Xem Nhiều 2/2023 #️ Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Thượng Thận # Top 2 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Thượng Thận # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Thượng Thận mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ung thư tuyến thượng thận là dạng u ác tính phát sinh tại tuyến thượng thận, được chia thành hai loại là ung thư vỏ thượng thận và u tủy thượng thận. Vỏ thượng thận và tủy thượng thận dễ phát sinh khối u, gây đột biến chức năng nội tiết nên được gọi là khối u chức năng, còn không ảnh hưởng đến chức năng nội tiết gọi là khối u phi chức năng.

Biểu hiện của các triệu chứng ung thư tuyến thượng thận rất đa dạng, huyết áp cao là một trong những triệu chứng chủ yếu của ung thư tuyến thượng thận. Trên lâm sàng, có một số bệnh nhân bị cao huyết áp, mặc dù đã làm theo đúng lời dặn của bác sỹ về việc dùng thuốc hạ huyết áp nhưng huyết áp vẫn cứ cao. Vậy nguyên nhân gây ra tình trạng đó là gì? Thực ra, tăng huyết áp kháng trị và ung thư tuyến thượng thận có quan hệ mật thiết với nhau, người bệnh không nên coi thường. Vậy ung thư tuyến thượng thận có những triệu chứng gì?

Triệu chứng ung thư tuyến thượng thận

Ung thư vỏ thượng thận đa phần ở tính chức năng, thường có biểu hiện như nữ tính nam tính hóa, chức năng của tuyến thượng thận bị giảm đi, hơn nữa dễ bị lây lan cục bộ và di căn, nếu có hạch bạch huyết và xâm lấn sang đường máu thì thông thường bệnh nhân chỉ có thể sống trung bình khoảng 2 năm.

Triệu chứng cường Aldosterone chủ yếu là do ung thư vỏ thượng thận gây ra, triệu chứng chủ yếu là cao huyết áp, thông thường từ tầm giữa giữa tăng lên cao. Loại triệu chứng thứ 2 là yếu cơ hoặc liệt, dị cảm. Loại triệu chứng thứ 3 là tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước. Một khi cơ thể có những triệu chứng khó chịu, đặc biệt là những bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị, cần phải chú ý, kịp thời đến bệnh viện để tiến hành chẩn đoán, tránh tình trạng bệnh để lâu sẽ càng nguy hiểm.

Triệu chứng tăng sinh Cortisol là do ung thư vỏ thượng thận hoặc khối u gây ra, biểu hiện cụ thể là mặt tròn, lưng còng, béo phần giữa nhưng chân tay lại gầy, nhiều tia máu và gân tím; mệt mỏi, suy kiệt, đau eo lưng; nhiều lông, rụng tóc, mụn trứng cá; chức năng sinh dục giảm, tắc kinh hoặc kinh nguyệt ít.

Triệu chứng bất thường của tuyến sinh dục do ung thư vỏ thượng thận gây ra, chia thành bộ phận sinh dục phát triển sớm, giả nữ tính hoặc lưỡng tính, nữ tính nam tính hóa.

80-90% u Pheochromocytoma là do u tủy thượng thận gây ra, triệu chứng chủ yếu là cao huyết áp và rối loạn quá trình trao đổi chất. Cao huyết áp từng cơn tăng cao, tim đập nhanh, thở dốc, đau đầu, toát mồ hôi, căng thẳng, chân tay lạnh run.

U tuyến thượng thận phi chức năng chủ yếu phát tác từ tế bào mô đệm của vỏ thượng thận hoặc tủy thượng thận, bao gồm u vỏ thượng thận phi chức năng, ung thư, u nguyên bào thần kinh (Neuroblastoma), đau bướu hạch thần kinh (Ganglioneuroma).

Bệnh viện Ung bướu Quảng Châu khuyến cáo, nếu xuất hiện những triệu chứng kể trên, cần đến ngay bệnh viện để kiểm tra là điều cấp thiết nhất, phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, điều trị sớm.

Ung Thư Tuyến Thượng Thận: Nguyên Nhân Và Triệu Chứng

Ung thư tuyến thượng thận là một loại ung thư hiếm gặp và xuất hiện ở một hoặc cả hai tuyến thượng thận. Ung thư tuyến thượng thận, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi và người lớn ở từ 40 đến 50 tuổi.

Tuyến thượng thận chịu trách nhiệm sản xuất ra các loại hormone có tại hầu hết mọi cơ quan và mô trong cơ thể. Mỗi tuyến thượng thận có 2 phần, gồm phần vỏ và phần tủy.

Phần tủy của tuyến thượng thận sản xuất các hormone như norepinephrine và epinephrine (còn gọi là adrenaline). Các khối u và ung thư bắt đầu trong tủy thượng thận bao gồm: U tủy thượng thận (pheochromocytoma) và u nguyên bào thần kinh.

Ung thư thường phát triển ở vỏ thượng thận được gọi là ung thư biểu mô vỏ thượng thận (adrenocortical carcinoma) hoặc ung thư tuyến thượng thận. Ung thư tuyến thượng thận thường được phát hiện khi:

Người bệnh tình cờ đi khám sức khỏe định kỳ hoặc đi khám sức khỏe vì lý do bệnh khác

Do tuyến thượng thận sản xuất các hormone, do đó khi mắc ung thư ở đây sẽ gây ra những thay đổi của cơ thể như tăng cân và giữ nước, dậy thì sớm ở trẻ em hoặc lông, tóc mọc rậm ở phụ nữ

Khối u bắt đầu gây ra các triệu chứng vì phát triển nhanh chèn ép vào các cơ quan khác trong bụng, gây đau hoặc cảm giác no. Thông thường, ung thư tuyến thượng thận lớn hơn nhiều so với u tuyến thượng thận. Một khối u tuyến thượng thận lớn hơn 5 hoặc 6 cm sẽ được xem xét đánh giá về bệnh ung thư. Trong một nghiên cứu gần đây, kích thước của khối u trung bình của ung thư tuyến thượng thận là khoảng 13 cm.

Hầu hết các bệnh ung thư tuyến thượng thận không bắt đầu từ tuyến thượng thận mà do ung thư ở các bộ phận khác di căn theo dòng máu đi đến tuyến thượng thận. Điển hình là ung thư phổi, khối u ác tính và ung thư vú thường lan đến tuyến thượng thận. Khi các bệnh ung thư khác lan đến tuyến thượng thận thì sẽ không được gọi là ung thư tuyến thượng thận mà sẽ được đặt tên và điều trị dựa trên cơ quan khởi phát ung thư.

Ung thư có thể được gây ra bởi đột biến ADN “bật” gen sinh ung thư hoặc “tắt” gen ức chế khối u. Một số người mắc bệnh ung thư do thừa hưởng các đột biến ADN từ bố mẹ khiến gia tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc nhạy cảm với các tác nhân khiến ADN bị đột biến. Nhưng hầu hết các đột biến ADN được nhìn thấy trong bệnh ung thư xảy ra trong cuộc sống hơn là di truyền. Một số đột biến có thể xảy ra do tiếp xúc với những tác nhân như phóng xạ hoặc hóa chất gây ung thư.

Một số đột biến ADN gây ra khối u tuyến thượng thận ở những người có hội chứng di truyền, được đề cập trong các yếu tố nguy cơ ung thư tuyến thượng thận. Nhìn chung, những yếu tố này hiếm khi gây ung thư vỏ thượng thận. Tuy nhiên, vì ung thư tuyến thượng thận rất hiếm gặp, nếu bị ung thư tuyến thượng thận thì bác sĩ có thể phải cân nhắc các xét nghiệm di truyền để tìm hiểu xem người bệnh có mắc một trong những hội chứng di truyền này không. Nếu người bệnh có thì bản thân người bệnh và các thành viên gia đình có thể có nguy cơ phát triển các bệnh ung thư khác.

Hội chứng Li-Fraumeni do các đột biến di truyền làm bất hoạt gen ức chế khối u TP53. Hội chứng này chiếm một phần nhỏ nguyên nhân gây ung thư tuyến thượng thận ở người lớn (khoảng 1 trong số 20 người), nhưng nó thường là nguyên nhân gây ung thư tuyến thượng thận ở trẻ em. Trên thực tế, khoảng 8 trong số 10 trường hợp ung thư tuyến thượng thận ở trẻ em là do hội chứng Li-Fraumeni gây ra.

Nếu khối u tuyến thượng thận phát triển lớn khiến nó ép vào các cơ quan khác, người bệnh có thể cảm thấy đau ở bụng hoặc lưng. Hoặc có thể cảm thấy nặng nề hoặc no ngay sau khi mới ăn. Nếu khối u đủ lớn, thậm chí người bệnh có thể nhận thấy một cục u ở trong ổ bụng, nhưng nếu khối u nhỏ thì người bệnh không cảm thấy được.

Dấu hiệu ung thư tuyến thượng thận khi khối u đã ảnh hưởng đến thay đổi nồng độ của một số hormone trong cơ thể sẽ gây ra một loạt các triệu chứng như, lượng androgen cao khiến nam giới có quá nhiều lông mặt hoặc lông trên cơ thể, phì đại dương vật ở bé trai hoặc âm vật ở bé gái.

Ở các bé gái nếu có quá nhiều estrogen sẽ có triệu chứng kinh nguyệt bắt đầu sớm hoặc ngực phát triển sớm và đối với bé trai cũng có thể phát triển ngực bất thường.

Nam giới có quá nhiều estrogen có triệu chứng như vú phát triển, bất lực hoặc mất ham muốn tình dục. Còn với nữ giới, nếu có quá nhiều androgen dẫn tới lông rậm hoặc tóc rụng, chu kỳ không đều hoặc giọng nói trầm hơn.

Nếu khối u tạo ra quá nhiều hormone cortisol, người bệnh có thể tăng thêm vài cân hoặc có khuôn mặt sưng húp. Cả nam giới và nữ giới có thể nhận thấy họ có xương và cơ bắp yếu hơn và dễ bị bầm tím. Ngoài ra, người bệnh cũng có thể có những thay đổi trong tâm trạng hoặc trầm cảm, huyết áp cao hoặc đường huyết cao.

Hiện nay tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đang áp dụng những gói sàng lọc ung thư nhằm phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, rút ngắn thời gian điều trị, giảm gánh nặng kinh tế và tối đa khả năng khỏi bệnh cho khách hàng.

Khách hàng có thể trực tiếp đến Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc đặt lịch hẹn trực tuyến TẠI ĐÂY để được hỗ trợ.

Ung Thư Tuyến Thượng Thận

Ung thư tuyến thượng thận

UNG THƯ VỎ THƯỢNG THẬN

ĐẠI CƯƠNG

Ung thư tuyến thượng thận là loại ung thư phát sinh từ tuyến thượng thận, được  chia làm hai loại là ung thư vỏ thượng thận và ung thư tủy thượng thận (u tế bào ưa crom).

Ung thư vỏ thượng thận là một loại ung thư (UT) hiếm gặp, chiếm 0,05-0,2% tất cả các loại UT. Tỷ lệ mắc trên toàn cầu khoảng 2/1.000.000 người mỗi năm, hay gặp trong khoảng tuổi 40-50. Nữ giới có tỷ lệ mắc cao gấp 2,5 lần nam giới. Nữ giới có xu hướng bị UT biểu mô có chức năng (chế tiết nội tiết tố) trong khi ở nam giới hay gặp loại không chức năng. Với sự gia tăng sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ, PET/CT…) nhiều trường hợp được phát hiện u thượng thận khi chưa có triệu chứng lâm sàng. Ung thư vỏ thượng thận là loại UT  không mang tính chất gia đình và cho tới nay người ta vẫn chưa rõ các yếu tố bệnh nguyên của nó.

CHẨN ĐOÁN

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cơ năng (loại u nội tiết hoạt động chiếm 30-40% loại u ở người trưởng thành)

Các triệu chứng hội chứng về nội tiết: bao gồm hội chứng Cushing, hội chứng nam hóa ở nữ và chứng nữ hóa ở nam. Có khoảng 40-60% UT vỏ thượng thận có biểu hiện triệu chứng về nội tiết, mức độ và tính chất của các triệu chứng này tùy thuộc vào tuổi và giới của bệnh nhân.

Các biểu hiện lâm sàng như béo thân, mặt tròn đỏ, u mỡ sau gáy, rậm lông mi, tóc mai, râu, ria mép ở nữ, tóc sau gáy; tăng huyết áp, trứng cá ở mặt,  lưng; rạn da màu  tím đỏ, sờ vào thấy mịn như lụa và lõm dưới mặt da. Vị trí thường gặp ở vùng bụng dưới hai bên, mặt trong của đùi 2 bên, khoeo chân, nếp lằn nách, lưng; tăng cân, mệt mỏi, mất kinh ở nữ, âm vật to; rối loạn tâm lý, yếu cơ gốc chi, loãng xương, sỏi thận, đái tháo đường.

Sự tăng quá mức androgen do mọi nguyên nhân làm phát triển lông giới tính (cằm, môi dưới, bụng và ngực) và tăng hoạt động các tuyến bã gây trứng cá. Hay gặp rối loạn kinh nguyệt, không rụng noãn, vô kinh ở nữ và có hiện tượng nam hóa ở nữ giới như (hói đầu phía trước, phì đại âm vật, bắp thịt nở nang, giọng nói trầm hơn). Nếu có sự bài tiết quá mức androgen thì sẽ mất nữ tính ở nam giới như (giảm kích thước tuyến vú, mất mô mỡ).

Triệu chứng thực thể

Khối u sờ thấy được ổ bụng: khoảng 50% UT vỏ thượng thận bệnh nhân tự sờ thấy khối u ở bụng hoặc do tình cờ chụp bụng với mục đích chẩn đoán khác tìm ra.

Các triệu chứng khác: gồm các triệu chứng như đau bụng vùng thượng vị, sút cân, chán ăn, mệt mỏi. Khi có các triệu chứng này bệnh thường ở giai đoạn muộn. Tùy theo vị trí di căn mà có thể có các triệu chứng do các di căn gây nên. Vị trí di căn thường gặp trong UT vỏ thượng thận là phổi (71%), hạch (68%), gan (42%) và xương (26%).

Thể mô bệnh học

Có nhiều trường hợp khối u ác tính ở thượng thận là di căn của UT nguyên phát từ các cơ quan khác như phổi, vú… Đối với u nguyên phát của vỏ thượng thận, việc phân biệt về mô bệnh học khá khó khăn giữa u tuyến (lành) thượng thận và UT biểu mô của thượng thận. Người ta chủ yếu dựa vào tính chất phân bào, dị bội thể và xâm lấn mạch máu. Ung thư biểu mô có hai loại chủ yếu:

Thể rất biệt hóa: thường thấy ở nữ và thường có các triệu chứng về nội tiết.

Thể bất thục sản: phổ biến hơn ở nam giới.

Xét nghiệm sinh học phân tử: giải trình tự nhiều gen.

Chẩn đoán giai đoạn

Khối u nguyên phát

Tx: Không thể đánh giá khối u nguyên phát

T0: Không có bằng chứng về khối u nguyên phát

T1: Khối u ≤5cm, không xâm lấn ngoài tuyến thượng thận

T3: Kích thước bất kỳ và xâm nhập ngoài tuyến thượng thận nhưng không xâm lấn các cơ quan lân cận.

T4: Xâm lấn thận, cơ hoành, tuyến tụy, lách, gan, tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ.

N: Hạch vùng

Nx: Không thể đánh giá

N0: Không di căn hạch vùng

N1: Di căn hạch hạch vùng

M: Di căn xa

M0: Chưa di căn xa

M1: Di căn xa

Giai đoạn

T

N

M

Giai đoạn

T1

N0

M0

I

T2

N0

M0

II

T1

N1

M0

III

T2

N1

M0

III

T3

Nbất kỳ

M0

III

T4

Nbất kỳ

M0

III

Tbất kỳ

Nbất kỳ

M1

IV

Giai đoạn

Kích thước (cm)

Hạch hoặc xâm lấn tại vùng

Di căn xa

I

II

III

Bất kỳ

+

IV

Bất kỳ

Bất kỳ

+

Thời gian sống trung bình đối với UT vỏ thượng thận thể rất biệt hóa là 40 tháng, thể bất thục sản là 5 tháng. Tính chung cho cả hai thể, giai đoạn I, II, III thời gian sống trung bình từ 24-28 tháng, giai đoạn IV thời gian sống là 12 tháng.

ĐIỀU TRỊ

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ thành một khối (en bloc) là phương pháp thường được áp dụng. Có khoảng 1/2 bệnh nhân UT vỏ thượng thận khi phát hiện vẫn còn khả năng cắt bỏ được, tuy nhiên trong một số trường hợp việc cắt bỏ hoàn toàn là không thể thực hiện được. Các bệnh nhân được cắt bỏ hoàn toàn nên được kiểm tra định kỳ bằng MRI (cộng hưởng từ) hoặc định lượng steroid huyết thanh (trong trường hợp bệnh nhân có triệu chứng về nội tiết) để phát hiện tái phát. Tái phát tại vùng và một số trường hợp di căn  xa cũng có thể phẫu thuật cắt bỏ nếu thực hiện được.

Xạ trị

Xạ trị đóng vai trò chủ yếu trong điều trị làm giảm nhẹ triệu chứng đau do u xâm lấn tại chỗ hoặc di căn xa, đặc biệt là di căn xương, não. Xạ trị cũng được dùng để phòng tái phát tại chỗ sau phẫu thuật cắt bỏ (liều trung bình từ 40-55Gy trong 4 tuần). Có thể cấy hạt phóng xạ tại tổn thương u hoặc tổ chức di căn nhằm điều trị triệu chứng giảm đau …

Hóa trị

Hóa trị được chỉ định trong các trường hợp UT vỏ thượng thận tái phát, di căn, không cắt bỏ được. Các hóa chất dùng trong điều trị UT vỏ thượng thận bao gồm một số thuốc sau:

Các thuốc chặn corticoid

Mitotane٭ (o, p’-DDD)

Mitotane٭ được dùng điều trị UT vỏ thượng thận từ những năm 60. Thuốc có tác dụng ngăn chặn sự tổng hợp và tiêu diệt các tế bào tiết ra corticosteroid.

Đáp ứng thường đạt được sau 6 tuần điều trị bằng giảm tiết các nội tiết tố trong máu. Một số ít trường hợp giảm tiết nội tiết tố không tương ứng với đáp ứng về kích thước u. Có khoảng 30-40% trường hợp u giảm kích thước rõ ràng, nhưng hiếm thấy trường hợp u có đáp ứng hoàn toàn. Thời gian đáp ứng trung  bình  là  10,5 tháng. Phối hợp xạ trị với mitotane٭ cũng không mang lại hiệu quả cao hơn so với dùng mitotane٭ đơn thuần.

Nôn và buồn nôn xuất hiện ở 80% các trường hợp dùng mitotane٭, các triệu chứng về ngộ độc thần kinh cũng có thể xuất hiện nếu điều trị trong thời gian dài, ở một số ít trường hợp thấy có sự thay đổi điện thế trên điện não đồ. Suy tuyến thượng thận có ở 50% bệnh nhân (nếu không được điều trị bằng nội tiết tố thay thế). Khoảng 20% bệnh nhân sử dụng mitotane٭ có biểu hiện viêm da.

Điều trị glucocorticoid thay thế:

Trong quá trình điều trị mitotane٭, cần thiết phải điều trị dự phòng suy tuyến thượng thận bằng cách dùng cortison acetat 25mg, với 0,lmg fludrocortison acetat uống vào buổi sáng và 12,5mg uống vào buổi tối. Nên đo cortisol huyết tương để kiểm soát chức năng tuyến thượng thận trong quá trình điều trị. Nếu bệnh nhân có biểu hiện sốt hoặc tác dụng phụ nặng, ngừng ngay dùng mitotane٭ và tăng liều corticosteroid.

Điều trị các trường hợp không đáp ứng với mitotane٭:

Bệnh nhân UT vỏ thượng thận không đáp ứng với điều trị bằng mitotane٭ có thể dùng các tác nhân chặn corticoid thượng thận khác như metyrapone٭ 750mg uống 4 giờ 1 lần hoặc aminoglutethimide٭ với liều khởi điểm 250mg uống 6 giờ/lần sau đó tăng dần lên tới liều 2g/ngày. Thuốc khác có thể sử dụng là ketoconazol.

Các thuốc gây độc tế bào

Các thuốc gây độc tế bào thường được dùng khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng mitotane٭. Trên thực tế số lượng bệnh nhân này không nhiều, do vậy kinh nghiệm điều trị UT vỏ thượng thận bằng hóa trị rất giới hạn mặc dù đã có nhiều thử nghiệm lâm sàng.

Không có thuốc nào được công nhận có hiệu quả trong điều trị UT vỏ thượng thận, cho dù doxorubicin, cisplatin, 5-FU, etoposide, cyclophophamide và suramin٭ có một phần tác dụng trên bệnh nhân UT vỏ thượng thận di căn.

Một số tác giả đưa ra các phác đồ hóa trị phối hợp bao gồm cyclophosphamide 600mg/m2, truyền tĩnh mạch; doxorubicin, 40mg/m2, truyền tĩnh mạch, phối hợp với cisplatin 50mg/m2, truyền tĩnh mạch, chu kỳ 21 ngày, thấy có đáp ứng một phần ở 2 trong tổng số 11 bệnh nhân UT vỏ thượng thận. Ở một thử nghiệm lâm sàng khác được tiến hành trên 4 bệnh nhân dùng phác đồ cisplatin 40mg/m2, truyền tĩnh mạch, với etoposide 100mg/m2, truyền tĩnh mạch và bleomycin, 30 U.I, truyền tĩnh mạch dùng 28 ngày một đợt. Có 3 bệnh nhân đáp ứng với điều trị trong đó có 1 bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn. Tuy nhiên, tác dụng phụ đều có với mức độ rất nặng ở cả 2 nghiên cứu này.

Hóa trị liệu có thể dùng phối hợp với mitotane٭, phác đồ cisplatin, 75-100mg/m2 phối hợp với mitotane٭ 4g, uống hàng ngày cho tỷ lệ đáp ứng 30% và kéo dài trong thời gian 7,9 tháng. Thời gian sống cho bệnh nhân nghiên cứu này là 11,8 tháng. Một số phác đồ khác phối hợp mitotane٭ với hóa trị cũng đang được tiến hành nghiên cứu.

Một số phác đồ hóa trị được sử dụng trong điều trị ung thư vỏ thượng thận

Phác đồ PE

Cisplatin 25mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3

Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3

Nhắc lại mỗi đợt sau 21-28 ngày.

Mitotane٭ (o, p’- DDD):

Mitotane٭ 2-10g/ngày, uống chia làm 3-4 lần/ngày, kết hợp với điều trị glucocorticoid và corticoid khoáng thay thế.

Phác đồ

Cisplatin 40mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 3-4

Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 2-4

Doxorubicin 40mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch 1

Kết hợp Mitotane٭ 4g/ngày.

Các phương pháp điều trị khác

Gây tắc mạch: Một phương pháp khác cũng được dùng điều trị giảm nhẹ triệu chứng của bệnh là gây tắc động mạch (arterial embolization) nhằm mục đích ngăn chặn khối u phát triển, giảm kích thước u và giảm đau. Các tác nhân gây tắc mạch bao gồm bột Polyvinyl alcohol và gelatin ngoại khoa.

Cắt bỏ bằng sóng cao tần (radiofrequency ablation): có thể được sử dụng nhằm kiểm soát tại chỗ hoặc các ổ di căn cho với trường hợp bệnh không mổ được.

TIÊN LƯỢNG

Tiên lượng bệnh ung thư vỏ thượng thận rất xấu nếu phát hiện muộn, nếu phát hiện sớm điều trị tích cực thì kết quả cải thiện hơn.

PHÒNG BỆNH

Tránh các yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh, khám sức khỏe đều đặn, khi có các triệu chứng nghi ngờ đến khám tư vấn bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán điều trị kịp thời.

THEO DÕI VÀ KHÁM LẠI ĐỊNH KỲ

Khi bệnh ổn định có thể theo dõi bệnh nhân định kỳ.

Năm đầu 3 tháng 1 lần, từ năm thứ hai trở đi: 6 tháng 1 lần.

Các xét nghiệm cần làm: Công thức máu, sinh hóa máu, chụp tim phổi, siêu âm bụng, chụp CT scan bụng, xạ hình tuyến thượng thận… để phát hiện các tái phát, di căn và biến chứng muộn nếu có.

U TẾ BÀO ƯA CROM (PHEOCHROMOCYTOMA)

ĐẠI CƯƠNG

CHẨN ĐOÁN

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là cao huyết áp, có ở hơn 90% số bệnh nhân. Hạ huyết áp tư thế cũng là một triệu chứng hay gặp. Các triệu chứng khác bao gồm đau đầu, ra mồ hôi, đánh trống ngực, mệt mỏi,  buồn nôn,  xanh xám, chán ăn, đau  bụng,  sút cân…

Triệu chứng thực thể: u thường nhỏ và đơn độc (khó thăm khám)

Các xét nghiệm chẩn đoán

Nếu hàm lượng catecholamin nằm trong khoảng 400-1.000Pg/ml, nên làm test kích thích glucagon (định lượng catecholamin huyết tương từ 1-3 phút sau khi dùng l-2mg glucagon, nếu catecholamin tăng gấp 3 lần trở lên có thể chẩn đoán là u tế bào ưa crom).

Chẩn đoán hình ảnh bằng chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ nên được làm khi nghi ngờ u tế bào ưa crom trên lâm sàng hoặc xét nghiệm sinh học. Đây cũng là phương pháp đánh giá xem bệnh nhân còn khả năng mổ lấy bỏ u đi hay không cũng như tìm các vị trí di căn nếu có.

Xạ hình tuyến thượng thận bằng máy SPECT, SPECT/CT với 131I-MIBG (131I-metaiodobenzylguanidin) rất hữu hiệu trong trường hợp các phương pháp chẩn đoán khác âm tính nhưng lâm sàng hoặc xét nghiệm nghi ngờ u tế bào ưa crom. MIBG cũng được dùng trong trường hợp nghi ngờ u tế bào ưa crom ngoài tuyến thượng thận.

Xạ hình xương bằng máy SPECT, SPECT/CT với 99mTc-MDP để đánh giá tổn thương di căn xương, chẩn đoán giai đoạn bệnh trước điều trị, theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn.

Chụp PET/CT với 18F-FDG trước điều trị để chẩn đoán u nguyên phát,  chẩn đoán giai đoạn bệnh; chụp sau điều trị để theo dõi đáp ứng điều trị, đánh giá tái phát và di căn; mô phỏng lập kế hoạch xạ trị.

Chọc tế bào bằng kim nhỏ không nên làm ở bệnh nhân u tế bào ưa crom do nguy cơ cao gây biến chứng tăng huyết áp.

Trên thực tế việc chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh lý u tế bào ưa crom có phải là loại ác tính hay không rất khó khăn. Nhìn chung u ác tính thường có kích thước lớn hơn, độ bội thể DNA cao hơn và tỷ lệ tế bào giảm phân cao hơn. Một tiêu  chuẩn duy nhất có thể khẳng định chẩn đoán u tế bào ưa crom ác tính khi chưa xuất hiện di căn là sự xuất hiện của các tế bào ưa crom (chromaffin cells).

ĐIỀU TRỊ

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho u nguyên phát, bệnh tái phát và thậm chí cả khi bệnh di căn. Đánh giá cẩn thận, điều trị nội khoa hợp lý trước mổ sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ cơn tăng huyết áp khi tiến hành phẫu thuật. Các tác giả khuyên bệnh nhân nên có ít nhất 2 tuần điều trị tiền phẫu. Thuốc chặn α-adrenergic với phenoxybenzamin được dùng liều khởi đầu l0mg uống 2 lần/ngày để kiểm soát huyết áp. Các thuốc điều trị thay thế cũng được chỉ định để phòng hạ huyết áp tư thế.

Nên dùng các thuốc chặn β để phòng cơn nhịp nhanh và loạn nhịp. Nếu dùng các thuốc trên nhưng huyết áp bệnh nhân vẫn chưa kiểm soát được hoặc không cắt được u, trong trường hợp này sử dụng metyrosin sẽ có hiệu quả. Metyrosin thường được dùng với liều khởi đầu là 250mg uống 4 lần/ngày. Thuốc này có tác dụng hạn chế u tiết catecholamin.

Xạ trị có vai trò rất hạn chế trong điều trị u tế bào ưa crom ác tính, thường dùng điều trị mang tính chất vớt vát, giảm nhẹ triệu chứng của bệnh.

Hóa trị liệu cũng có vai trò hạn chế. Phối hợp cyclophosphamide với vincristine và dacarbazine cho tỷ lệ đáp ứng sinh học là 79%, đáp ứng về kích thước khối u là 57%  với thời gian đáp ứng trung bình là 22 tháng. Streptozocin dùng đơn lẻ có tỷ lệ đáp ứng không quá 10%.

Phác đồ hóa trị thường dùng trong điều trị u tế bào ưa crom ác tính:

Cyclophosphamide 750mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1 vincristine l,4mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1

Dacarbazine 600mg/m2, truyền tĩnh mạch ngày 1, 2. Chu kỳ 21 ngày.

TIÊN LƯỢNG

Thời gian sống trung bình đối với u tế bào ưa crom ác tính là 4 năm, tỷ lệ tái phát trong vòng 5 năm trong khoảng 10-46%. Sống thêm toàn bộ sau 5 năm có ở 52% u tế bào ưa crom ác tính.

PHÒNG BỆNH

Tránh các yếu tố nguy cơ có thể gây bệnh, khám sức khỏe đều đặn, khi có các triệu chứng nghi ngờ đến khám tư vấn bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán điều trị kịp thời.

THEO DÕI VÀ KHÁM LẠI ĐỊNH KỲ

Khi bệnh ổn định có thể theo dõi bệnh nhân định kỳ.

Năm đầu 3 tháng 1 lần, từ năm thứ hai trở đi: 6 tháng 1 lần.

Các xét nghiệm cần làm: Công thức máu, sinh hóa máu, chụp tim phổi, siêu âm bụng, chụp CT scan bụng, xạ hình tuyến thượng thận… để phát hiện các tái phát, di căn và biến chứng muộn nếu có.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai (2010). Điều trị nội khoa bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Chấn Hùng (2004). Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2014). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng, Nguyễn Tiến Quang (2019). Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Bùi Diệu và cs (2016). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Văn Hiếu (2010). Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư. Nhà xuất bản  Y học.

Mai Trọng Khoa (2016). Kháng thể đơn dòng và phân tử nhỏ trong điều trị ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2013), Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Dackiw AP, Lee JE, Gagel RF, et al (2001). Adrenal cortical carcinoma. World J Surg; 25(7):914-926.

Korf D, Goretzki PE, Lehnert H (2001). Clinical management of malignant adrenal tumors. J Cancer Res Clin Oncol; 127(3):143-155.

Khan TS, Sundin A,Juhlin C, et al (2004). Vincristine, ciplatin, teniposide, and Cyclophosphamide combination in the treatment of recurrent or metastatic adrenocortical cancer. Med Oncol;21(2):167-177.

Bagi RP Jana, Neetu Radhakrishman (2018), Adrenal Carcinoma, Medscape.

Chẩn Đoán Ung Thư Tuyến Thượng Thận

Ung thư tuyến thượng thận là khối u ác tính nằm trên tuyến thượng thận, gây nguy hại nghiệm trọng đến sức khỏe người bệnh. Kết quả chẩn đoán chính xác có thể giúp người bệnh chọng lựa được liệu pháp điều trị phù hợp nhất. Vậy có những phương pháp nào để chẩn đoán ung thư tuyến thượng thận?

Chẩn đoán hình ảnh

1. Siêu âm: Là phương pháp đầu tiên được lựa chọn để kiểm tra khối u tuyến thượng thận. Có giá trị nhất định trong việc phát hiện ra khối u, kích thước cũng như các mô xung quanh. Chuyên gia bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu khuyên bạn, một khi xuất hiện các triệu chứng bất thường, cần đến ngay bệnh viện để tiến hành chẩn đoán và điều trị.

2. Chụp CT: Tiến thêm một bước trong chẩn đoán ung thư tuyến thượng thận. Chụp CT khối u tuyến thượng thận có thể xác định được kích thước thể tích khối u, có nhiều mô mỡ xung quanh thận không, mật độ các khối u có gần với các mô mỡ xung quanh không…

(2) Ung thư tuyến thượng thận di căn: Thường gặp nhất ở ung thư nguyên phát như ung thư phổi và ung thư vú.Tiếp đến là dạ dày, ruột kết, tuyến tụy…thường không có triệu chứng. Kết quả chụp CT cho thấy: Kích thước hai bên hoặc một bên không đồng nhất, ảnh chụp trạng thái khối u không đều, mật độ không cân bằng, dễ thoái hóa nang, chảy máu. Những triệu chứng này do nhiều nguyên nhân gây nên chỉ vô tình phát hiện khi chụp CT, tìm ra căn nguyên gây nên ung thư, để có thể chẩn đoán chính xác.

(3) U nguyên bào thần kinh tuyến thượng thận: ít gặp, hơn một nửa phát sinh tại tủy thượng thận. Kết quả chụp CT cho thấy: khối u rắn bất thường, giá trị CT thấp so với các mô cơ, khi khối u có tình trạng hoại tử, thoái hóa nang và chảy máu, mật độ không cân bằng; khối u thường có màng bọc bên ngoài, u tương đối lớn có thể tăng trưởng ở các tuyến giữa và dễ ăn thủng phần viền nang và xâm lấn ra các tế bào xung quanh.

3. Chụp cộng hưởng từ MRI: Có ý nghĩa đối với việc kiểm tra và chẩn đoán phân biệt khối u Pheochromocytoma trong ung thư tuyến thượng thận . MRI có thể cung cấp các kết quả về đặc tính của khối u mà chụp CT không thể thực hiện được.

Kiểm tra phòng thí nghiệm

Bao gồm kiểm tra chức năng tuyến thượng thận: Epinephrine tuyến thượng thận, Norepinephrine tuyến thượng thận, Catecholamines tiết niệu, Aldosterone huyết tương , Cortisol huyết tương…

Bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu khuyên bạn, đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe định kỳ, có tác dụng trong việc phát hiện bệnh sớm và kịp thời điều trị, hiệu quả trong việc không chế ung thư tuyến thượng thận.

Bạn đang xem bài viết Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Thượng Thận trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!