn thương, tăng khả năng phục hồi sức khỏe cho cơ thể, chống nhiễm trùng. Các loại thực phẩm chứa protein tốt cho bệnh nhân ung thư bao gồm sữa, sữa chua, các loại hạt, trứng, thịt cá, tôm, cua và đậu nành, các loại thịt đỏ giàu sắt và kẽm như thịt bò, thịt lợn nạc…

6.4. Thực phẩm dầu mỡ, muối, đường

Cần tránh những thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ, chế biến sẵn. Hạn chế ăn các loại thực phẩm lên men như dưa muối, cà, thịt ngâm, thịt muối… bởi đây là những loại thực phẩm làm tế bào ung thư phát triển, gây khó khăn cho việc điều trị.

6.5. Rượu, bia, thuốc lá

Để quá trình điều trị đạt kết quả tốt, người bệnh tuyệt đối không sử rượu, bia, thuốc lá bởi các loại đồ uống có này góp phần làm chuyển hóa ethanol trong đồ uống có cồn thành acetaldehyd. Đây là một hóa chất độc hại và là chất gây các căn bệnh ung thư trong đó có ung thư niêm mạc tử cung. Đồng thời, việc sử dụng rượu, bia, thuốc lá làm giảm hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng bao gồm vitamin A, vitamin B, vitamin C; vitamin D; vitamin E và carotenoid. Bên cạnh đó, đồ uống có cồn còn có thể chứa nhiều chất gây ung thư được đưa vào trong quá trình lên men và sản xuất, như nitrosamine, sợi amiăng, hydrocarbon và phenol gây khó khăn cho việc điều trị.

Chẩn Đoán Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung

Chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung chủ yếu căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng, các dấu hiệu, các kết quả kiểm tra tế bào học, kiểm tra hình ảnh và kiểm tra mô bệnh học. Các chuyên gia bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu đã chỉ ra rằng, nếu như nghi nghờ mình có những triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung bạn cần làm một hoặc nhiều các xét nghiệm kiểm tra, để sớm chẩn đoán chính xác bệnh. Nếu như bạn đã được chẩn đoán chính xác là ung thư nội mạc tử cung, những phương pháp kiểm tra này có thể giúp bạn tìm được liệu pháp điều trị tốt nhất.

Có những phương pháp nào để chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung?

1. Kiểm tra phụ khoa: phương pháp này thích hợp dùng để loại trừ các bệnh khiến cho âm đạo, cổ tử cung bị chảy máu và viêm nhiễm. Ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu khi tiến hành kiểm tra khoang chậu sẽ cho kết quả bình thường, còn giai đoạn cuối sẽ có các dấu hiệu như tử cung phình to, có khối u, thiếu máu, di căn xa.

2. Siêu âm: Siêu âm là phương pháp kiểm tra ung thư nội mạc tử cung trên diện rộng. Có thể dùng để kiểm tra kích thước tử cung, bên trong tử cung có cục u hay không, độ dày của nội mạc tử cung, có bị xâm lấn sang lớp thịt không, kích thước và tính chất khối u. Nếu như siêu âm phát hiện thấy nội mạc tử cung dày lên, không giống với chu kỳ kinh nguyệt và độ tuổi của bạn, cần phải tiến hành kiểm tra thêm.

3. Kiểm tra tế bào học: xét nghiệm tế bào âm đạo, soi tế bào buồng tử cung. Khi âm đạo tiết dịch một cách bất thường, có thể làm xét nghiệm này.

4. Phết tử cung: Là phương pháp chẩn đoán có hiệu quả nhất trong việc xác định chính xác bệnh và loại trừ ung thư nội mạc tử cung, đồng thời có thể làm căn cứ để phân chia giai đoạn trong ung thư nội mạc tử cung. Được chia thành phết niêm mạc cổ tử cung và nội mạc tử cung, làm kiểm tra bệnh lý để chẩn đoán chính xác.

5. Nội soi buồng tử cung: Những năm gần đây, kỹ thuật nội soi buồng tử cung đã được sử dụng rộng rãi trong việc chẩn đoán sớm những tổn thương ở nội mạc tử cung. Dưới sự chỉ dẫn của kính nội soi tử cung tiếp xúc và kính nội soi tử cung phóng đại, có thể trực tiếp tiến hành sinh thiết ở ngay bộ phận thấy nghi vấn, nâng cao tính chính xác trong chẩn đoán, tránh trường hợp chẩn đoán sót. Nếu bạn thường xuyên bị chảy máu âm đạo, bác sỹ sẽ khuyên bạn nến tiến hành nội soi buồng tử cung. Xuất hiện tình trạng đau bụng hoặc tiểu đau, cũng nên tiến hành kiểm tra bằng phương pháp này.

6. Các phương pháp kiểm tra khác: Bao gồm MRI, CT và kiểm tra hạch… Những kiểm tra này có vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta xác định mức độ xâm lấn, đã di căn xa hay chưa. Ngoài ra, kiểm tra nồng độ CA 125 có thể giúp chúng ta phát hiện bệnh.

Các chuyên gia bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu khuyến cáo: Một khi đã được chẩn đoán chính xác bị măc ung thư nội mạc tử cung, cần phải tiến hành điều trị sớm, điều này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh. Đối với việc điều trị ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ sẽ căn cứ vào kết quả kiểm tra, giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe của bạn để đưa ra phương án điều trị tốt nh

Ai Có Nguy Cơ Mắc Ung Thư Niêm Mạc Tử Cung?

Ung thư niêm mạc tử cung là một bệnh ung thư phát sinh từ niêm mạc tử cung. Đó là kết quả của sự tăng trưởng bất thường của các tế bào có khả năng xâm nhập hoặc lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Ung thư niêm mạc tử cung là bệnh ung thư rất phổ biến ở nữ và có nguy cơ gây tử vong nếu không điều trị sớm. Vậy đối tượng nào dễ mắc nhất và làm thế nào để phòng ngừa?

1. Dấu hiệu ung thư niêm mạc tử cung

Xuất huyết âm đạo bất thường, đối với phụ nữ tiền mãn kinh, bao gồm xuất huyết, chảy máu bất thường nặng hoặc kéo dài, và/hoặc xuất huyết tử cung bất thường (AUB).

Kết quả xét nghiệm Pap bất thường (hay tế bào cổ tử cung là xét nghiệm để tầm soát tế bào ung thư cổ tử cung ở phụ nữ).

Khó khăn hoặc đau khi đi tiểu.

Đau khi quan hệ tình dục.

Đau vùng chậu.

2. Ai có nguy cơ mắc ung thư niêm mạc tử cung

Trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ, kích thích tố gây ra sự thay đổi ở nội mạc tử cung. Trong giai đoạn đầu của chu kỳ, trước khi trứng rụng, buồng trứng sản sinh ra các hoóc môn gọi là estrogen. Estrogen khiến niêm mạc tử cung trở nên dày hơn để có thể nuôi dưỡng phôi thai nếu mang thai. Nếu không có thai, estrogen được sản xuất với số lượng thấp hơn và nhiều hoóc môn progesterone được tạo ra sau khi rụng trứng. Vào cuối chu kỳ, tử cung sẽ loại bỏ lớp nội mạc ra ngoài lớp và tạo thành kinh nguyệt. Chu trình này lặp lại cho đến khi người phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh.

Tuổi tác: Ung thư niêm mạc tử cung thường xảy ra nhất ở phụ nữ trên 50 tuổi; độ tuổi trung bình là 60.

Chủng tộc: Nếu như phụ nữ da trắng dễ mắc ung thư niêm mạc tử cung hơn các phụ nữ có màu da khác thì phụ nữ da đen lại có nguy cơ bị chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển cao hơn.

Di truyền: Phụ nữ có hội chứng Lynch di truyền, còn gọi là (HNPCC), Theo thống kê, có khoảng 2% đến 5% phụ nữ bị ung thư niêm mạc tử cung có hội chứng Lynch.

Bệnh tiểu đường: Phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư niêm mạc tử cung nếu như họ bị tiểu đường – thường dẫn tới béo phì, tăng nguy cơ ung thư tử cung.

Các bệnh ung thư khác: Những phụ nữ bị ung thư vú, ung thư đại tràng hoặc ung thư buồng trứng có nguy cơ bị ung thư tử cung cao hơn.

Dùng thuốc Tamoxifen: Phụ nữ dùng thuốc tamoxifen (Nolvadex) để phòng ngừa hoặc điều trị ung thư vú có nguy cơ phát triển ung thư tử cung cao hơn.

Xạ trị. Những phụ nữ đã từng xạ trị vào vùng chậu để điều trị một bệnh ung thư khác có nguy cơ cao bị ung thư niêm mạc tử cung.

Chế độ ăn uống: Phụ nữ ăn nhiều thực phẩm có chứa mỡ động vật có nguy cơ bị ung thư cao hơn.

Có thời gian dài tiếp xúc với Estrogen: Phơi nhiễm kéo dài với estrogen hoặc mất cân bằng estrogen làm tăng nguy cơ ung thư niêm mạc tử cung, chẳng hạn như: Có kinh nguyệt trước 12 tuổi, hoặc mãn kinh muộn; Dùng hoóc môn thay thế sau mãn kinh, đặc biệt là loại chỉ chứa estrogen (nguy cơ thấp hơn nếu như dùng estrogen kết hợp với progesterone); Phụ nữ chưa từng mang thai và sinh con.

3. Phòng ngừa ung thư niêm mạc tử cung như thế nào?

Dùng thuốc tránh thai: Thuốc tránh thai có sự kết hợp của estrogen và progesterone có thể làm giảm nguy cơ phát triển quá mức của niêm mạc tử cung, đặc biệt là khi uống trong thời gian dài.

Thận trọng khi dùng hoóc môn sau mãn kinh: đặc biệt lưu ý khi sử dụng biện pháp thay thế estrogen vì nó làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Bạn có thể tham khảo ý kiến bác sĩ về rủi ro và lợi ích, hoặc chọn biện pháp kết hợp estrogen và progesterone.

Duy trì cân nặng khỏe mạnh bằng chế độ ăn uống lành mạnh, vận động hợp lý, tránh thừa cân, béo phì.

Những người bị bệnh tiểu đường cần quản lý bệnh tốt, chẳng hạn thường xuyên theo dõi mức đường huyết, có thể giảm được nguy cơ.

Để giảm nguy cơ mắc bệnh, chị em phụ nữ có thể cân nhắc các phương pháp sau đây:

Ngoài ra, có thể sử dụng các thực phẩm sau:

Tuy nhiên, sầu riêng có tính nóng, do đó, chị em cũng không nên ăn quá nhiều, và đặc biệt, không được sử dụng sầu riêng cùng với bia rượu và cà phê.

Cũng như sầu riêng, đậu nành có chứa một hàm lượng estrogen tự nhiên lớn, do đó, việc sử dụng đậu nành tốt cho niêm mạc tử cung. Vì vậy, chị em có thể uống từ 2 – 3 cốc sữa đậu nành mỗi ngày để tăng cường sức khỏe.

Trong quả bơ rất giàu chất kiềm – tốt cho niêm mạc tử cung ở phụ nữ. Chất kiềm giúp điều hòa nội tiết trong cơ thể. Do đó, nếu băn khoăn không biết ung thư niêm mạc tử cung nên ăn gì, chị em có thể ăn một trái bơ mỗi ngày.

Ngải cứu được sử dụng trong khá nhiều bài thuốc dân gian, đặc biệt là bài thuốc dành cho phụ nữ bị ung thư niêm mạc tử cung. Lá ngải cứu có tác dụng khiến niêm mạc dày lên, tăng hiệu quả điều trị.

Cả hai loại lá này đều là một trong số những thực phẩm rất tốt cho phụ nữ có bị ung thư niêm mạc tử cung. Nguyên nhân là do trong 2 loại lá này có chứa chất oxy hóa, giàu vitamin C, rất tốt cho cơ thể phụ nữ…

Bài viết trên đã cung cấp những thông tin về ung thư niêm mạc tử cung, hy vọng mọi người có cách phòng ngừa một cách hiệu quả và hợp lý.