Top 11 # Xếp Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Chẩn Đoán, Xếp Loại Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp

Ung thư tuyến giáp là ung thư về tuyến giáp, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Nó là ung thư tuyến nội tiết thường gặp nhất.

Đa số ung thư tuyến giáp là carcinôm biệt hoá tốt, tiến triển âm thầm, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài, điều trị chính yếu là phẫu thuật.

Đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.

Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ

Dịch tễ học

Tại Hoa Kỳ ung thư tuyến giáp có khoảng 2 – 4 ca mới/100.000 dân/năm, tỷ lệ nam/nữ là 1/2,7 và tỉ lệ tử vong hằng năm là 0,2 – 2,8/ 100.000 dân.

Các trường hợp thường gặp là nhỏ hơn 20 hoặc lớn hơn 50 tuổi.

Theo ghi nhận của Tổ chức Chống ung thư toàn cầu (Inernational Union against Cancer: IUAC) năm 2002, ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 2,7/100.000 dân đối với nữ và 1,3/100.000 đối với nam.

Các yếu tố nguy cơ

· Tiền căn xạ trị vùng cổ lúc nhỏ vì bệnh lành tính hoặc bị nhiễm phóng xạ (ví dụ sau tai nạn hạt nhân Chernobyl tỉ lệ ung thư tuyến giáp của cư dân vùng này tăng lên) làm gia tăng nguy cơ carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt với đỉnh cao nguy cơ từ 12 đến 25 năm sau tiếp xúc.

· Vùng phình giáp dịch tễ thường gặp carcinôm dạng nang hay carcinôm không biệt hoá. Carcinôm dạng nhú thường gặp ở vùng đầy đủ iod.

· Hoạt hoá các gene tyrosine kinase: tái sắp xếp gene sinh ung RET/PTC ở nhiễm sắc thể 10 xảy ra trong 5-35% carcinôm dạng nhú tự phát.

· Gia tăng biểu lộ gene sinh ung MET có trong 70% carcinôm dạng nhú.

· Đột biến gene sinh ung RET cũng thấy trong carcinôm dạng tuỷ có tính gia đình.

· Gen sinh ung RAS và đường dẫn truyền tín hiệu tế bào: đột biến RAS thường gặp trong carcinôm dạng nang ở vùng thiếu iod.

· Gen đèn nén bướu p53: đột biến điểm gen p53 làm bất hoạt hoá gen này, thấy trong 80% carcinôm không biệt hoá.

Bệnh học và diễn tiến

Bệnh học

Phân loại carcinôm tuyến giáp theo nguồn gốc tế bào:

Carcinôm tuyến giáp dạng nhú thường gặp nhất chiếm 80% ung thư tuyến giáp. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú có kích thước nhỏ hơn hay bằng 1 cm được gọi là carcinôm kích thước nhỏ hoặc tiềm ẩn. Loại này ít có ý nghĩa lâm sàng do diễn tiến chậm.Biểu hiện lâm sàng carcinôm tuyến giáp thường là một hạt giáp và không gây rối loạn chức năng. Bướu có thể lan tràn theo mạch bạch huyết trong tuyến giáp giải thích tình trạng đa ổ. Carcinôm dạng nhú rất ưa di căn hạch vùng, tuy nhiên di căn hạch không ảnh hưởng đến tiên lượng sống còn. Các loại carcinôm dạng nhú biệt hoá kém có diễn tiến trung gian gồm các biến thể: loại đảo, loại tế bào cao, tế bào sáng và loại xơ hoá. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú ở trẻ con thường có bướu lớn và di căn hạch sớm.

Carcinôm dạng nang chiếm 5-10% ung thư tuyến giáp, thường gặp trong vùng thiếu iod, biểu hiện lâm sàng bởi hạt giáp, và thường là đơn ổ với vỏ bao rõ. Carcinôm dạng nang hay lan tràn qua đường máu và cho di căn xa. Nhìn chung carcinôm dạng nang có tiên lượng xấu hơn carcinôm tuyến giáp dạng nhú. Carcinôm tế bào Hurthle, biến thể của carcinôm dạng nang, có độ biệt hóa kém và diễn tiến mạnh hơn.

Carcinôm dạng tuỷ, nguồn gốc từ tế bào cận nang C, tế bào này sản xuất ra calcitonin. Khoảng 25% carcinôm dạng tuỷ có tính di truyền, liên hệ đến hội chứng đa bướu nội tiếtMEN 2a, MEN 2b, có đột biến gene RET và di truyền theo kiểu tế bào tự thân kiểu trội. Carcinôm dạng tuỷ di truyền có thể tăng calcitonin và CEA trong huyết thanh. Carcinôm dạng tuỷ tự phát biểu hiện lâm sàng bằng khối bướu đơn độc và ưa di căn hạch.

Carcinôm không biệt hoá hiếm gặp, chiếm 1% ung thư tuyến giáp, thường gặp ở ngưới lớn tuổi, phát triển nhanh và cho di căn xa. Loại này có thể bắt nguồn từ carcinôm dạng nang, diễn tiến chậm trong các bệnh nhân ở vùng phình giáp dịch tễ thiếu iod. Hầu hết các trường hợp gây tử vong do bướu xâm lấn tại chỗ, thường là chèn ép khí quản.

Chẩn đoán

Lâm sàng

Tình huống lâm sàng thường gặp nhất là một hạt giáp không có triệu chứng. Đánh giá lâm sàng cần liên hệ đến các yếu tố nguy cơ của hạt giáp. Các yếu tố nguy cơ đó là:

· Hạt giáp lớn nhanh

· Mật độ cứng khi sờ

· Dính vào các cấu trúc lân cận

· Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp

· Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)

· Có hạch cổ

Khối u nhỏ nghi ngờ ung thư phát hiện tình cờ qua siêu âm vùng cổ, qua đánh giá phình giáp đa hạt hoặc bệnh Graves.

Hạch cổ di căn tiềm ẩn của carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

Các phương tiện chẩn đoán

Siêu âm

Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn của tuyến giáp. Phương tiện này có lợi điểm là an toàn, không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm có thể đánh giá chính xác kích thước, vị trí của hạt giáp và rà tìm các hạt giáp không sờ thấy lâm sàng. Siêu âm ngày càng được sử dụng nhiều để hướng dẫn làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA: Fine Needle Aspiration) hạt giáp.

Các dấu hiệu của một hạt giáp nghi ngờ trên siêu âm:

· Tăng sinh mạch máu ở trung tâm

· Hạt giáp phản âm kém

· Bờ không đều

· Vi vôi hoá bên trong

Xạ hình

Xạ hình tuyến giáp dùng để đánh giá sự hấp thu iod của các hạt giáp. Các hạt nóng ít có nguy cơ ác tính hơn các hạt lạnh. Các hạn chế của phương tiện này là: độc hại phóng xạ, mắc tiền và độ ly giải hình ảnh kém. Ngày nay ung thư tuyến giáp thường được chẩn đoán bằng FNA và xạ hình tuyến giáp hiếm khi cần trong đánh giá thường qui của một hạt giáp.

Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ

Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging hay MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có chích chất cản quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít tốn kém hơn MRI.

Hạn chế của CT khi dùng chất cản quang iod làm ngăn cản khả năng hấp thu iod trên xạ hình sau đó và có thể gây độc giáp trạng trong các trường hợp sử dụng chất cản quang iod có liều cao và ở bệnh nhân có cường giáp tiềm ẩn. MRI có ưu điểm là không dùng chất cản quang iod và không độc hại do phóng xạ và có thể cho thấy rõ tuyến giáp và cấu trúc lân cận.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine needle aspiration hay FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá hạt giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%.

Kết quả FNA gồm: ác tính, lành tính, không xác định được và không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.

Kết quả FNA không xác định được thường là tổn thương dạng nang có thể lành hoặc ác. Các bệnh nhân này cần được cắt thuỳ tuyến giáp toàn phần và cắt lạnh.

Nhóm FNA không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán chiếm 10-12% khi không dùng siêu âm hướng dẫn và tỉ lệ này cải thiện còn 0% khi có sử dụng hướng dẫn của siêu âm.

Xếp hạng lâm sàng theo T,N,M (Xếp loại giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM)

· Tx Bướu nguyên phát không thể đánh giá được

· T0 Không có bướu nguyên phát

· T1 Bướu <2 cm

· T4a Bướu ăn lan khỏi vỏ bao giáp và xâm lấn bất cứ cấu trúc nào sau đây: mô mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản, thần kinh hồi thanh quản

· T4b Bướu xâm lấn màng cân trước cột sống, mạch máu trung thất hoặc bọc quanh động mạch cảnh

· T4a* Bướu (bất kể kích thước) khu trú trong tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· T4b* Bướu (bất kể kích thước) ăn lan khỏi tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· Mx Di căn xa không thể đánh giá được

· M0 Không có di căn xa

· M1 Có di căn xa

Xếp giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM

Nguyên tắc

· Phẫu trị là phương pháp điều trị chính yếu cho tất cả các loại carcinôm tuyến giáp.

· Liệu pháp kích tố đè nén được chỉ định cho hầu hết các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

· Liệu pháp 131I được chỉ định cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt có nguy cơ cao như lớn tuổi (trên 45 tuổi), bướu lớn (trên 4 cm), xâm lấn vỏ bao giáp hoặc di căn xa.

· Xạ trị ngoài và hoá trị dành cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá kém hay không biệt hoá.

Phương pháp

· Phẫu thuật: mức độ rộng của phẫu thuật còn bàn cãi dựa vào kích thước, mức độ xâm lấn, diễn tiến của bướu, phẫu thuật để tạo thuận lợi cho điều trị hỗ trợ sau đó và theo dõi bệnh.

· Các loại phẫu thuật được chấp nhận hiện nay là:

· Cắt thuỳ giáp toàn phần.

· Cắt giáp quá bán (subtotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 2-4 gram mô giáp.

· Cắt giáp gần toàn phần (neartotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 1 gram mô giáp và

· Cắt giáp toàn phần.

· Biến chứng phẫu thuật: liệt thần kinh hồi thanh quản và suy giáp khoảng 1%.

· Nạo hạch cổ chức năng (nhóm II, III,IV, VI) thường được lựa chọn nhất

· Liệu pháp kích tố đè nén: dựa vào cơ chế phản hồi ngược, dùng thyroxin liều cao để ức chế TSH, kìm hãm sự phát triển của bướu trong các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Liều dùng được cân nhắc với tác dụng phụ của điều trị trên tim mạch, xương, và độc giáp trạng nhất là ở người lớn tuổi. Nồng độ TSH trong máu được duy trì trong khoảng 0,1-0,5 mU/L ở nhóm nguy cơ thấp và nhỏ hơn 0,01 mU/l ở nhóm nguy cơ cao

· Liệu pháp 131I: dựa vào cơ chế hấp thu iốt của các carcinôm biệt hoá tốt. Liệu pháp này được dùng hỗ trợ sau mổ để diệt mô giáp hay bướu còn sót và trong các trường hợp di căn xa có bắt iốt. Liều 131I từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.

· Xạ trị ngoài dành cho các trường hợp carcinôm biệt hoá không phẫu thuật được hoặc không bắt iod, hỗ trợ sau mổ các trường hợp carcinôm dạng tuỷ hoặc carcinôm không biệt hoá.

· Hoá trị ít có vai trò trong carcinôm biệt hoá tốt.

Chỉ định

· Cắt trọn thuỳ chỉ định cho các trường hợp kích thước bướu nhỏ hơn hay bằng 1,5 cm và có nguy cơ thấp kèm theo thyroxin sau mổ

· Cắt giáp gần toàn phần hay toàn phần dùng cho các trường hợp có nguy cơ cao. Sau đó dùng liệu pháp 131I và thyroxin sau mổ.

· Nạo hạch cổ được chỉ định khi có hạch cổ sờ thấy trên lâm sàng hay siêu âm nghi ngờ, hoặc trong lúc mổ nghi ngờ hạch di căn có thể cắt lạnh để quyết định điều trị.

Đối với carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt

Cắt giáp toàn phần, nạo hạch cổ phòng ngừa một bên khi bướu lớn hơn 1 cm và hai bên trong các trường hợp di truyền và xạ trị bổ túc sau mổ khi có nguy cơ tái phát cao. Không có vai trò của liệu pháp 131I.

Đối với carcinôm dạng tuỷ

Cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ phòng ngừa nếu bướu còn khu trú, phẫu thuật giảm thiểu bướu không có lợi vì bướu phát triển nhanh. Xạ trị ngoài và hoá trị được chỉ định trong các trường hợp bệnh tiến xa

Đối với carcinôm không biệt hoá

Tiên lượng theo các yếu tố và giai đoạn ung thư tuyến giáp

Phân nhóm nguy cơ

Tham khảo

· Roman S., Udelsman R.. Endocrine Tumors. UICC Manual of Cinical Oncology 2004, 8th edition, p359-p379.

· Sherman S.I.. Thyroid Carcinoma. Lancet 2003; 361: 501-511. PMID 12583960

· Boone R.T., Fan C.Y., Hanna E.Y.. Well-differentiated Carcinoma of the Thyroid. Otolaryngologic Clinics of North America 2003; 36: 73-90. PMID 12803010

· Kinder B. K.. Well differentiated Thyroid Cancer. Current Opinion in Oncology 2003; 15: 71-77. PMID 12490765

· Lairmore T.C., Moley J.F.. Cancer of the Endocrine System. Cancer: Principles and Practice of Oncology (CD-Rom) 2005, 7th edition. Chapter 34.

· Doulas L. F., Monica S., Virginia L. Thyroid carcinoma. Cancer: Principles and Practice of Oncology, 6th edition. Lippincott Williams & Wilkins, 2001.

Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp

Phân chia giai đoạn ung thư tuyến giáp khác nhau ở người trẻ tuổi và người già, mốc phân chia là 45 tuổi

Các giai đoạn của ung thư tuyến giáp đối với người dưới 45 tuổi:

Giai đoạn 1: Khối u có kích thước bất kỳ, tế bào ung thư đã hoặc chưa lan đến các hạch bạch huyết. Chưa di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn 2: Khối u có kích thước bất kỳ, tế bào ung thư đã hoặc chưa lan đến các hạch bạch huyết nhưng đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Các giai đoạn của ung thư tuyến giáp đối với người trên 45 tuổi:

Giai đoạn 1: Khối u có kích thước nhỏ hơn 2 cm và chỉ nằm trong tuyến giáp. Các tế bào ung thư chưa lây lan sang các hạch bạch huyết và bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn 2: Có thể xuất hiện 1 trong 2 trường hợp sau:

– Khối u có đường kính từ 2-4 cm, tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết hay những bộ phận khác của cơ thể.

– Khối u có đường kính lớn hơn 4 cm hoặc đã bắt đầu phát triển ra bên ngoài tuyến giáp. Tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết và những bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn 3: Giai đoạn 3 có thể xảy ra các trường hợp sau:

– Khối u có kích thước lớn hơn 4 cm hoặc đã phát triển ra bên ngoài tuyến giáp nhưng chưa lây lan đến các hạch bạch huyết.

– Khối u có kích thước bất kỳ hoặc đã phát triển ra bên ngoài tuyến giáp. Các tế bào ung thư đã lan sang các hạch bạch huyết ở gần cổ.

Giai đoạn 4: được chia thành 3 giai đoạn nhỏ như sau:

– Giai đoạn 4A: Khối u ở giai đoạn này đã phát triển vượt ra ngoài tuyến giáp và có thể xâm lấn tới các mô lân cận. Hoặc chúng có thể đã lây lan tới các hạch bạch huyết ở phần cổ và phần trên của ngực nhưng chưa lan sang các bộ phận xa hơn.

– Giai đoạn 4B: Khối u đã lan sang xương sống hay xâm lấn đến các mạch máu lớn. Tế bào ung thư có thể đã lan tới các hạch bạch huyết nhưng chưa lan sang các bộ phận khác.

– Giai đoạn 4C: Các tế bào ung thư đã di căn hoặc lây lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

* Giai đoạn 4 của Ung thư tuyến giáp không biệt hóa:

Giai đoạn 4A: Khối u nguyên phát chỉ nằm trong tuyến giáp. Các tế bào ung thư có thể đã hoặc chưa lây lan đến các hạch bạch huyết ở gần nhưng chưa lây sang các bộ phận khác.

Giai đoạn 4B: Khối u đã lan ra ngoài tuyến giáp, các tế bào ung thư có thể đã hoặc chưa lan đến các hạch bạch huyết ở gần nhưng chưa lây lan sang các bộ phận khác.

Giai đoạn 4C: Các tế bào ung thư đã lan ra ngoài tuyến giáp và xâm lấn tới các bộ phận khác của cơ thể.

Tiên lượng sống: Bệnh ung thư tuyến giáp mặc dù rất nguy hiểm, nhưng có thể chữa khỏi hoàn toàn và người bệnh có thể sống được suốt đời nếu điều trị đúng hướng và tích cực với các phương pháp tiên tiến.

Trong số các loại ung thư tuyến giáp, ung thư tuyến giáp dạng nhú và dạng nang là phổ biến nhất, và thường gặp ở bệnh nhân nữ trẻ tuổi. Cả 2 dạng ung thư tuyến giáp này thường được điều trị chính bằng phẫu thuật, có thể kết hợp với các phương pháp bổ sung như hóa trị, xạ trị, điều trị phóng xạ, liệu pháp hormone…

Ở những nước có nền y tế phát triển, giai đoạn 1 và 2 ung thư tuyến giáp có tỷ lệ chữa khỏi thành công tới 100%. Cơ hội chữa khỏi bệnh cho từng giai đoạn ở 2 dạng ung thư tuyến giáp thể nhú và nang như sau:

Ung Thư Tuyến Giáp Có Mấy Giai Đoạn?

Ung thư tuyến giáp là bệnh ác tính bắt nguồn từ tuyến giáp. Bệnh thường gặp ở nữ giới trẻ. Tùy vào kích thước, mức độ xâm lấn của khối u mà người ta phân loại ung thư tuyến giáp. Mỗi loại ung thư tuyến giáp cũng có những giai đoạn khác nhau.

Ung thư tuyến giáp có mấy giai đoạn?

Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở bệnh nhân dưới 45 tuổi

Giai đoạn I: khối u có kích thước bất kỳ, có thể ở tuyến giáp hoặc lan ra các mô lân cận và các hạch bạch huyết. Ung thư không lan ra các bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn II: ung thư tuyến giáp có kích thước bất kỳ và ung thư lan ra từ tuyến giáp đến các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như phổi hoặc xương, và có thể lan tới các hạch bạch huyết.

Ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang ở bệnh nhân từ 45 tuổi

Giai đoạn I: ung thư tuyến giáp chỉ nằm trong tuyến giáp và khối u nhỏ hơn 2 cm.

Giai đoạn II: ung thư tuyến giáp chỉ nằm trong tuyến giáp và khối u lớn hơn 2 cm nhưng không lớn hơn 4 cm.

Giai đoạn III: khối u lớn hơn 4 cm và chỉ có ở tuyến giáp hay khối u có kích thước bất kỳ và ung thư lan ra các mô ngay bên ngoài tuyến giáp và không lan ra các hạch bạch huyết hoặc khối u có kích thước bất kỳ kích thước và ung thư có thể đã lan đến các mô bên ngoài tuyến giáp và đã lan đến các hạch bạch huyết gần khí quản hoặc thanh quản.

Giai đoạn IV: được chia thành các giai đoạn IVA, IVB, và IVC.

Trong giai đoạn IVA: khối u có kích thước bất kỳ và ung thư lan ra ngoài tuyến giáp đến các mô bên dưới da, khí quản, thực quản, thanh quản và / hoặc dây thần kinh thanh quản tái phát (dây thần kinh có hai nhánh đi vào thanh quản) ; ung thư có thể đã lan tới các hạch bạch huyết lân cận; hoặc khối u có kích thước bất kỳ và ung thư có thể lan ra mô ngay bên ngoài tuyến giáp. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ hoặc giữa phổi.

Trong giai đoạn IVB, ung thư đã lan ra mô ở phía trước cột sống hoặc đã bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở khu vực giữa phổi; ung thư có thể lan sang các hạch bạch huyết.

Trong giai đoạn IVC, khối u có kích thước bất kỳ và ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như phổi và xương, và có thể lan tới các hạch bạch huyết.

Ung thư tuyến giáp thể tủy

Giai đoạn 0: ung thư tuyến giáp giai đoạn 0 chỉ được phát hiện khi thực hiện xét nghiệm sàng lọc đặc biệt. Không có khối u nào tìm thấy trong tuyến giáp.

Giai đoạn I: khối u chỉ có ở tuyến giáp và nhỏ hơn 2 cm.

Giai đoạn II: khối u lớn hơn 2 cm và chỉ có ở tuyến giáp; hoặc khối u có kích thước bất kỳ và lan sang các mô bên ngoài tuyến giáp, nhưng không lan sang các hạch bạch huyết.

Giai đoạn III: khối u có kích thước bất kỳ, đã lan đến các hạch bạch huyết gần khí quản và thanh quản và có thể lan ra các mô bên ngoài tuyến giáp.

Giai đoạn IV: ung thư tuyến giáp được chia thành các giai đoạn IVA, IVB, và IVC.

Trong giai đoạn IVA: khối u có kích thước bất kỳ và ung thư lan ra ngoài tuyến giáp đến các mô dưới da, khí quản, thực quản, thanh quản và / hoặc dây thần kinh thanh quản tái phát (dây thần kinh có 2 nhánh đến thanh quản) ; ung thư có thể lan sang các hạch bạch huyết gần khí quản hoặc thanh quản; hoặc khối u có kích thước bất kỳ và ung thư có thể lan ra mô ngay bên ngoài tuyến giáp. Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở một hoặc cả hai bên cổ hoặc giữa phổi.

Trong giai đoạn IVB, ung thư đã lan ra mô ở phía trước cột sống hoặc đã bao quanh động mạch cảnh hoặc các mạch máu ở khu vực giữa phổi. Ung thư có thể lan tới hạch bạch huyết.

Trong giai đoạn IVC, khối u có kích thước bất kỳ và ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như phổi và xương, và có thể lan tới các hạch bạch huyết.

có thể bạn đang quan tâm: dấu hiệu ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa

Ung thư tuyến giáp phát triển nhanh và thường lan ra trong cổ khi được phát hiện.

Các Giai đoạn IV ung thư tuyến giáp thể tủy

Giai đoạn IVA, ung thư được tìm thấy trong tuyến giáp và có thể lan tới hạch bạch huyết.

Giai đoạn IVB, ung thư đã lan ra mô ngay bên ngoài tuyến giáp và có thể lan tới các hạch bạch huyết.

Giai đoạn IVC, ung thư đã lan ra các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như phổi và xương, và có thể lan tới hạch bạch huyết.

Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Giáp Giai Đoạn Sớm

Ung thư tuyến giáp là bệnh ung thư thường gặp ở vùng đầu cổ. Nhận biết được triệu chứng ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm sẽ giúp mỗi người chủ động hơn trong khám và phát hiện bệnh kịp thời.

Những triệu chứng ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm

Ung thư tuyến giáp xảy ra khi có sự phát triển bất thường của bất kì tế bào nào tại tuyến giáp. Bệnh được chia làm 4 giai đoạn phát triển, phát hiện bệnh càng sớm, cơ hội điều trị thành công của người bệnh càng cao.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm có đặc điểm khối u có kích thước nhỏ, dưới 2 cm, chưa lan đến bất kì hạch bạch huyết hay các cơ quan ở xa nào. Ở giai đoạn đầu, biểu hiện ung thư tuyến giáp chưa rõ ràng, dễ bị bỏ qua nên người bệnh không nên chủ qua.

Một số triệu chứng ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm có thể gặp là:

Khàn giọng: tuyến giáp có vị trí gần với dây thanh âm nên khi khối u phát triển với kích thước lớn dần sẽ chèn ép đến có quan này gây nên chứng khàn giọng.

Khó nuốt: khối u vùng cổ ảnh hưởng đến thực quản dễ gây cảm giác khó nuốt cho người bệnh

Đau vùng cổ mơ hồ, cảm giác đau xuất hiện bất chợt

Có khối u hạch nhỏ nổi ở cổ, sau tai: đây là triệu chứng có thể xuất hiện sớm ngay ở những giai đoạn đầu của bệnh. Hạch thường nhỏ, có di động, dễ nhận biết khi ăn và nuốt…

Chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp thường phát triển chậm nên người bệnh có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, tăng khả năng điều trị thành công.

Chẩn đoán ung thư tuyến giáp được thực hiện khi có những biểu hiện nghi ngờ bệnh và một số kết quả xét gnhiệm tổng quát cho kết quả bất thường. Khám chẩn đoán ung thư thư tuyến giáp có thể bao gồm:

Sinh thiết tế bào tuyến giáp

Siêu âm để tìm hạch di căn cổ

Chụp cắt lớp, cộng hưởng từ… xác định mức độ lan rộng của tế bào ung thư.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm có tiên lượng rất tốt, cơ hội chữa khỏi cao nếu được điều trị tích cực. Theo đó, cơ hội sống cho bệnh nhân trong khoảng thời gian 5 năm gần như tuyệt đối 100%. Vì vậy, ngay khi có bất kì triệu chứng bất thường nào ở tuyến giáp, bạn nên đến trực tiếp cơ sở y tế để chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.