Top 9 # Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Đại Tràng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Brandsquatet.com

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Đại Tràng

Nếu bạn thừa cân hoặc béo phì sẽ có nguy cơ phát triển và tử vong do ung thư đại trực tràng sẽ cao hơn những người có cân nặng bình thường. Thừa cân (đặc biệt là có vòng eo lớn hơn) làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng và trực tràng ở cả nam và nữ, nhưng mối liên kết dường như mạnh hơn ở nam giới.

Nếu bạn không hoạt động thể chất, bạn có nhiều khả năng bị ung thư ruột kết. Do đó, tập thể dục hoặc hoạt động thể chất tích cực hơn có thể giúp giảm nguy cơ của bạn.

Chế độ ăn nhiều thịt đỏ (như thịt bò, thịt lợn, thịt cừu hoặc gan) và các loại thịt chế biến sẵn (như xúc xích và một số loại thịt hộp) làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

Nấu thịt ở nhiệt độ rất cao (chiên, nướng hoặc quay) sẽ tạo ra các hóa chất có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra liệu yếu tố này có thể làm tăng bao nhiêu nguy cơ ung thư đại trực tràng. Và liệu các thành phần chế độ ăn uống khác (ví dụ, một số loại chất béo) có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư đại trực tràng hay không.

Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên theo tuổi. Những người trẻ hơn cũng có thể mắc bệnh này, nhưng ung thư đại trực tràng phổ biến hơn nhiều sau 50 tuổi.

Có polyp đại trực tràng hoặc ung thư đại trực tràng

Nếu có tiền sử mắc polyps tuyến (Adenomatous polyps) thì bạn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn có polyp với số lượng nhiều hoặc kích thước lớn hoặc nếu bất kỳ trong số chúng có loạn sản.

Nếu bạn đã bị ung thư đại trực tràng, mặc dù ung thư đã được loại bỏ hoàn toàn thì bạn vẫn có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư mới ở các phần khác của đại tràng và trực tràng. Khả năng này xảy ra sẽ lớn hơn nếu bạn bị ung thư đại trực tràng khi còn trẻ tuổi.

Tiền sử bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease)

Nếu bạn bị bệnh viêm ruột (IBD), bao gồm cả viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn, nguy cơ ung thư đại trực tràng của bạn sẽ tăng lên.

IBD là tình trạng đại tràng bị viêm trong một thời gian dài. Những người đã bị IBD trong nhiều năm, đặc biệt là nếu không được điều trị, thường phát triển thành chứng loạn sản. Chứng loạn sản là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các tế bào trong niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng bất thường, nhưng không phải là tế bào ung thư thực sự. Tuy nhiên, theo thời gian, các tế bào này có thể thay đổi thành ung thư thực sự.

Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến

Hầu hết các bệnh ung thư đại trực tràng được tìm thấy ở những người không có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, gần 1 trong 3 người bị ung thư đại trực tràng có các thành viên khác trong gia đình đã mắc bệnh này.

Những người có tiền sử ung thư đại trực tràng ở người thân trực hệ (cha mẹ, anh chị em hoặc con cái) có nguy cơ cao hơn. Nguy cơ thậm chí còn cao hơn nếu người thân đó được chẩn đoán mắc bệnh ung thư khi họ dưới 45 tuổi hoặc nếu có nhiều hơn một người thân độ một bị mắc bệnh này.

Nguyên nhân cho sự gia tăng nguy cơ không rõ ràng trong mọi trường hợp. Ung thư có thể di truyền trong gia đình vì các gen được di truyền, sống chung trong một môi trường hoặc một số trường hợp là sự kết hợp giữa các yếu tố nguy cơ lại với nhau.

Khoảng 5% những người bị ung thư đại trực tràng đã di truyền những thay đổi gen (đột biến) gây ra hội chứng ung thư gia đình cho thế hệ sau và có thể khiến con cái họ mắc bệnh.

Hội chứng Lynch là hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền phổ biến nhất. Nó chiếm khoảng 2% đến 4% trong tất cả các loại ung thư đại trực tràng. Trong hầu hết các trường hợp, rối loạn này là do khiếm khuyết di truyền ở gen MLH1 hoặc MSH2, nhưng những thay đổi ở các gen khác cũng có thể gây ra hội chứng Lynch.

Hội chứng polyp gia đình (Familial adenomatous Polyposis – FAP)

Nguyên nhân của FAP là do những thay đổi (đột biến) trong gen APC mà một người được thừa hưởng từ cha mẹ của mình. Khoảng 1% của tất cả các bệnh ung thư đại trực tràng là do FAP.

Trong loại FAP phổ biến nhất thường bắt đầu từ 10 đến 12 tuổi, người bệnh sẽ có hàng trăm hoặc hàng ngàn polyp phát triển trong đại tràng và trực tràng. Ung thư thường phát triển ở 1 hoặc nhiều polyp này ngay từ tuổi 20. Đến 40 tuổi, hầu hết những người mắc FAP sẽ bị ung thư đại tràng trừ khi đại tràng của họ đã bị cắt bỏ để ngăn chặn ung thư. Những người mắc FAP cũng tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày, ruột non, tuyến tụy, gan và một số cơ quan khác.

Hội chứng Peutz-Jeghers (PJS): Những người mắc bệnh di truyền này có xu hướng bị tàn nhang quanh miệng (và đôi khi trên tay và chân) và một loại polyp đặc biệt gọi là hamartomas trong đường tiêu hóa của họ. Những người này có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao hơn nhiều, cũng như các bệnh ung thư khác và họ thường được chẩn đoán ở độ tuổi trẻ hơn so với tuổi bình thường. Hội chứng này do đột biến gen STK11 (LKB1).

Bị tiểu đường type 2

Những người mắc bệnh tiểu đường type 2 có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Cả bệnh tiểu đường type 2 và ung thư đại trực tràng đều có một số yếu tố nguy cơ chung như như thừa cân và không hoạt động thể chất. Nhưng ngay cả sau khi tính đến các yếu tố này, những người mắc bệnh tiểu đường type 2 vẫn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng gia tăng hơn so với những người không mắc bệnh tiểu đường. Ngoài ra, những đối tượng này thường có xu hướng tiên lượng xấu hơn sau khi được chẩn đoán ung thư.

Khám sàng lọc ung thư đường tiêu hoá là biện pháp khoa học và hiệu quả để phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa (ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng) và đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất. Hiện tại, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có Gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa (thực quản – dạ dày – đại tràng) kết hợp khám lâm sàng và cận lâm sàng để đem lại kết quả chính xác nhất có thể.

Khi sàng lọc ung thư đường tiêu hóa tại Vinmec, Quý khách sẽ được:

Khám Chuyên khoa Nội tiêu hóa với bác sĩ chuyên khoa ung bướu (có hẹn).

Nội soi dạ dày và nội soi đại tràng với máy nội soi NBI có gây mê.

Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (bằng máy đếm laser).

Xét nghiệm thời gian prothrombin bằng máy tự động.

Xét nghiệm thời gian thrombin bằng máy tự động.

Xét nghiệm thời gian thromboplastin một phần hoạt hoá (APTT: Activated Partial Thromboplastin Time) bằng máy tự động.

Siêu âm ổ bụng tổng quát

Để đăng ký sàng lọc và điều trị các bệnh lý đường tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

Các Yếu Tố Nguy Cơ Ung Thư Đại Tràng

– Tuổi: 90% các trường hợp ung thư ruột già xảy ra ở người 50 tuổi trở lên.

– Di truyền:

25% số người bị ung thư ruột già có người thân trong gia đình cũng bị ung thư ruột già. Như vậy, trong nhiều trường hợp, tính di truyền của loại ung thư này rất mạnh. Khi đi khám bệnh, nếu người thân trong gia đình bị ung thư ruột già, bạn nhớ cho bác sĩ biết.

– Người đã từng bị ung thư ruột già thì dễ bị ung thư ruột già lần nữa. Người có bướu thịt (polyp) trong ruột già dễ bị ung thư ruột già hơn người khác.

– Thực phẩm:

Tuy nguyên nhân gây ung thư ruột già chưa được biết rõ, nhưng có lẽ ung thư ruột già là bệnh của những người thích ăn thịt.

Người ta thấy ung thư ruột già xảy ra thường hơn ở người thuộc tầng lớp khá, sinh sống nơi phồn hoa đô hội. Những khảo cứu làm tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới cho thấy càng ăn nhiều chất đạm từ thịt, càng tiêu thụ nhiều dầu mỡ, càng dễ tử vong vì ung thư ruột già.

Di dân từ những nơi ít có ung thư ruột già, khi đến một quốc gia mới có thói quen ăn thịt, cũng sẽ dễ bị ung thư ruột già giống như người bản xứ ở quốc gia mới đến cư ngụ. Người theo đạo Mormons ít ăn thịt ít bị ung thư ruột già hơn những ông bà bạn hàng xóm của họ không theo đạo Mormons, ăn thịt nhiều hơn; và người Nhật Bản, trước ít có ung thư ruột già, bây giờ nhiều hơn, vì nay họ có thói quen ăn uống giống với người phương Tây.

– Bệnh viêm ruột:

Nhiều người không may bị bệnh viêm, cứ hay đi đại tiện ra máu, đau bụng, lâu lâu lại tắc ruột. Sau 25 năm mang bệnh với các triệu chứng tái phát như vậy, triển vọng bị ung thư ruột già rất cao (8-30%).

– Thuốc lá: hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư ruột già.

– Thiếu vận động: đời sống thiếu vận động cũng khiến ung thư ruột già dễ xảy ra.

Ngược lại, theo vài khảo cứu, canxi (ít nhất 1000 mg/ngày, từ thực phẩm hoặc thuốc uống) có thể giúp giảm nguy cơ ung thư ruột già, thuốc aspirin và các thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, napoxen, … cũng vậy.

Theo chúng tôi

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Máu

Bệnh ung thư máu hay còn gọi là ung thư bạch cầu xảy ra khi một số tế bào máu phát triển đột biến trong ADN hoặc các thay đổi khác trong tế bào. Điều này khiến các tế bào phát triển và phân chia nhanh hơn, xâm lấn tới các tế bào máu khỏe mạnh trong tủy xương, làm giảm các tế bào máu khỏe mạnh. Khi hồng cầu bị phá hủy thì người bệnh sẽ có dấu hiệu thiếu máu. Nếu không tiến hành chữa trị kịp thời có thể tử vong trong thời gian ngắn. 1. Bệnh ung thư máu (Bệnh bạch cầu)

Bệnh bạch cầu là một bệnh ung thư của các tế bào máu. Có một số loại tế bào máu rộng, bao gồm hồng cầu (hồng cầu), bạch cầu (WBC) và tiểu cầu. Nói chung, bệnh bạch cầu đề cập đến bệnh ung thư của WBC.

Bạch cầu (WBC) là một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch của bạn. Chúng bảo vệ cơ thể bạn khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn, vi rút và nấm, cũng như từ các tế bào bất thường và các chất lạ khác. Trong bệnh bạch cầu, các WBC không có chức năng như các WBC bình thường. Họ cũng có thể phân chia quá nhanh và cuối cùng lấn át các tế bào bình thường.

Bạch cầu (WBC) chủ yếu được sản xuất trong tủy xương, nhưng một số loại WBC cũng được tạo ra trong các hạch bạch huyết, lá lách và tuyến ức. Sau khi hình thành, WBC lưu thông khắp cơ thể trong máu và bạch huyết của bạn (chất lỏng lưu thông qua hệ bạch huyết), tập trung ở các hạch bạch huyết và lá lách.

2. Nguyên nhân gây ung thư máu

Các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm ra nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư máu. Gen di truyền và các yếu tố môi trường được cho là nguy cơ chính tạo cơ hội làm bệnh phát triển và bùng phát.

Nhìn chung, bệnh ung thư máu xảy ra đột biến gen ADN ở một vài tế bào máu. ADN là cấu trúc bên trong mỗi tế bào máu có chức năng điều khiển hoạt động của tế bào. Có một số các thay đổi khác trong tế bào chưa giải thích được cũng có thể là nguyên nhân làm tăng nguy cơ bị ung thư máu.

Một số nguyên nhân bất thường nhất định làm các tế bào máu phát triển, phân chia nhanh hơn và có thời gian sống dài hơn các tế bào khỏe mạnh khác. Các tế bào ung thư sẽ phát triển lấn át các tế bào lành tại tủy xương, kết quả làm giảm số lượng các tế bào lành, hồng cầu và tiểu cầu làm xuất hiện các triệu chứng bệnh.

Tuy nhiên nghiên cứu đã làm rõ được 5 yếu tố làm tăng nguy cơ gây ung thư máu thường gặp như sau:

Tiền sử gia đình mắc bệnh bạch cầu

Điều trị ung thư trước đây, những người đã sử dụng một số loại hóa trị và xạ trị cho các bệnh ung thư khác có nguy cơ mắc một số loại bệnh bạch cầu.

Những điều kiện này được gọi là hội chứng ung thư gia đình hoặc hội chứng ung thư di truyền (di truyền). Hầu hết các hội chứng ung thư gia đình là hiếm. Hội chứng ung thư gia đình có thể dẫn đến bệnh bạch cầu ở cả trẻ em và người lớn: Hội chứng Down, thiếu máu Fanconi, hội chứng Bloom.

Hút thuốc

Hút thuốc lá ai cũng biết là nguyên nhân chính gây nên ung thư phổi và ung thư dạ dày, tuy nhiên ít người biết hút thuốc cũng là nguyên nhân ung thư máu do:

Hút thuốc lá là một nguyên nhân ung thư máu do làm biến đổi ADN tế bào

Hóa chất từ khói thuốc, đặc biệt nicotine có thể làm thay đổi cấu trúc AND của tế bào dẫn tới đột biến gây ung thư.

Hệ miễn dịch của cơ thể cũng bị suy yếu khi chịu ảnh hưởng bởi các chất độc từ khói thuốc, do đó khi có các tế bào đột biến trong cơ thể thì hệ miễn dịch cũng khó chống chọi lại dẫn tới ung thư.

Trẻ em có cha mẹ hút thuốc có nguy cơ ung thư máu cao. Theo nghiên cứu, trong thai kì, mỗi ngày mẹ hút 5 điếu thuốc sẽ dẫn đến 22% đột biến gen và thời kì cho con bú tỉ lệ này là 74%.

Xạ trị và hóa trị trước đây

Có những trường hợp bệnh nhân sau điều trị hóa trị, xạ trị để điều trị một bệnh ung thư khác, một thời gian sau lại phát hiện mắc ung thư máu. Do vài loại hóa chất trị liệu hay tia xạ cũng gây tác dụng phụ làm đột biến tế bào dẫn tới ung thư máu. Tuy nhiên đây là tác dụng phụ hiếm gặp và không phải loại thuốc hóa trị hay chất phóng xạ trị liệu nào cũng gây ra, bác sĩ sẽ giải thích tác dụng phụ của trên từng trường hợp, vì thế người bệnh không nên lo lắng khi điều trị hóa xạ trị.

Ung thư máu do tiếp xúc nhiều hóa chất

Các hóa chất như benzene, formaldehyde nếu thường xuyên phải tiếp xúc thì nguy cơ ung thư máu càng cao.

Benzene làm thay đổi nhiễm sắc thể dẫn đến đột biến gây ung thư, đã được chứng minh trong các nghiên cứu. Các ngành công nghiệp thường sử dụng hóa chất này là: cao su, xăng, nhà máy lọc dầu và sản xuất giày,…

Formaldehyde hay còn được biết tới với cái tên formol (phooc-môn) là một loại khí không màu, có mùi mạnh đã được nghiên cứu cho thấy những người phơi nhiễm mức độ cao nhất có nguy cơ mắc ung thư máu cao hơn 37%. Chất này được sử dụng để sản xuất nhiều sản phẩm gia dụng, chế tạo vật liệu xây dựng, chất kết dính, keo, sơn giấy và ở Việt Nam còn được phát hiện thêm phụ gia trái phép vào phở.

Quý khách có nhu cầu tư vấn khám chữa bệnh và tầm soát ung thư tại Nhật Bản vui lòng liên hệ:

Công ty TNHH cầu nối sức khỏe Việt Nhật (JVHB)

Địa chỉ: Tầng 10, Tòa nhà Sông Hồng, 2 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Điện thoại: 035.222.3388 hoặc 088.865.8118

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Não

Hầu hết các yếu tố nguy cơ thường ảnh hưởng đến sự phát triển của khối ung thư não chứ không trực tiếp gây ra khối ung thư này. Những yếu tố nguy cơ gây bệnh ở mỗi người là khác nhau, có thể yếu tố nguy cơ xuất hiện ở người này nhưng không xuất hiện ở người khác. Xác định đúng yếu tố nguy cơ ung thư não sẽ giúp cho bác sĩ chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh hiệu quả.

1. Bệnh ung thư não

Khối ung thư não có thể là một tập hợp hoặc khối lượng các tế bào bất thường trong não. Bất kỳ sự tăng trưởng bên trong não mà không được kiểm soát có thể gây ra các vấn đề cho não.

Các khối ung thư não có thể là ung thư (ác tính) và không ung thư (lành tính). Khi khối u lành tính hoặc ác tính phát triển chúng sẽ gây ra áp lực lên hộp sọ – là bộ phận bao quanh bộ não và có cấu trúc cứng, chắc. Khi đó, não có thể bị tổn thương và thậm chí đe dọa đến tính mạng.

Khối ung thư não có thể được phân loại thành nguyên phát và thứ phát.

Khối ung thư não nguyên phát được bắt nguồn từ não. Các khối ung thư này có thể phát triển từ: tế bào não, các màng bao quanh não, tế bào thần kinh, các tuyến. Khối ung thư não nguyên phát có thể lành tính hoặc ung thư. Loại u não phổ biến ở người lớn là u thần kinh đệm và u màng não.

Khối ung thư não thứ phát hay còn được gọi là khối u não di căn. Nó xảy ra khi các tế bào ung thư lan đến não từ một cơ quan khác trong cơ thể chẳng hạn như phổi hoặc vú. Một số ung thư não thứ phát: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư thận, ung thư da. Khối ung thư não thứ phát thường là ung thư ác tính.

2. Các yếu tố nguy cơ ung thư não

Tầm soát ung thư: Phương pháp phát hiện sớm bệnh, giảm chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong do ung thư

XEM THÊM:

U nguyên bào thần kinh đệm: Những điều cần biết

Ung thư não: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

U não: Những điều cần biết