Xem Nhiều 2/2023 #️ Ung Thư Dại Tràng Và Trực Tràng # Top 9 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ung Thư Dại Tràng Và Trực Tràng # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Dại Tràng Và Trực Tràng mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đại tràng là phần lớn nhất của hệ tiêu hóa nơi chứa chất cặn bã. Trực tràng là phần cuối của đại tràng nằm gần hậu môn. Các khối u trong đại tràng và trực tràng là sự tăng trưởng khác thường phát sinh từ những tế bào ở lớp thành trong của đại tràng.

Những khối u lành tính của đại tràng được gọi là các polip. Các polip lành tính có thể được loại bỏ một cách dễ dàng trong quá trình nội soi đại tràng và không đe dọa tính mạng. Nếu chúng không được loại bỏ khỏi đại tràng, chúng có thể dần trở thành ác tính (ung thư). Hầu hết những tế bào hợp ung thư được tin là hình thành từ các polip.

Đối tượng nào có nguy cơ mắc bệnh?

Mặc dù ung thư đại-trực tràng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, khoảng 90% các bệnh nhân ở độ tuổi hơn 50. Bên cạnh độ tuổi, các yếu tố rủi ro khác bao gồm:

Lịch sử người bị ung thư đại-trực tràng trong gia đình

Người Trung quốc có rủi ro mắc bệnh cao hơn trong số những chủng người ở Singapore

Lịch sử cá nhân bị polip đại tràng hoặc ung thư đại tràng hoặc viêm đại tràng mạn loét

Bị ung thư các cơ quan khác đặc biệt là vú hay tử cung hay buồng trứng

Cuộc sống quen ngồi một chỗ và béo phì

Chế độ ăn chứa nhiều chất béo nguồn gốc động vật hoặc thịt nấu ở nhiệt độ cao

Hút thuốc lá và uống rượu

Đâu là những triệu chứng?

Trong những giai đoạn ban đầu, bạn có thể không biểu hiện triệu chứng gì. Những triệu chứng sớm của ung thư trực tràng có thể rất khó nhận biết và có thể bao gồm các triệu chứng sau:

Máu trong phân

Thay đổi thói quen đi ngoài (chẳng hạn táo bón hoặc phân lỏng)

Đau bụng và nhạy cảm hoặc béo phì

Sút cân mà không rõ nguyên nhân

Thiếu máu (huyết cầu thấp)

Cảm giác ruột không trống rỗng hoàn toàn ngay cả sau khi vừa đi ngoài

Làm thế nào để ngăn ngừa ung thư đại tràng?

Có thể áp dụng hai chiến lược. Trước tiên, giảm các yếu tố rủi ro nếu có thể:

Giảm lượng chất béo dung nạp, đặc biệt là từ các nguồn động vật như thịt đỏ. Giảm việc ăn thịt được nấu ở nhiệt độ cao

Hạn chế uống rượu và bỏ thuốc lá

Tập thể dục đều đặn và giữ cho cơ thể khỏe mạnh

Ăn hoa quả, rau và gạo lứt có chứa chất xơ và chất chống ô xi hóa

Thứ hai, tham gia tầm soát tình trạng ung thư đại tràng. Hầu hết các trường hợp ung thư đại tràng và trực tràng được tin là hình thành từ các polip. Thăm dò nội soi đại tràng và loại bỏ các polip làm giảm nguy cơ ung thư trực tràng. Một polip được loại bỏ là một phần ung thư tiềm ẩn được ngăn chặn. Ở Mỹ và các nước Bắc Âu, những trường hợp tử vong do ung thư đại tràng đang giảm và sự thuyên giảm này gắn với việc tham gia điều tra, phát hiện sớm, ngăn ngừa bằng thủ thuật cắt bỏ polip cũng như phương pháp điều trị được cải thiện.

Nên đi kiểm tra đại tràng từ độ tuổi 50 để phát hiện các polip đại tràng hoặc ung thư đại tràng, ngay cả khi bạn không có triệu chứng gì.

Bệnh nhân có thể được đảm bảo rằng việc kiểm tra thường xuyên bằng nội soi đại tràng định kỳ (tùy thuộc vào việc đánh giá các yếu tổ rủi ro) có thể loại bỏ các polip và ngăn ngừa việc phát triển thành ung thư. Tìm hiểu thêm về Điều tra để Ngăn ngừa Ung thư Trực tràng

Ung thư đại-trực tràng lây lan như thế nào?

Các tế bào ung thư đại-trực tràng có thể phát triển sâu vào bên trong thành đại tràng hoặc trực tràng và trong mô mỡ quanh đại tràng và trực tràng. Ung thư đại-trực tràng cũng có thể lây lan qua đường bạch huyết tới các hạch bạch huyết gần đó. Trong một số trường hợp, các tế bào ung thư lây lan qua các mạch máu tới các phần khác của cơ thể như gan hoặc phổi.

Ung thư đại-trực tràng được chẩn đoán bằng cách nào?

Những người có bất kỳ các yếu tố rủi ro nào như lịch sử gia đình mắc bệnh hay độ tuổi trên 50 cần được chẩn đoán ung thư đại-trực tràng. Kiểm tra để phát hiện các polip, ung thư hoặc các vấn đề khác, thậm chí khi không có triệu chứng gì.

Nếu đã được xác nhận là bị ung thư, cần thực hiện kiểm tra kỹ hơn như xét nghiệm máu và chụp CT toàn thân để đánh giá giai đoạn ung thư. Xác định giai đoạn là một quá trình cho bác sĩ biết phạm vi của ung thư. Xác định giai đoạn được dựa trên mức độ xâm nhập sâu của ung thư, để xác định xem hạch bạch huyết chứa tế bào ung thư hay không, và tế bào ung thư đã lan từ khu vực gốc sang các phần khác của cơ thể hay chưa. Triển vọng đối với các tế bào ung thư đại-trực tràng phụ thuộc vào quy mô rộng trong giai đoạn của chúng..

Làm thế nào để điều trị ung thư đại-trực tràng?

Phẫu thuật là phương pháp điều trị quan trọng nhất đối với ung thư đại-trực tràng và trong hầu hết các trường hợp, phẫu thuật có thể chữa dứt điểm.Liệu pháp bức xạ và liệu pháp hóa học đôi khi cũng được sử dụng cùng với phẫu thuật.

Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật loại bỏ phần đại tràng có chứa tế bào ung thư. Tất cả các hạch bạch huyết xung quanh cũng sẽ được loại bỏ vì nếu tế bào ung thư lây lan, chúng thường lan đến các hạch bạch huyết trước. Phần còn lại phía cuối ruột sẽ được kết nối lại. Nếu tế bào ung thư quá gần hoặc đã xâm lấn hậu môn, không thể nối lại đại tràng; có thể cần một đường mở nhân tạo trên thành bụng để nối đại tràng, được gọi là thủ thuật mở thông đại tràng (hay lỗ khí). Đường mở này cho phép chất thải được loại bỏ khỏi cơ thể khi không sử dụng được hậu môn hoặc khi phải loại bỏ hậu môn. Thủ thuật mở thông đại tràng có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Với những tiến bộ về công nghệ hiện đại trong phẫu thuật, có hơn 95% bệnh nhân ung thư đại-trực tràng không cần dùng thủ thuật mở thông đại tràng vĩnh viễn. Yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định xem có cần loại bỏ hậu môn hay không đó là khoảng cách rõ ràng giữa tế bào ung thư và đỉnh ống hậu môn, sự phân biệt các cấp độ tế bào ung thư, phạm vi và kích thước của tế bào ung thư. Trong một số trường hợp, có thể tạm thời tạo một lỗ khí để làm trệch luồng chất thải tạo điều kiện cho vết nối liền lại. Khi vùng nối đã hoàn toàn bình phục, thực hiện một thao tác nhỏ thứ hai để đóng lỗ khí.

Phẫu thuật ung thư đại tràng và trực tràng

Phẫu thuật mở tiêu chuẩn

Phẫu thuật mở tiêu chuẩn yêu cầu một đường rạch dài trên bụng. Việc phẫu thuật bao gồm cắt bỏ một phần đại tràng và/hoặc một phần trực tràng, cùng với việc cung cấp máu và hạch bạch huyết. Những điểm cuối khỏe mạnh sau đó sẽ được nối lại với nhau để tạo thành một đường thông nhau, qua đó khôi phục hoạt động của đường tiêu hóa. Thời gian nằm viện trung bình là khoảng 1 tuần tùy thuộc vào sự hồi phục của bệnh nhân.

Phẫu thuật nội soi ổ bụng (Lỗ mổ nhỏ)

Phẫu thuật nội soi ổ bụng (Lỗ mổ nhỏ) sử dụng những đường rạch lỗ mổ nhỏ trên thành bụng và thao tác được thực hiện bằng các dụng cụ chuyên khoa dài và một máy quay phẫu thuật. Quy trình chính xác tương tự như trong phẫu thuật mở tiêu chuẩn được thực hiện nội bộ bằng việc sử dụng dụng cụ lỗ mổ nhỏ để loại bỏ phần đại tràng bị ảnh hưởng cùng với lượng máu cung cấp và các hạch bạch huyết. Sau đó những phần khỏe mạnh ở phía cuối sẽ được nối lại với nhau để khôi phục hoạt động của đường tiêu hóa. Các bước phẫu thuật tương tự như phẫu thuật mở với thuận lợi là vết mổ nhỏ hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn và thời gian hồi phục nhanh hơn. Bác sĩ Quah là chuyên gia trong việc phẫu thuật nội soi ổ bụng. Phẫu thuật đại-trực tràng bằng phương pháp nội soi ổ bụng được thực hiện thường xuyên ở phòng khám của ông.

Triển vọng nào cho ung thư đại-trực tràng?

Có khoảng 80%-95% bệnh nhân ung thư đại-trực tràng được cứu chữa nếu được phát hiện và điều trị trong những giai đoạn đầu. Tỷ lệ cứu chữa rơi vào khoảng 50% hoặc thấp hơn khi được chẩn đoán trong những giai đoạn sau.Điều tra tình hình bệnh là phát hiện ung thư đại-trực tràng trong giai đoạn sớm của nó hoặc các polip (chưa chuyển thành các tế bào ung thư) khi không có triệu chứng. Khi triệu chứng xuất hiện, một số bệnh nhân được chẩn đoán là bị ung thư thì bệnh đã trong giai đoạn muộn.

Người bệnh càng được điều trị sớm thì cơ hội cứu chữa càng lớn. Những tiến bộ trong các kỹ thuật phẫu thuật và dịch vụ chăm sóc y tế tốt hơn đồng nghĩa với việc các bác sĩ phẫu thuật hiện giờ có thể thực hiện phẫu thuật trên người với tỷ lệ biến chứng thấp cũng như trên những người từng được xem là quá lớn tuổi để thực hiện phẫu thuật hoặc khi tế bào ung thư được xem là đã quá tệ.

Ung Thư Đại Tràng Và Trực Tràng

Tên khác: ung thư đại-trực tràng hoặc trực-đại tràng.

Tỷ lệ mắc bệnh

Đây là loại ung thư gặp nhiều nhất ở những người không hút thuốc lá; tỷ lệ mắc ung thư đại-trực tràng đang ngày càng tăng ở những nước phát triển, ở châu Âu cứ 100.000 dân thì có 20- 30 người mắc bệnh, ở nước Pháp có khoảng 25.000 trường hợp mới mắc bệnh hàng năm. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn hai lần so với nữ giới. Bệnh thường xuất hiện giữa 50 và 60 tuổi.

Những yếu tố thuận lợi

Di truyền: những thể gia đình thường khu trú ở đại tràng phải và xuất hiện trước 50 tuổi. Có thể thấy mất đoạn ở các nhiễm sắc thể 5, 17, và 18.

Polyp dạng tuyến và lông, bệnh polyp gia đình.

Viêm trực-đại tràng loét xuất huyết sau 10 năm diễn biến, bệnh Crohn tuy hiếm hơn.

Chế độ ăn ít chất sợi hoặc quá nhiều mỡ động vật.

Giải phẫu bệnh

Trong 95% số trường hợp ung thư đại-trực tràng là carcinom tuyến với những tế bào hình trụ tạo nên những tuyến không đều đặn, thường chế tiết chất mucin (chất nhày), và thường phát triển trên những polyp có sẵn. Vị trí: 15% ở đại tràng lên và manh tràng, 10% ở đại tràng ngang, 5% ở đại tràng xuống, 25% ở đại tràng sigma, và 45% ở trực tràng. Trong 50% số trường hợp khối u có xu hướng phát triển theo kiểu “đai thùng” (tế bào u xâm lấn vào trong thành ruột gây tắc). Ung thư có thể xâm lấn qua cả thành ruột và lan toả vào phúc mạc (gọi là bệnh carcinom phúc mạc). Khi tế bào ung thư lan tràn theo đường bạch huyết thì di căn sẽ tới các hạch bạch huyết địa phương và hạch mạc treo ruột. Khi tế bào ung thư lan theo đường máu thì di căn sẽ tới gan, phổi và não.

Triệu chứng

Ung thư đại tràng thường diễn biến lâu ngày trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Thường chỉ có khám bệnh hệ thống (định kỳ sàng lọc) mới phát hiện được sớm. Các triệu chứng bao gồm:

Đau bụng hoặc đau vùng thắt lưng.

Chuyển vận chất ở ruột bị rối loạn: có những đợt táo bón xen kẽ với ỉa chảy.

Ung thư đại tràng phải nằm ở đoạn dưới (thấp) thường có biểu hiện phân có máu (ỉa phân đen) hoặc dấu hiệu thiếu máu thiếu sắt vì chảy máu ẩn.

Ung thư đại tràng trái có thể gây chướng bụng và những triệu chứng báo hiệu tắc ruột.

Khi đã tới giai đoạn muộn thì ung thư có thể xâm lấn vào hệ thống tiết niệu-sinh dục gây ra đa tiểu tiện (tiểu tiện nhiều lần), tiêu tiện có máu, lỗ rò âm đạo.

Thăm trực tràng bằng ngón tay cho phép đánh giá kích thưổc, vị trí, và tính di động của khối u nằm ở nửa dưới trực tràng.

Trong 25% số trường hợp, di căn gan được phát hiện ngay từ đầu mà không nhận ra ung thư nguyên phát từ trước.

Biến chứng:tắc ruột cấp tính (nhất là với trường hợp ung thư đại tràng trái), apxe quanh khối u, di căn tới gan và phúc mạc, thủng đại tràng và viêm phúc mạc.

X quang: đối với ung thư đại tràng, kỹ thuật thụt baryt kinh điển và đôi pha kép cho thấy hình ảnh vết khuyết của ổ loét hoặc hình ảnh của chỗ hẹp. Tuy nhiên, thụt baryt kém tin cậy hơn trong việc phát hiện ung thư trực tràng, so với phát hiện ung thư đại tràng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cắt lớp siêu âm trong trường hợp nghi ngờ di căn vào gan.

Nội soi

Soi đại tràng sigma bằng ống nội soi mềm, soi đại tràng đồng thời làm sinh thiết:2/3 trường hợp ung thư đại tràng có thể nhìn thấy khối u nhờ soi đại tràng sigma, là kỹ thuật bổ sung cho kỹ thuật thụt baryt, nhằm khẳng định chính xác các hình ảnh nghi ngờ, và để phát hiện những khối ung thư không phát hiện được bằng X quang. Nội soi đại tràng còn cho phép làm sinh thiết khối u để xét nghiệm mô bệnh học và đánh giá mức lan tràn của ung thư.

Soi trực tràng và làm sinh thiết cũng cho phép khẳng định chẩn đoán và đánh giá mức lan rộng của khối u trực tràng.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Tìm máu ẩn trong phân.

Thiếu máu nhược sắc thiếu sắt: hay xảy ra.

Định lượng kháng nguyên ung thư-phôi thaihoặc CEA (xem từ này): là có ích, nhất là trong việc theo dõi diễn biến của bệnh sau phẫu thuật. Giá trị bình thường của kháng nguyên này là < 5 ng/ml (hoặc pl).

Phải nghĩ tới ung thư đại tràng ở mọi đối tượng trên 40 tuổi mà thói quen đại tiện bị rối loạn hoặc có máu ẩn hoặc máu đại thể (nhìn thấy máu) trong phân.

Chẩn đoán phân biệt

Với táo bón và những tổn thương chảy máu ở đại-trực tràng (như bệnh trĩ, bệnh túi thừa, viêm đại tràng thiếu máu cục bộ, viêm đại tràng trực loét xuất huyết, loạn sản mạch máu đại tràng). Ung thư đại tràng sigma có thể rất khó chẩn đoán phân biệt với bệnh túi thừa gây hẹp nếu không có nội soi đại tràng.

Phát hiện bệnh

Thăm trực tràng bằng ngón tay: chỉ cho phép phát hiện được một tỷ lệ nhỏ những khối u trực tràng, chủ yếu là những khối u nằm trong tầm của ngón tay thày thuốc khi đưa vào trực tràng.

Tìm máu ẩn trong phân:test này dương tính trong 1-5% dân số trên 40 tuổi. Mặc dù kém đặc hiệu, nhưng nếu cho kết quả dương tính nhiều lần thì phải khám xét đại tràng thật kỹ càng.

Soi đại tràng sigma:là phương pháp rõ ràng nhạy hơn, cho phép phát hiện những tổn thương chỉ nhỏ khoảng 5 mm đường kính và cho phép cắt ngay những polyp tiền ung thư. Có lẽ nên soi đại tràng sigma một lần cho mọi đối tượng từ 50 đến 60 tuổi (khám sàng lọc), tuy nhiên tỷ lệ người chấp nhận thủ thuật chỉ đạt khoảng 50%.

Theo dõi nghiêm ngặt những đối tượng có nguy cơ cao: nhất là những người trong gia đình của bệnh nhân ung thư đại-trực tràng, những người đã được cắt polyp u tuyến, những người bị viêm đại tràng loét-xuất huyết, hoặc có bệnh polyp gia đình.

Tiên lượng (theo phân loại Dukes):

DUKES Bl: xâm lấn tới một phần của lớp áo cđ. Không có hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 70-85%.

DUKES B2: xâm lấn toàn bộ bề dày của lớp áo cơ. Không có hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 nám: 54%.

DUKES Cl: xâm lấn toàn bộ thành ruột + hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 30-60%

DUKES C2: xâm lấn vượt quá thành ruột + hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 22%

DUKES D: di căn ở xa (gan, phổi, xương). Thời gian sống thêm 5 năm: 5%.

Thời gian sống thêm 5 năm của ung thư đại-trực tràng đã vượt quá 50% và không thay đổi trong những năm gần đây, vì trong nhiều trường hợp ung thư vẫn tiếp tục chỉ được chẩn đoán ở giai đoạn đã quá muộn. Trong từ 25-30% số trường hợp, vào lúc chẩn đoán được đặt ra thì ung thư đã không còn ở giai đoạn có thể phẫu thuật được nữa.

Đối với ung thư đại tràng, thì chỉ định cắt khối u ở mức độ rộng thích đáng, đồng thời nạo hạch bạch huyết, tiếp sau thì dùng liệu pháp hoá chất bổ sung với Auorouracil và levamisol theo đường toàn thân, tiêm vào tĩnh mach cửa, hoặc tiêm vào ổ phúc mạc trong vòng 6-12 tháng, cắt khối ung thư ở đoạn dưới trực tràng ngày nay có thể thực hiện mà vẫn bảo tồn được cơ thắt hậu môn. Trong trường hợp ung thư đã lan tràn rộng, thì điều trị triệu chứng bằng nối thông bên trong hoặc bên ngoài. Những typ ung thư này thường không nhạy cảm với liệu pháp bức xạ. Liệu pháp hoá chất tiêm vào động mạch tại chỗ có thể hữu ích trong trường hợp có di căn nhỏ ở gan. Theo dõi sau phẫu thuật thay đổi tuỳ theo trường phái: thụt baryt để chụp X quang 6-12 tháng một lần, trong 2 năm liền, rồi sau đó cứ 2-3 năm làm lại một lần.

Ung Thư Trực Tràng Là Gì? Khái Niệm Ung Thư Trực Tràng

Ung thư trực tràng là bệnh ung thư về đường tiêu hóa, thường gặp ở cả 2 giới, nhưng tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ. Đây là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan. Vậy ung thư trực tràng là gì? Triệu chứng và cách điều trị như thế nào sẽ được chúng tôi cung cấp trong bài viết sau đây.

Khái niệm ung thư trực tràng là gì?

Trực tràng nằm ở phần cuối của đại tràng, nối với hậu môn, là nơi thực phẩm bị phân rã để tạo ra năng lượng và là nơi đào thải các chất thải đặc của cơ thể qua hậu môn.

Ung thư trực tràng bắt đầu từ trực tràng, do các tế bào đột biến phát triển và xâm lấn đến các tế bào bình thường khác ở trực tràng. Đa số các trường hợp ung thư trực tràng khởi phát từ polyp trực tràng (một dạng tổn thương dưới dạng khối lồi, thường là lành tính nhưng nếu không cắt bỏ thì có thể phát triển thành ung thư).

Ung thư trực tràng gồm có 4 giai đoạn: Ung thư trực tràng giai đoạn 1, ung thư trực tràng giai đoạn 2, ung thư trực tràng giai đoạn 3, ung thư trực tràng giai đoạn 4. Ở mỗi giai đoạn đều có dấu hiệu và diễn biến bệnh khác nhau.

Triệu chứng của ung thư trực tràng

Bệnh ung thư trực tràng thường không có những triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn sớm, chỉ về sau mới có các triệu chứng rõ ràng như đi ngoài ra máu, phân lỏng, phân lẫn máu như máu cá , đau bụng… Ở giai đoạn muộn, triệu chứng này còn đi kèm với các biểu hiện như chán ăn, mệt mỏi, sút cân…

Các triệu chứng của bệnh ung thư đại trực tràng cần lưu ý:

Thay đổi thói quen đại tiện.

Tiêu chảy, hay có cảm giác đi ngoài không hết.

Đi ngoài ra máu (đỏ tươi hoặc đen sẫm).

Phân có khẩu kính hẹp hơn bình thường.

Cảm thấy khó chịu khắp bụng (thường bị đau bụng vì trướng hơi, cổ trướng, đầy bụng).

Giảm cân không rõ nguyên nhân.

Thường xuyên mệt mỏi.

Những triệu chứng này không hoàn toàn là dấu hiệu của ung thư trực tràng, tuy nhiên có thể là những biểu hiện đầu tiên của bệnh. Các chuyên gia khuyến cáo mỗi người nếu thấy xuất hiện một trong những triệu chứng trên thì cần đến bệnh viện để được khám, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh.

Điều trị ung thư trực tràng

Các phương pháp điều trị ung thư trực tràng đang được áp dụng nhiều hiện nay là phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị trúng đích.

Phẫu thuật: Đa số các trường hợp ung thư trực tràng được chỉ định điều trị bằng phẫu thuật. Tùy vào giai đoạn bệnh mà bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật loại bỏ khối u, cắt trực tràng hoặc cắt bỏ những cơ quan lân cận nếu ung thư đã xâm lấn đến (bàng quang, tử cung, tuyến tiền liệt…). Bệnh nhân có thể được đặt hậu môn nhân tạo hoặc ống thông tiểu nhân tạo nếu cần thiết.

Xạ trị: Xạ trị sử dụng các tia năng lượng cao hoặc chất phóng xạ để điều trị ung thư. Ở giai đoạn sớm, xạ trị thường được thực hiện để thu nhỏ kích thước khối u trước phẫu thuật và tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại sau phẫu thuật. Trong khi đó ở giai đoạn muộn, xạ trị có tác dụng làm giảm triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Hóa trị: Hóa trị tiêu diệt các tế bào ung thư và ngăn chặn sự phát triển của chúng bằng các loại thuốc chống ung thư (hóa chất). Đây là liệu pháp điều trị toàn thân, có tác dụng đối với tế bào ung thư trên toàn cơ thể nên thường được sử dụng để điều trị ung thư trực tràng ở giai đoạn muộn, khi ung thư đã lan rộng đến các cơ quan khác xa trực tràng. Đối với ung thư trực tràng giai đoạn cuối, hóa trị có thể giúp xoa dịu các triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Điều trị trúng đích: Còn gọi là liệu pháp nhắm mục tiêu, cũng sử dụng các loại thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Tuy nhiên phương pháp điều trị trúng đích chỉ tác động đến các tế bào ung thư mà không làm ảnh hưởng đến các tế bào bình thường khác nên sẽ có ít tác dụng phụ hơn.

Việc điều trị bằng phương pháp nào cần có sự chỉ định cụ thể của bác sĩ, do đó người bệnh khi được chẩn đoán mắc ung thư trực tràng người bệnh cần nắm rõ khái niệm ung thư đại tràng là gì kèm theo đó là tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của bác sĩ, nhằm cải thiện sớm tình trạng sức khỏe.

Ung Thư Đại Trực Tràng

Tổng quanUng thư đại trực tràng là loại ung thư thường gặp đứng hàng thứ hai trong các loại ung thư đường tiêu hoá và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư nói chung.Tiên lượng ung thư đại trực tràng khá tốt nếu được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn sớm. Do đó việc nhận biết các yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm ung thư đại trực tràng trong cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng giúp mang lại kết quả tốt trong công tác điều trị.Theo Globocan (Cơ quan ghi nhận ung thư toàn cầu), tại Việt Nam, năm 2012 xuất độ ung thư đại trực tràng ở nam giới là 11.5/100 000 và ở nữ giới là 9.0 /100 000. Tử suất ở nam là 8.0/100 000 và ở nữ là 6.1/100 000.

Yếu tố môi trường:

Chế độ ăn uống: Thực phẩm có một vai trò quan trọng trong việc sinh ung thư đường tiêu hóa nhất là ung thư đại trực tràng.

Ung thư đại trực tràng gặp nhiều ở những người có chế độ ăn nhiều chất mỡ và ít chất sợi.

Hội chứng Lynch là ung thư đại trực tràng không polyp di truyền.

Hội chứng đa polyp đại-trực tràng gia đình. Đây là một bệnh mang yếu tố di truyền tính trội do sự đột biến gen APC (Adenomatous Polyposis Coli) trên nhiễm sắc thể số 5. Bệnh nhân thường trẻ, khoảng 30 tuổi và có từ 100 đến 1000 polyp ở đại trực tràng.

Than phiền của bệnh nhân

Đi cầu có máu trong phân là triệu chứng thường gặp nhất của ung thư đại trực tràng.

Một số triệu chứng đường tiêu hóa thường gặp: Đau bụng, rối loạn thói quen đi cầu như táo bón, táo bón xen kẽ những đợt tiêu chảy, phân nhỏ dẹt, phân lẫn nhày máu.

Có thể sốt, chán ăn mệt mỏi, ăn uống kém, da xanh thiếu máu vì có chảy máu và sụt cân.

Bệnh nhân cũng có thể đến trong tình huống cấp cứu như tắc ruột hoặc thủng ruột.

Khám lâm sàng:

Sờ nắn dọc theo khung đại tràng có thể tìm thấy vùng đau khu trú hoặc sợ được khối u.

2/3 trường hợp ung thư trực tràng có thể sờ được khối u thông qua việc thăm khám hậu môn trực tràng.

Ở các giai đoạn muộn có thể sờ được gan to lổn nhổn, bụng báng và hạch ở trên xương đòn bên trái.

Sau khi hỏi bệnh và khám lâm sàng (bao gồm cả khám trực tràng bằng ngón tay, khám phụ khoa nếu là bệnh nhân nữ) bác sĩ sẽ thực hiện một số xét nghiệm sau:

Nội soi: nội soi ống cứng giúp phát hiện những tổn thương của trực tràng, nội soi ống mềm được chỉ định thường quy nhằm xác định các tổn thương toàn bộ đại trực tràng và sinh thiết giúp chẩn đoán xác định bệnh.

Siêu âm qua ngã nội soi để đánh giá độ lan rộng của bướu và tình trạng hạch.

Chụp CT ngực, bụng chậu, hoặc MRI vùng chậu để khảo sát vị trí, độ lan rộng của bướu, hạch di căn…giúp xếp giai đoạn bệnh trước khi phẫu thuật.

Tìm đột biến gen như đột biến APC, MLH1, MSH2, MSH6, EPCAM, PMS2…

Ngoài ra còn cần thêm các xét nghiệm máu, sinh hóa và các xét nghiệm khác khi có chỉ định.

Để tìm kiếm các di căn xa, các xét nghiệm sau đây có thể được chỉ định:

X-quang ngực thẳng

Siêu âm bụng

Xét nghiệm chức năng gan

PET

CEA scan

Xạ hình xương

CT sọ não

Ngày nay, phân loại được áp dụng phổ biến nhất là phân loại theo TNM của American Joint Committee on Cancer (AJCC) and the International Union against Cancer (UICC).

Khối u (T):

o Tis: carcinoma in situ

o T1: carcinoma xâm lấn tới lớp dưới niêm mạc

o T2: carcinoma xâm lấn tới lớp cơ

o T3: carcinoma xâm lấn qua lớp cơ nhưng chưa qua lớp thanh mạc (hay xâm lấn vào mô quanh trực tràng phần ngoài phúc mạc)

o T4: carcinoma xâm lấn vào các tạng, cấu trúc lân cận hay thủng

Hạch (N):

o N0: chưa di căn hạch vùng

o N1: di căn 1-3 hạch vùng

o N2: di căn 4 hạch vùng trở lên

Di căn xa (M):

o M0: chưa di căn xa.

o M1: di căn xa

Đánh giá giai đoạn ung thư đại trực tràng theo AJCC (*) Dukes: Phân loại theo Cuthbert Dukes

Các phương pháp điều trị Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu: Cắt bỏ đại tràng phải hoặc đại tràng trái tùy theo vị trí khối u cùng với nạo hạch và tái lập lưu thông đường tiêu hoá.

Xạ trị

Đối với ung thư đại tràng: Vai trò của xạ trị hỗ trợ sau phẫu thuật cắt đại tràng chưa thực sự vai trò rõ ràng. Khác với ung thư đại tràng, xạ trị có vai trò khá quan trọng trong điều trị ung thư trực tràng.

Xạ trị trước phẫu thuật: Mục đích để giảm giai đoạn khối u, tăng khả năng phẫu thuật, tăng khả năng bảo tồn cơ thắt hậu môn, giảm nguy cơ tái phát sau mổ.

Xạ trị sau phẫu thuật: Nhằm giảm nguy cơ tái phát sau mổ.

Chưa có bằng chứng rõ ràng của việc cải thiện tiên lượng sống của xạ trị trước và sau mổ. Tuy nhiên, xạ trị hỗ trợ (trước hoặc sau mổ) làm giảm rõ rệt tỉ lệ tái phát tại chỗ.

Hóa trị

Từ giai đoạn III của ung thư đại trực tràng, hoá trị hỗ trợ sau mổ làm cải thiện tiên lượng sống còn của bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng.

Hướng dẫn điều trị ung thư đại tràng theo từng giai đoạn

Giai đoạn I: cắt đại tràng

Giai đoạn II:

o Cắt đại tràng

o Không khuyến cáo điều trị hỗ trợ

Giai đoạn III:

o Cắt đại tràng

o Hoá trị hỗ trợ sau mổ

o Xạ trị hỗ trợ: hiện tại chưa có vai trò trong điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật cắt đại tràng triệt căn.

Giai đoạn IV:

o Cắt đoạn đại tràng nếu khối u có thể cắt được

o Nối tắt qua chỗ tắc nghẽn hay chảy máu.

o Cắt bỏ khối di căn đơn độc (gan, phổi, buồng trứng) nếu có thể

o Riêng khối di căn gan không cắt được: có thể huỷ khối u bằng nhiệt, bằng sóng cao tần hay hoá trị thuyên tắc khối bướu qua động mạch gan.

Hướng dẫn điều trị ung thư trực tràng theo từng giai đoạn

Giai đoạn 0: Có thể chọn lựa một trong 4 phương pháp sau:

Giai đoạn I:

Phẫu thuật cắt trực tràng

Phẫu thuật cắt trực tràng (với bờ cắt không có tế bào ung thư) kết hợp hoá-xạ bổ túc sau mổ

Giai đoạn II:

Phẫu thuật cắt trực tràng kết hợp với hoá-xạ bổ túc sau mổ

Phẫu thuật đoạn chậu

Giai đoạn III:

Phẫu thuật cắt trực tràng kết hợp với xạ trị trước mổ và hoá-xạ bổ trợ sau mổ:

Phẫu thuật đoạn chậu

Hoá-xạ trị giảm nhẹ

Giai đoạn IV:

Cắt nối đoạn trực tràng có khối u với tính cách thuyên giảm, nối tắt qua khối u hay làm hậu môn nhân tạo trên dòng

Cắt các khối di căn biệt lập ở gan, phổi, buồng trứng

Hoá-xạ trị giảm nhẹ

Tỉ lệ sống còn sau 5 năm:

o Giai đoạn I: 90%

o Giai đoạn II: 75%

o Giai đoạn III: 50%

o Giai đoạn IV (nếu có di căn xa): 5%

Tỉ lệ tái phát: 5-30%. Tái phát thường xảy ra trong 2 năm đầu sau phẫu thuật. Thường là tái phát tại chỗ.

Các phương tiện tầm soát ung thư trực tràng:

o Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân

o X-quang đại tràng

o Nội soi trực tràng, ống soi cứng

o Nội soi đại tràng xích-ma

o Nội soi khung đại tràng: hiện nay là phương tiện được chỉ định phổ biến nhất

Hướng dẫn tầm soát ung thư đại trực tràng:

Đối với bệnh nhân trên 60 tuổi, bệnh nhân bị viêm loét đại tràng trên 10 năm: khuyến cáo nội soi đại tràng mỗi 3-5 năm

Đối với bệnh nhân có hội chứng đa polyp:

o Hội chứng Lynch (HNPCC):

Nội soi đại tràng mỗi 2 năm, bắt đầu từ năm 20 tuổi, sau đó mỗi năm khi tuổi trên 40.

Siêu âm qua ngã âm đạo và sinh thiết niêm mạc tử cung mỗi 1-2 năm, bắt đầu từ năm 25-35 tuổi.

Siêu âm hệ niệu và xét nghiệm nước tiểu mổi 1-2 năm, bắt đầu từ năm 30-35 tuổi.

o Hội chứng FAP:

Nội soi đại tràng mỗi năm, bắt đầu từ năm 10 tuổi

Nội soi dạ dày-tá tràng mỗi 1-3 năm, bắt đầu từ năm 20-25 tuổi

Thăm khám tuyến giáp và hệ thần kinh trung ương hàng năm

Chịu trách nhiệm nội dung: BS Hoàng Đình Kính

Ung thư đại trực tràng – Bài giảng ung thư học ĐH Y dược TPHCM

O’Sullivan, Brian, et al.UICC manual of clinical oncology. John Wiley & Sons, 2015.

3. Hagop M. Kantarjian Dr. MD, et all. The MD Anderson Manual of Medical Oncology, Third Edition.

US Preventive Services Task Force. “Screening for colorectal cancer: recommendation and rationale.”Annals of internal medicine 2 (2002): 129.

Bạn đang xem bài viết Ung Thư Dại Tràng Và Trực Tràng trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!