Top 10 # Xét Nghiệm Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Xét Nghiệm Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng

Ung thư đại trực tràng là gì ?

Ung thư đại trực tràng hiện nay là loại ung thư phổ biến thứ 3 thế giới và thứ 5 ở Việt Nam (Theo Globocan 2018). Vậy ung thư đại trực tràng là gì?

Đại trực tràng chỉ đại tràng và trực tràng, còn gọi là ruột già, là đoạn cuối cùng của ống tiêu hóa. Nhiệm vụ của đại trực tràng là tiết ra chất dịch đại tràng, tổng hợp các vitamin, hấp thu nước và muối; những bã thức ăn sẽ được chứa tạm thời ở đây sau đó hình thành phân.

Ung thư đại trực tràng là các dạng ung thư xuất hiện ở đại tràng hoặc trực tràng. Có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư đại trực tràng, tuy nhiên, trên cơ sở khoa học yếu tố nguy cơ bao gồm: độ tuổi cao, nam giới, chế độ ăn nhiều mỡ và thịt, ít chất xơ, béo phì, hút thuốc lá, polype đại tràng, viêm loét đại tràng xuất huyết hay bệnh Crohn, tiền sử gia đình có người ung thư đại trực tràng.

 Triệu chứng của Ung thư Đại Trực Tràng

Với ung thư Đại Trực Tràng, giai đoạn đầu có thể hoàn toàn không có triệu chứng, đôi khi rất khó có thể phát hiện. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân có thể thấy một hay một số triệu chứng sau khi khối ung thư phát triển:

 Những nhóm người có nguy cơ cao

Nguy cơ bệnh ung thư đại trực tràng tăng theo độ tuổi. Khoảng 90% ca bệnh ung thư đại trực tràng được phát hiện ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm:

1. Người có bệnh ở đương tiêu hóa như bệnh viêm loét đại tràng hay bệnh Crohn

Tình trạng viêm mãn tính làm tăng sự biến đổi mô đại trực tràng, dẫn đến tốc độ tăng sinh quá mức, và trong nhiều trường hợp làm tăng tỉ lệ lỗi trong phân chia tế bào và tăng tỉ lệ đột biến di truyền. Ngoài ra, viêm mãn tính gây bất ổn về di truyền thông qua sự hình thành các gốc oxy và nito tự do có thể phá hoại trực tiếp DNA bộ gen cũng như DNA ty thể.

2. Nhóm người có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng hoặc polyp đại trực tràng

Nếu gia đình có thành viên có quan hệ huyết thống trực tiếp mắc bệnh ung thư đại trực tràng, thì những người trong gia đình sẽ có thể có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn bình thường.

Đồng thời, nếu một người phát hiện mình có polyp đại trực tràng, người đó cũng nên chú ý đến việc sàng lọc ung thư đại trực tràng.

3. Mắc hội chứng di truyền chẳng hạn như hội chứng đa polyposis tuyến gia đình (FAP) hoặc ung thư đại trực tràng không polyp tuyến di truyền (hội chứng Lynch).

Lười vận động thể chất

Chế độ ăn thiếu hoa quả và rau xanh, ít xơ nhưng giàu chất béo

Người thừa cân, béo phì

Người hút thuốc lá

Người tiêu thị nhiều rượu bia

 Cách thức thường quy xét nghiệm Ung thư đại trực tràng

Sàng lọc ung thư đại trực tràng có thể hạn chế đáng kể tỉ lệ tử vong do bệnh bằng cách phát hiện ung thư đại trực tràng từ giai đoạn sớm. Hiện nay, nội soi đại trực tràng là phương pháp sàng lọc chính xác nhất để phát hiện sớm loại ung thư này, được coi là tiêu chuẩn vàng. Tuy nhiên, tỉ lệ tự nguyện của xét nghiệm này còn thấp (dưới 30% toàn cầu) do tính xâm lấn, yêu cầu hạn chế chế độ ăn và quy trình chuẩn bị đại tràng nghiêm ngặt.

Mặc dù đã có những xét nghiệm hóa miễn dịch không xâm lấn bằng mẫu phân, độ nhạy của các xét nghiệm đó tương đối thấp khi phát hiện ung thư đại trực tràng giai đoạn I (dưới 50%) và polyp đại tràng (tỉ lệ phát hiện dưới 20% cho polyp lớn hơn 1 cm).

 Đột phá trong xét nghiệm sớm Ung thư Đại Trực Tràng tại GENLAB

GENLAB hiện là đơn vị đi đầu trong chuẩn đoán ung thư Đại trực tràng sớm bằng phương pháp Xét nghiệm Mythyl hóa DNA nhằm đưa tới kết quả chính xác trong thời gian sớm nhất.

Ung thư là những bệnh bắt nguồn từ các gen trong bộ gen của mỗi người. Trước đây, chúng ta chỉ quan tâm đến những biến đổi trên trình tự gen dẫn đến các bệnh, trong đó có ung thư. Trong những thập kỷ gần đây, vai trò của những biến đổi biểu sinh trong phát sinh ung thư đã đang thu hút được nhiều mối quan tâm của các nhà khoa học; những biến đổi này mang tiềm năng trở thành những dấu chuẩn để sàng lọc, chẩn đoán và tiên lượng bệnh ung thư.

Ưu điểm của dấu ấn sinh học methyl hóa DNA:

Sự methyl hóa DNA bất thường thường xuyên xảy ra từ giai đoạn rất sớm của bệnh ung thư (bắt đầu phát sinh ung thư nhưng chưa hình thành khối u) và rất đặc hiệu đối với các khối u rắn.

Sự methyl hóa DNA bất thường sẽ có xu hướng xảy ra tại các vị trí cụ thể ở tất cả các bệnh nhân mắc loại ung thư cụ thể.

Hơn nữa, sự methyl hóa DNA là sự thay đổi trên DNA với tính ổn định cao, vì thế phương pháp khuếch đại axit nucleic (PCR) có thể được sử dụng để khuếch đại một cách có chọn lọc DNA bị methyl hóa, giúp phát hiện trong dịch cơ thể, ngay cả trong ung thư giai đoạn sớm.

Dấu chuẩn methyl hóa DNA có thể thu được từ các loại mẫu không xâm lấn (như mẫu huyết tương, phân, …), đo đó thuận tiện cho bệnh nhân khi tham gia xét nghiệm, tăng tỉ lệ tham gia sàng lọc ung thư định kỳ.

 ƯU ĐIỂM XÉT NGHIỆM SỚM UNG THƯ PHỔI TẠI TẠI GENLAB

GENLAB sử dụng Kit EarlyTect Colon Cancer của hãng Genomictree (Hàn Quốc) là một xét nghiệm real-time PCR đo mức độ methyl hóa gen syndecan-2 (SDC2) để chẩn đoán sớm ung thư đại trực tràng, sử dụng mẫu huyết tương. Sự methyl hóa bất thường của dấu chuẩn sinh học syndecan-2 trong các mô ung thư đại trực tràng được ghi nhận với tỉ lệ hơn 95% bất kể giai đoạn và hiện tượng này không được quan sát thấy ở các mô đại trực tràng bình thường. Điều này chỉ ra rằng sự sự methyl hóa gen syndecan-2 có mối liên hệ đáng kể với tỷ lệ mắc bệnh đại trực tràng ác tính. Xét nghiệm này đã được chứng minh là có thể chẩn đoán ung thư đại trực tràng với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 90%, đặc biệt độ nhạy 89% đối với các giai đoạn sớm (0-II).

ƯU ĐIỂM :

XÉT NGHIỆM VÀ PHÁT HIỆN TỪ RẤT SỚM (chưa hình thành khối u) và rất đặc hiệu đối với các khối u rắn.

SỰ ỔN ĐỊNH CAO

LẤY MẪU ĐƠN GIẢN, không đau đớn (huyết tương)

CÓ THỂ XÉT NGHIỆM ĐỊNH KỲ

Xét Nghiệm Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Đại Trực Tràng Tại Bệnh Viện

Xét nghiệm phát hiện sớm bệnh ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện

1. Giới thiệu: Ung thư đại-trực tràng là loại ung thư xuất hiện và phát triển tại đại tràng và trực tràng. Đây bệnh lý ung thư đường tiêu hóa phổ biến, có tỷ lệ mắc cao thứ ba và tỷ lệ tử vong cao thứ tư trong các bệnh ung thư thường gặp trên thế giới. Năm 2016, ở Mỹ ước tính có trên 134.000 ca ung thư đại-trực tràng mới mắc và trên 49.000 ca tử vong do ung thư đại-trực tràng. Tại Việt Nam, theo thống kê của Globocan năm 2012, ung thư đại-trực tràng có tỷ lệ mới mắc đứng hàng thứ năm và tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ tư trong các bệnh ung thư. 

Các vị trí thường gặp của ung thư đại-trực tràng và tần suất tương ứng

2. Vai trò quan trọng của sàng lọc ung thư đại trực tràng: Sàng lọc là quá trình tìm kiếm phát hiện ung thư hoặc tiền ung thư khi người bệnh chưa có triệu chứng lâm sàng của bệnh. Sàng lọc thường xuyên ung thư đại-trực tràng là biện pháp quan trọng nhất trong chẩn đoán sớm và điều trị ung thư đại-trực tràng. Trong những năm gần đây đã có kỹ thuật phát hiện sớm các polyp ở đại-trực tràng trước khi chúng phát triển thành ung thư. Ngoài ra, việc sàng lọc thường xuyên cũng giúp phát hiện sớm ung thư đại-trực tràng khi khối u còn nhỏ, chưa xâm lấn, di căn, giúp việc điều trị sẽ dễ dàng hơn. Hiện nay tại Việt Nam chương trình sàng lọc ung thư đại-trực tràng cho cộng đồng còn chưa được thực hiện thường quy ở các địa phương nên việc phát hiện các khối u ở giai đoạn sớm còn hạn chế. Đa số bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn, bệnh đã tiến triển. – Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:      + Béo phì.      + Ít hoạt động thể lực.     + Chế độ ăn nhiều thịt đỏ (thịt bò, lợn, cừu) và thịt chế biến công nghiệp (xúc xích, thức ăn nhanh), thịt nấu ở nhiệt độ rất cao (rán, nướng).      + Hút thuốc.      + Uống nhiều rượu bia. – Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được:      + Tuổi cao: tuổi càng cao càng có nguy cơ bị ung thư đại-trực tràng, đặc biệt nguy cơ tăng cao rõ rệt ≥ 50 tuổi.      + Tiền sử bị polyp hoặc ung thư đại-trực tràng.      + Tiền sử bị viêm đại-trực tràng.      + Tiền sử gia đình bị ung thư (Ông bà, bố mẹ và anh chị em ruột có người bị ung thư). 4. Các phương pháp xét nghiệm phát hiện ung thư đại-trực tràng sớm: 4.1 Xét nghiệm máu ẩn trong phân (fecal occult blood test): Do các mạch máu của polyp hoặc khối u đại-trực tràng thường dễ bị tổn thương khi phân đi qua, gây chảy máu vi thể, máu dính vào phân, hiếm khi nhìn thấy bằng mắt thường. Đây là xét nghiệm đơn giản, dễ làm với chi phí thấp. Máu trong phân có thể do nhiều nguyên nhân như polyp, ung thư, viêm loét đại trực tràng, trĩ… Do đó nếu kết quả xét nghiệm dương tính cần nội soi đại-trực tràng ống mềm để kiểm tra thêm. 4.2 Xét nghiệm hóa miễn dịch phân (fecal immunochemical test): Phát hiện hemoglobin protein là thành phần trong hồng cầu của người. Xét nghiệm này còn chưa phổ biến tại Việt Nam. 4.3 Xét nghiệm DNA trong phân (stool DNA test): phát hiện các bất thường DNA do đột biến gen của các tế bào ung thư đại-trực tràng. Xét nghiệm này chưa được tiến hành tại Việt Nam.         5. Dự phòng ung thư đại-trực tràng: Các chuyên gia của Hội Ung thư Mỹ về sàng lọc ung thư đại-trực tràng khuyến cáo nên làm xét nghiệm sàng lọc ung thư đại-trực tràng như sau:      + Xét nghiệm tìm máu tiềm ẩn trong phân 01 lần/ năm.      + Nếu kết quả các xét nghiệm này dương tính cần nội soi đại tràng kiểm tra. – Đối với người có nguy cơ cao bị ung thư đại-trực tràng:     + Những người này nên bắt đầu sàng lọc sớm trước 50 tuổi và tiến hành thường xuyên hơn 02 lần/ năm và nếu kết quả các xét nghiệm này dương tính cần nội soi đại tràng kiểm tra lại.     + Điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt khoa học, hợp lý. 6. Các triệu chứng của ung thư đại – trực tràng: Ung thư đại-trực tràng giai đoạn sớm thường không có triệu chứng, do đó sàng lọc được khuyến cáo cho tất cả mọi người trên 50 tuổi.           Các triệu chứng của ung thư đại trực tràng bao gồm: – Sự thay đổi trong thói quen đại tiện như tiêu chảy, táo bón hoặc phân dẹt kéo dài trong một vài ngày. – Cảm giác buồn đi ngoài và đi ngoài không hết. – Đại tiện ra máu lẫn với phân, đại tiện phân màu đen. – Đau bụng quặn cơn, ậm ạch đầy hơi, bí trung tiện là các dấu hiệu của tắc ruột do u lớn làm bít tắc lòng đại tràng. – Chán ăn, khó tiêu, đầy trướng bụng trên vùng rốn, ăn không ngon. Tình trạng này kéo dài khiến cơ thể mệt mỏi, sút cân. – Rối loạn tiêu hóa, đi ngoài nhiều lần trong ngày. Phân có nhầy máu lẫn mùi. – Yếu, mệt mỏi thường xuyên. – Giảm cân không rõ nguyên nhân.             Hiện nay, tại Khoa Vi Sinh – Bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí đã triển khai xét nghiệm hồng cầu trong phân theo phương pháp xét nghiệm miễn dịch sắc ký để chẩn đoán xuất huyết đường tiêu hóa và sàng lọc ung thư đại trực tràng, cho kết quả chính xác, nhanh chóng.  Vì vậy, nếu bạn hoặc người thân trên 50 tuổi hoặc có nguy cơ cao bị ung thư đại-trực tràng, đừng bỏ qua việc đến khám tại Bệnh viện để được tư vấn về sàng lọc, chẩn đoán và điều trị ung thư đại-trực tràng sớm.

Viettel Nghệ An Miễn Phí 1000 Người Xét Nghiệm Phát Hiện Sớm Ung Thư Đại Trực Tràng

Theo nghiên cứu, xét nghiệm CEA sẽ giúp chỉ điểm sớm một số bệnh ung thư như ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày. Đây cũng là cơ sở để phát hiện bệnh ung thư trước khi có triệu chứng biểu hiện.

Các khách hàng đến tham gia chương trình xét nghiệm tầm soát miễn phí ung thư đại trực tràng của Viettel Nghệ An

Nhận thấy đây là một căn bệnh đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam trong thời gian gần đây, Viettel Nghệ An đã phối hợp cùng Trung tâm xét nghiệm Medlatec Nghệ An triển khai chương trình xét nghiệm miễn phí cho 1000 khách hàng với tổng chi phí lên tới gần 230 triệu đồng.

Hướng đến mục tiêu chăm sóc tốt hơn sức khỏe cộng đồng, Viettel Nghệ An đã tổ chức nhiều hoạt động từ thiện hết sức ý nghĩa như “Trái tim cho em”, “Tuổi già không cô đơn”, trao quà từ thiện cho các hoàn cảnh khó khăn… Và chương trình xét nghiệm CEA là một bước đi tiếp theo nằm trong chuỗi hoạt động chăm sóc khách hàng và quan tâm đến sức khỏe cộng đồng của Viettel Nghệ An.

Khách hàng nhận tư vấn từ đội ngũ tư vấn viên của Viettel Nghệ An trước khi xét nghiệm

Sau đó, khách hàng được các bác sĩ tại Trung tâm Xét nghiệm Medlatec Nghệ An tư vấn về xét nghiệm tầm soát rất nhiều các loại bệnh ung thư

Chương trình sẽ diễn ra từ ngày 28/05 đến ngày 12/06 hoặc có thể kết thúc sớm hơn nếu đã cán mốc 1000 suất xét nghiệm. Khách hàng đến với chương trình sẽ được tư vấn về xét nghiệm CEA và tác dụng của việc thường xuyên khám, xét nghiệm sàng lọc các dấu hiệu của ung thư.

Khách hàng được lấy máu xét nghiệm theo quy trình nghiêm ngặt, đảm bảo các tiêu chí về vệ sinh dịch tễ

Chị Hoàng Thị Hoa, một khách hàng đến tham gia xét nghiệm khá sớm tại Trung tâm Xét nghiệm Medlatec Nghệ An cho biết: “Thực ra việc chăm sóc, khám, xét nghiệm để kiểm tra sức khỏe thường xuyên là rất cần thiết. Nhưng vì nhiều lí do nên tôi cũng chưa làm được. May nhờ có chương trình ý nghĩa của Viettel Nghệ An mà tôi được khám, xét nghiệm miễn phí. Mong là có thêm nhiều suất nữa để nhiều người được xét nghiệm hơn”.

Rối loạn tiêu hóa, đau bụng, ợ chua, táo bón, chán ăn, mệt mỏi, giảm cân,…

Có tiền sử gia đình, người thân bị ung thư tiêu hóa

Có tiền sử bệnh polyp đại trực tràng, ung thư đại trực tràng, ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung

Mắc bệnh viêm loét đại tràng vô căn, bệnh Crohn

Có tiền sử bị chiếu xạ vùng bụng, vùng chậu để điều trị ung thư

Có người thân bị bệnh đa polyp đại tràng…

Hãy nhanh tay truy cập vào ứng dụng My Viettel để nhận ưu đãi miễn phí và đến thực hiện xét nghiệm trực tiếp tại địa chỉ:

TT Xét nghiệm Medlatec Nghệ An, số 91 đường Hoàng Thị Loan, TP Vinh, Nghệ An.

Riêng ngày 06/06/2020: tổ chức tại Phòng Khám Phúc Nguyên Đường, Quốc lộ 7A, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, Nghệ An.

Để nhận ưu đãi Xét nghiệm miễn phí khách hàng chỉ cần cài đặt/truy cập ứng dụng My Viettel: https://myvt.page.link/vtplus

Mọi chi tiết xin liên hệ đường dây nóng: 0987.621.789 hoặc 0974.168.168

Các Xét Nghiệm Dùng Trong Tầm Soát Ung Thư Đại Trực Tràng

Các xét nghiệm tầm soát ung thư đại trực tràng

BS. Đường Hùng Mạnh Cập nhật lần cuối vào tháng 11/2018

Phần lớn ung thư đại trực tràng hình thành từ các bướu tuyến ở đại trực tràng. Phần lớn bướu tuyến ở đại trực tràng có dạng polyp. Diễn biến tự nhiên thường khởi nguồn từ một polyp nhỏ (< 8 mm), phát triển thành polyp lớn (≥ 8 mm), xảy ra quá trình loạn sản, và cuối cùng là hình thành ung thư biểu mô (carcinoma). Quá trình này ở người bình thường cần tối thiểu khoảng 10 năm. Tầm soát có thể giúp phát hiện và cắt bỏ polyp trước khi ung thư hình thành.[4],[16]

Các xét nghiệm dùng trong tầm soát ung thư đại trực tràng hiện nay đều là các xét nghiệm dựa trên mẫu phân được thu thập của người tham gia tầm soát. Các xét nghiệm máu tìm dấu ấn sinh học (marker ung thư) như CEA, CA 19.9… không đem lại lợi ích và không được chấp thuận trong tầm soát ung thư đại trực tràng.

Các phương tiện hình ảnh học trong tầm soát xin xem bài: Các phương tiện hình ảnh học tầm soát ung thư đại trực tràng

Để biết về các khuyến cáo tầm soát xin xem bài: Tầm soát ung thư đại trực tràng

Các yếu tố nguy cơ xin xem bài: Các yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng

Xét nghiệm Guaiac tìm máu ẩn trong phân (gFOBT)

Xét nghiệm Guaiac xác định hemoglobin trong phân dựa trên phản ứng peroxidase. Nếu có máu trong phân, ion sắt (Fe) trong hemoglobin sẽ đóng vai trò xúc tác tương tự như enzyme peroxidase, lấy oxy từ peroxide (H2O2) và oxy hóa chất màu guaiac. Phản ứng này sẽ khiến cho mảnh giấy tẩm guaiac chuyển sang màu xanh.

Hiện tại trên thị trường có nhiều loại thuốc thử guaiac khác nhau, các loại thuốc thử được chấp nhận trong tầm soát bao gồm: Hemoccult-SENSA (độ nhạy 64 – 80%), Hemoccult-II (độ nhạy 25 – 38%) và Hemoccult-R.

Hiệu quả của xét nghiệm gFOBT

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để chứng minh hiệu quả tầm soát của gFOBT. Thử nghiệm lâm sàng trên 46,551 tình nguyện viên tuổi từ 50 – 80 sống tại tiểu bang Minnesota – Hoa Kỳ và theo dõi trong 30 năm cho thấy tầm soát bằng gFOBT làm giảm tử vong do ung thư đại trực tràng. Tầm soát với chu kỳ mỗi năm làm giảm nguy cơ tương đối tử vong do ung thư đại trực tràng còn 68% (95% CI 0.56-0.82), tầm soát với chu kỳ mỗi 2 năm làm giảm nguy cơ tương đối tử vong do ung thư đại trực tràng còn 78% (95% CI 0.65-0.93) so với không tầm soát. Một phân tích tổng hợp do Lin và cộng sự thực hiện đã chứng minh tầm soát với gFOBT làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư đại trực tràng so với không tầm soát tại thời điểm 20 năm (nguy cơ tương đối = 0.91) và tại thời điểm 30 năm (nguy cơ tương đối = 0.78).[8],[13]

Quy trình lấy mẫu phân

Chế độ ăn nghiêm ngặt trước khi thực hiện xét nghiệm là không cần thiết. Pignone và cộng sự đã thực hiện một phân tích tổng hợp và chứng minh rằng các chế độ ăn kiêng không ảnh hưởng đến tỉ lệ xét nghiệm dương tính nhưng có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ tầm soát. Bổ sung sắt đường uống cũng được chứng minh không làm tăng tăng tỷ lệ dương tính giả, do đó không cần hạn chế sắt trong thời gian lấy mẫu xét nghiệm. Tuy nhiên, sử dụng liều cao vitamin C có thể gây ra âm tính giả, do đó nên giới hạn vitamin C < 250 mg/ ngày trong tối thiểu 3 ngày trước khi lấy mẫu phân. Tuy nhiên một số chuyên gia như Mayo Clinic vẫn khuyến cáo nên tránh sử dụng các thực vật họ cải, thịt đỏ, vitamin C và thuốc giảm đau như aspirin và ibuprofen trước khi thực hiện xét nghiệm 3 ngày.[1],[6],[9],[11]

Để có kết quả chính xác, các mẫu phân cần được lấy nhiều lần từ phân được thải ra thông qua sự đại tiện của bệnh nhân (nhờ chuyển động ruột). Mẫu phân được lấy tại nhà qua 3 lần đại tiện trong 3 ngày liên tiếp. Mỗi lần, người tham gia tầm soát sẽ sử dụng 1 dụng cụ để lấy 2 mẫu phân và phết lên 2 vị trí khác nhau trên 1 tấm thẻ được thiết kế sẵn. Sau đó tấm thẻ này sẽ được gửi về cho bác sỹ hoặc phòng xét nghiệm. Tại dây mẫu phân sẽ được nhỏ thuốc thử guaiac có chứa H2O2 để đánh giá sự đổi màu guaiac. Tổng cộng có 6 mẫu phân sẽ được thử phản ứng này.[9]

Lấy mẫu phân 1 lần thông qua khám hậu môn trực tràng sẽ thuận tiện hơn cho bệnh nhân và bác sỹ. Tuy nhiên các nghiên cứu đã chứng minh lấy mẫu phân 1 lần không đủ độ nhạy để phát hiện tổn thương. Ngoài ra quá trình thăm khám có thể dẫn đến những tổn thương vi thể trên thành trực tràng và gây ra dương tính giả. Theo Collins và cộng sự , độ nhạy phát hiện tổn thương tân sinh tiến triển ở đại trực tràng nếu lấy 6 mẫu phân là 23.9% trong khi lấy mẫu 1 lần tại phòng khám chỉ đạt độ nhạy là 4.9%.[3]

Thuận lợi và khó khăn của gFOBT

Thuận lợi

Xét nghiệm dễ thực hiện, nhân viên y tế có thể thực hiện dễ dàng mà không cần huấn luyện trước

Không cần chuẩn bị ruột

Không xâm lấn

Hiệu quả đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng

Khó khăn

Bướu tuyến thường không chảy máu, do đó gFOBT có thể không phát hiện được. Độ nhạy của gFOBT đối với bướu tuyến tiến triển thấp hơn đáng kể so với ung thư.

Một lượng lớn bệnh nhân bị dương tính giả.

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân (FIT)

FIT là xét nghiệm có độ đặc hiệu cao, dựa trên phản ứng kháng nguyên – kháng thể để tìm globin người nằm trong hemoglobin. Nhờ đó giảm được tỉ lệ dương tính giả do máu từ dạ dày và ruột non (globin trong máu đã được tiêu hóa trong quá trình vận chuyển) và dương tính giả do hoạt tính peroxidase trong thức ăn (do FIT không dựa trên phản ứng peroxidase).

Hiệu quả của FIT

FIT có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với gFOBT. Theo Robertson và cộng sự, trong dân số có nguy cơ bình thường, FIT có độ nhạy khoảng 80% với mục đích phát hiện ung thư đại trực tràng và 20 – 30% với mục đích phát hiện tân sinh tiến triển. Theo Lee và cộng sự, độ nhạy của FIT với mục đích phát hiện ung thư đại trực tràng là 94% và độc đặc hiệu là 79%.[7],[12]

US Multi-Society Task Force khuyến cáo nên sử dụng FIT thay cho gFOBT trong tầm soát ung thư đại trực tràng. Chu kỳ tầm soát bằng FIT thường là 1 năm. Tuy nhiên theo Van và cộng sự, khoảng thời gian giữa các lần sàng lọc có thể được điều chỉnh theo nguồn lực địa phương. Nghiên cứu trên 7501 người Hà Lan tuổi từ 50 – 74, Van đã chứng minh tổng số trường hợp tân sinh tiến triển được phát hiện không thay đổi với chu kỳ tầm soát dao động từ 1 – 3 năm.[12],[14]

Quy trình thực hiện

Người tham gia tầm soát cần gửi mẫu phân về phòng xét nghiệm trong vòng 24h sau khi lấy mẫu. Nếu thời gian gửi bị chậm trễ, mẫu phân cần được làm lạnh. Độ nhạy của FIT giảm nếu mẫu phân sau khi lấy được gửi đến phòng xét nghiệm trễ hoặc tiếp xúc với nhiệt độ cao xung quanh. Trong nghiên cứu của Van và cộng sự, so với không chậm trễ gửi mẫu, việc gửi mẫu trễ hơn 5 ngày sau khi lấy sẽ làm giảm tỉ lệ phát hiện bướu tuyến (Tỉ số chênh [OR] = 0.6).[15]

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân không yêu cầu bất kỳ chế độ ăn uống kiêng cữ nào. Mẫu phân được lấy 1 lần duy nhất tại nhà. Quá trình lấy mẫu sẽ tùy thuộc theo từng bộ kit xét nghiệm. Tuy nhiên về cơ bản thường có một dụng cụ dạng muỗng để lấy phân, sau đó phân sẽ được cất giữ trong bộ đựng kèm theo và gửi về phòng xét nghiệm.[9]

Thuận lợi và khó khăn của FIT

Thuận lợi

Yêu cầu lấy ít mẫu phân hơn so với gFOBT

Có thể được phân tích tự động

Không yêu cầu hạn chế ăn uống trước khi xét nghiệm

Độ đặc hiệu cao hơn gFOBT

Khó khăn

Giá thành cao hơn so với gFOBT

FIT dương tính cần phải theo dõi thêm bằng nội soi đại trực tràng

Xét nghiệm tìm DNA trong phân

Các đột biến gen và thay đổi biểu sinh gây ra quá trình sinh ung có thể được xác định thông qua DNA của các tế bào tân sinh ở đại trực tràng được tìm thấy trong phân. Cologuard là xét nghiệm DNA thế hệ mới (MT-sDNA, FIT-DNA) kết hợp 3 loại xét nghiệm tìm đột biến DNA trong phân, dấu ấn methyl hóa sử dụng kỹ thuật khuyếch đại gene và xét nghiệm FIT. Năm 2016 US Preventive Services Task Force đã đưa xét nghiệm tìm DNA trong phân vào hướng dẫn tầm soát ung thư đại trực tràng.

Hiệu quả của xét nghiệm tìm DNA trong phân

Imperiale và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu so sánh xét nghiệm DNA và FIT trên 9989 người có nguy cơ bình thường. Kết quả cho thấy độ nhạy phát hiện ung thư đại trực tràng của Cologuard là 92.3% so với độ nhạy của FIT là 73.8%. Độ nhạy phát hiện các tổn thương tiền ung của xét nghiệm DNA là 42.4% so với FIT là 23.8%. Tuy nhiên độ đặc hiệu của xét nghiệm DNA thấp hơn FIT (lần lượt là 86.6% và 94.9%).[5]

Quy trình thực hiện

Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân không yêu cầu bất kỳ chế độ ăn đặc biệt nào. Bộ kit lấy mẫu thường bao gồm 1 bộ đựng và một dung dịch bảo quản để cho vào mẫu phân trước khi đưa vào bộ đựng. Người tham gia tầm soát sẽ lấy một mẫu phân tại nhà và cho vào bộ kit đã được chuẩn bị sẵn rồi gửi trở lại cho bác sỹ hoặc phòng xét nghiệm.[10]

Centers for Medicare and Medicaid Services khuyến cáo tầm soát bằng xét nghiệm Cologuard mỗi 3 năm cho các đối tượng thỏa các điều kiện sau:[2]

Tuổi từ 50 – 84

Không có dấu hiệu hay triệu chứng của bệnh lý đại trực tràng

Nguy cơ ung thư đại trực tràng ở mức bình thường

Thuận lợi và khó khăn của xét nghiệm tìm DNA trong phân

Thuận lợi

Xét nghiệm tìm DNA trong phân có chu kỳ tầm soát mỗi 3 năm, thuận tiện hơn so với chu kỳ mỗi năm của các xét nghiệm phân khác.

Có thể đạt được hiệu quả về chi phí tốt hơn so với FIT nếu số người tham gia tầm soát lớn.

Khó khăn

Khoảng 10% bệnh nhân có kết quả xét nghiệm DNA dương tính nhưng nội soi không phát hiện bất thường (dương tính giả).

Chi phí còn cao so với các xét nghiệm phân khác

Tài liệu tham khảo

Anderson G. D., Yuellig T. R., Krone R. E., Jr. (1990), “An investigation into the effects of oral iron supplementation on in vivo Hemoccult stool testing”. Am J Gastroenterol, 85 (5), pp. 558-61.

Centers for Medicare & Medicaid Services. Decision Memo for Screening for Colorectal Cancer – Stool DNA Testing. 2018 [cited 2018 4/4]; Available from: https://www.cms.gov/medicare-coverage-database/details/nca-decision-memo.aspx?NCAId=277.

Collins J. F., Lieberman D. A., Durbin T. E., Weiss D. G. (2005), “Accuracy of screening for fecal occult blood on a single stool sample obtained by digital rectal examination: a comparison with recommended sampling practice”. Ann Intern Med, 142 (2), pp. 81-5.

Fearon E. R., Vogelstein B. (1990), “A genetic model for colorectal tumorigenesis”. Cell, 61 (5), pp. 759-67.

Imperiale T. F., Ransohoff D. F., Itzkowitz S. H., Levin T. R., Lavin P., et al. (2014), “Multitarget stool DNA testing for colorectal-cancer screening”. N Engl J Med, 370 (14), pp. 1287-97.

Jaffe R. M., Kasten B., Young D. S., MacLowry J. D. (1975), “False-negative stool occult blood tests caused by ingestion of ascorbic acid (vitamin C)”. Ann Intern Med, 83 (6), pp. 824-6.

Lee J. K., Liles E. G., Bent S., Levin T. R., Corley D. A. (2014), “Accuracy of fecal immunochemical tests for colorectal cancer: systematic review and meta-analysis”. Ann Intern Med, 160 (3), pp. 171.

Lin J. S., Piper M. A., Perdue L. A., Rutter C. M., Webber E. M., et al. (2016), “Screening for Colorectal Cancer: Updated Evidence Report and Systematic Review for the US Preventive Services Task Force”. Jama, 315 (23), pp. 2576-94.

Mayo Foundation for Medical Education and Research Fecal occult blood test. 2018 [cited 2018 04/04]; Available from: https://www.mayoclinic.org/tests-procedures/fecal-occult-blood-test/about/pac-20394112.

Mayo Foundation for Medical Education and Research. Stool DNA test. 2018 [cited 2018 4/4]; Available from: https://www.mayoclinic.org/tests-procedures/stool-dna-test/about/pac-20385153.

Pignone M., Campbell M. K., Carr C., Phillips C. (2001), “Meta-analysis of dietary restriction during fecal occult blood testing”. Eff Clin Pract, 4 (4), pp. 150-6.

Robertson D. J., Lee J. K., Boland C. R., Dominitz J. A., Giardiello F. M., et al. (2017), “Recommendations on fecal immunochemical testing to screen for colorectal neoplasia: a consensus statement by the US Multi-Society Task Force on colorectal cancer”. Gastrointest Endosc, 85 (1), pp. 2-21.e3.

Shaukat A., Mongin S. J., Geisser M. S., Lederle F. A., Bond J. H., et al. (2013), “Long-term mortality after screening for colorectal cancer”. N Engl J Med, 369 (12), pp. 1106-14.

van Roon A. H., Goede S. L., van Ballegooijen M., van Vuuren A. J., Looman C. W., et al. (2013), “Random comparison of repeated faecal immunochemical testing at different intervals for population-based colorectal cancer screening”. Gut, 62 (3), pp. 409-15.

van Rossum L. G., van Rijn A. F., van Oijen M. G., Fockens P., Laheij R. J., et al. (2009), “False negative fecal occult blood tests due to delayed sample return in colorectal cancer screening”. Int J Cancer, 125 (4), pp. 746-50.

Winawer S. J., Fletcher R. H., Miller L., Godlee F., Stolar M. H., et al. (1997), “Colorectal cancer screening: clinical guidelines and rationale”. Gastroenterology, 112 (2), pp. 594-642.