Xem Nhiều 2/2023 #️ Ung Thư Hạch (U Lympho) # Top 8 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ung Thư Hạch (U Lympho) # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Hạch (U Lympho) mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt bệnh Ung thư hạch (U lympho)

Ung thư hạch là sự phát triển bất thường của u Lympho không Hodgkin, được phát hiện lần đầu ở trẻ em châu Phi. Bệnh thường bắt đầu ở vùng bụng.

Triệu chứng

Nổi nhiều u, bướu không đau, các u này mọc gần nhau và phát triển rất nhanh, đau bụng, nôn mửa, sốt, đổ mồ hôi vào ban đêm.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

Các xét nghiệm khác thường bao gồm: sinh thiết hạch, chụp X-quang, quét CT bụng và ngực, chụp cắt lớp phát xạ (PET scan), sinh thiết và phân tích dịch não tủy.

Xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC), bảng chuyển hóa toàn diện (CMP). Các xét nghiệm bổ sung có thể được yêu cầu.

Điều trị

Điều trị bao gồm: hóa trị và ghép tủy xương.

Tổng quan bệnh Ung thư hạch (U lympho)

Bệnh u Lympho, còn gọi là ung thư hạch. Đây là bệnh lý ung thư của hệ lympho tức là hệ bạch huyết.

Hệ bạch huyết thuộc hệ tuần hoàn và là một phần của hệ miễn dịch nên có nhiệm vụ vừa chống lại các bệnh nhiễm trùng vừa cân bằng lượng dịch trong cơ thể. Hệ bạch huyết bao gồm: mạch bạch huyết, kế đến là các hạch bạch huyết và các tổ chức khác như amiđan, tuyến ức, lách, tủy xương và các mô bạch huyết.

Mạch bạch huyết: Là một mạng lưới các ống, chia nhánh tỏa khắp cơ thể. Mạch bạch huyết chứa chất dịch gọi là dịch bạch huyết mang các tế bào lympho đi khắp nơi trong cơ thể. Tế bào lympho là một loại tế bào bạch cầu đảm nhiệm vai trò bảo vệ cơ thể. Khi có vi khuẩn hay những chất tác hại xâm nhập vào cơ thể, các tế bào này lập tức phản ứng để cô lập và tiêu diệt vi khuẩn.

Hạch bạch huyết: Là các tuyến nhỏ nằm ở khắp nơi trong cơ thể. Mỗi hạch có thể có kích thước nhỏ cỡ đầu đinh ghim cho đến to bằng hạt đậu, thường xếp thành nhóm hay chuỗi, nằm ở cổ, nách, trong lồng ngực, khoang bụng và hai bên bẹn. Các hạch bạch huyết chính là các cơ quan sản xuất ra các tế bào lympho và nếu từ các tế bào lympho này phát triển bất thường sẽ sinh ra bệnh ung thư mà ta gọi là bệnh u lympho.

Ngoài ra, các tế bào lympho còn có trong các tổ chức khác như amiđan, tuyến ức, lách, tủy xương và các mô bạch huyết nằm trong các cơ quan trong cơ thể.

Nguyên nhân bệnh Ung thư hạch (U lympho)

Bệnh u Lympho là bệnh ung thư hệ bạch huyết xảy ra khi có sự sai lệch trong quá trình hình thành tế bào lympho, tạo ra những tế bào lympho bất thường mang các đặc điểm:

Sinh sản gấp nhiều lần so với sự sinh sản của tế bào bình thường.

Các tế bào mới sinh ra không trưởng thành cũng không chết đi. Chúng lại tiếp tục sinh sản tạo ra các tế bào không có chức năng đến một lúc nào đó làm phá vỡ cấu trúc của các tổ chức bạch huyết, rõ nhất là các hạch bạch huyết, làm cho các hạch phì đại và to ra mà ta có thể sờ thấy được.

Dựa vào mô học, bệnh u lympho được chia làm hai nhóm chính là bệnh Hodgkin và bệnh u lympho không Hodgkin. Hai loại này có triệu chứng gần giống nhau, đều có hạch to nhưng về tần suất thì Hodgkin ít gặp hơn so với u lympho không Hodgkin và tiên lượng thì tốt hơn.

Phòng ngừa bệnh Ung thư hạch (U lympho)

Hầu như không thể ngăn ngừa bệnh từ các yếu tố nguy cơ.

Điều trị bệnh Ung thư hạch (U lympho)

1. Hóa trị:

Các thuốc hóa trị cũng được biết đến như các chất độc hại cho tế bào. Chúng tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng cũng có thể giết chết một số tế bào bình thường, chẳng hạn như các tế bào máu. Như vậy, các biến chứng như thiếu máu và dễ bị nhiễm trùng có thể xảy ra. Đặc biệt, các nhiễm trùng cơ hội và các nhiễm trùng đe dọa tính mạng trong thời kỳ tế bào bạch cầu thấp luôn luôn đáng sợ.

2. Xạ trị:

Điều trị bức xạ (còn gọi là xạ trị) sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào u lympho không Hodgkin. Nó có thể thu nhỏ các khối u và giúp giảm đau. Hai loại xạ trị được sử dụng cho những người bị bệnh u lympho:

Bức xạ bên ngoài: Một máy lớn nhắm các tia tại một phần của cơ thể, nơi các tế bào u lympho đã tụ tập lại. Đây là liệu pháp địa phương bởi vì nó chỉ ảnh hưởng đến các tế bào trong khu vực được điều trị. Hầu hết mọi người đi đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế để điều trị 5 ngày một tuần trong vài tuần.

Bức xạ toàn thân: Một số người bị u lympho được tiêm chất phóng xạ hoạt tính mà nó đi khắp cơ thể. Chất phóng xạ hoạt tính này được gắn với các kháng thể mà nó nhắm đến và tiêu diệt các tế bào u lympho.

3. Cấy ghép tế bào gốc:

Phương pháp này có thể được sử dụng trong điều trị các u lympho. Phương pháp này thường dùng trong các trường hợp tái phát hoặc các trường hợp khó chữa. Nó còn được gọi là hóa trị liều cao. Nguyên lý là sử dụng liều cao của hóa trị để diệt trừ/chiến thắng các tế bào u lympho kháng thuốc. Các tế bào gốc được sử dụng để “giải cứu” bệnh nhân do đó các tác dụng phụ của hóa trị liều cao có thể được đảo lại nhanh chóng.

4. Liệu pháp sinh học:

Nó chủ yếu bao gồm các kháng thể đơn dòng. Đây là những phân tử protein chuyên biệt có thể liên kết với các tế bào u lympho nhất định (thông qua các dấu hiệu trên bề mặt tế bào) và giết chúng trong quá trình này. Các ví dụ như MabThera cho u lympho tế bào B có các dấu hiệu bề mặt CD-20 và Campath cho các u lympho tế bào T nhất định.

U Lympho (Ung Thư Máu)

U lympho là một loại ung thư máu ảnh hưởng đến các tế bào lympho, một loại tế bào bạch cầu cấu thành nên một phần hệ miễn dịch và giúp chống nhiễm trùng.

Ở bệnh u lympho, tế bào lympho B (tế bào B) hoặc tế bào lympho T (tế bào T) có những thay đổi nguy hại và phát triển ngoài tầm kiểm soát. Các tế bào lympho bất thường này lấn át những tế bào khỏe mạnh, làm ảnh hưởng đến chức năng bình thường của hệ miễn dịch.

U lympho bao gồm các loại chính sau đây:

U lympho Hodgkin – thường gặp ở người lớn trẻ tuổi từ 15 – 30 tuổi và người lớn trên 50 tuổi

U lympho không Hogdkin – thường gặp ở người lớn tuổi hơn

U lympho có thể ảnh hưởng đến hệ bạch huyết, bao gồm các hạch bạch huyết, lá lách, tuyến ức và tủy xương, cũng như các cơ quan khác trong cơ thể.

U lympho Hodgkin:

Có nhiều loại u lympho Hodgkin, bao gồm những dạng hiếm gặp và khó xác định được. Phân loại u lympho bao gồm:

Thể xơ nốt – thường gặp ở người lớn trẻ tuổi hơn là các nhóm tuổi khác

Thể nhiều tế bào lympho – thường gặp hơn ở nam giới

Thể ít tế bào lympho – hiếm gặp và tiến triển nhanh hơn

Thể hỗn hợp tế bào – thường gặp hơn ở nam giới trưởng thành

Khi lập kế hoạch điều trị, việc chẩn đoán và xác định giai đoạn chính xác là điều rất quan trọng. U lympho bao gồm các giai đoạn chính sau đây:

Giai đoạn 1 – U lympho xảy ra ở 1 hạch bạch huyết, một nhóm hạch bạch huyết, hoặc 1 cơ quan

Giai đoạn 2 – U lympho xảy ra ở 2 vùng hạch bạch huyết hoặc nhiều hơn, hoặc khi nó đã xâm lấn một cơ quan và các hạch bạch huyết xung quanh. Các điểm ung thư vẫn giới hạn ở một phía của cơ hoành.

Giai đoạn 3 – Ung thư lan ra cả hai phía của cơ hoành

Giai đoạn 4 – Ung thư lan ra nhiều điểm ở 1 hoặc nhiều cơ quan và mô khác nhau. Đây là giai đoạn cuối của u lympho Hodgkin và không chỉ ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết mà còn đến các phần khác trong cơ thể, như gan, phổi và xương.

U lympho không Hodgkin:

Đây là một nhóm bệnh ác tính hỗn tạp của hệ bạch huyết. Loại u lympho không Hodgkin thường gặp nhất là u lympho tế bào B lớn lan tỏa.

Các giai đoạn của u lympho không Hodgkin cũng tương tự như u lympho Hodgkin.

U Lympho Hodgkin – Ung Thư Học

U lympho Hodgkin được đặt theo tên Thomas Hodgkin, người đầu tiên mô tả một số bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết vào năm 1832. Năm 2008, tổ chức y tế thế giới (WHO) chia HL thành 2 nhóm phân biệt: HL kinh điển được đặc trưng bởi sự hiện diện của tế bào u khổng lồ đa nhân có nguồn gốc tế bào B (tế bào Reed-Sternberg) và HL thể nốt trội lympho bào với tế bào L&H.

– HL thể nốt trội tế bào lympho (Nodular lymphocyte predominant – NLPHL): + Chiếm tỷ lệ <5% HL. + Tỷ lệ nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới. + Giai đoạn I thường biểu hiện ở một vị trí hạch ngoại vi (cổ, nách hay bẹn), rất hiếm khi gặp hạch trung thất ở thời điểm khởi phát bệnh. + Đặc trưng bởi sự hiện diện của một biến thể của tế bào Reed-Sternberg, với tên gọi tế bào L & H hay tế bào “bắp rang” (popcorn cell), tế bào này bộc lộ các dấu ấn bề mặt của tế bào lympho B (CD20+), âm tính với CD15 và CD30. + Tiên lượng tuyệt vời khi phát hiện bệnh ở giai đoạn khu trú, giai đoạn muộn có tiên lượng tương tự HL kinh điển. + Bệnh có thể tái phát muộn (trên 5-10 năm) trong một số trường hợp, nhưng thường vẫn có khả năng điều trị. + Hiếm khi chuyển dạng thành thể ác tính hơn của u lympho tế bào B (u lympho tế bào B lớn lan toả).

– HL kinh điển (Classical Hodgkin lymphoma): + Bao gồm các thể: giàu lympho bào (lymphocyte rich), xơ nốt (nodular sclerosis), hỗn hợp (mixed cellularity), và thể mất lympho bào (lymphocyte-depleted). + Tế bào ác tính đặc trưng là tế bào Reed-Sternberg (RS): CD30+, CD15+, CD45- và J-chain âm tính. + CHL giàu lympho bào: không hay gặp (5% HL), thường biểu hiện với bệnh cảnh khu trú tại một vùng hạch ngoại vi. + Thể xơ nốt: dưới nhóm HL phổ biến nhất tại các nước phương Tây, 65-70% tại Mỹ. Đây là dưới nhóm duy nhất không thể hiện sự ưu thế của nam giới trong tỷ lệ mắc. Mô u có hình thái dạng nốt cùng với các dải collagen, tế bào u đặc trưng bởi tế bào khuyết (lacunar cell – biến thể của tế bào RS). Đa số được phát hiện ở giai đoạn sớm (I hoặc II) với biểu hiện tại hạch cổ và trung thất. + Thể mất lympho bào: hiếm gặp, dễ nhầm lẫn với u lympho không Hodgkin, có tiên lượng xấu.

Tiêu chuẩn định týp miễn dịch trong phân loại u lympho Hodgkin

Dấu ấn

NLPHL

HL kinh điển

CD45

+

CD30

+

CD15

+

CD20

+

-/+

EMA

+/-

LCA

+

BCL-6

+

Oct 2, BOB.I

+

II. Xếp loại giai đoạn và tiên lượng 1. Hệ thống Ann Arbor: UICC sử dụng hệ thống phân loại Ann Arbor cho u lympho Hodgkin.

Giai đoạn

U lympho Hodgkin

I

Biểu hiện tại một vùng hạch Hoặc biểu hiện 1 ổ khu trú tại một cơ quan hay 1 vị trí ngoài hệ bạch huyết (*) (gan, phổi, tuỷ xương, xương) (IE)

II

Hai hoặc nhiều hơn hai vùng hạch, cùng phía (trên hoặc dưới) so với cơ hoành – Kèm theo tổn thương 1 ổ khu trú tại một cơ quan hay vị trí ngoài hệ bạch huyết VÀ hạch vùng tương ứng.(IIE)

III

Biểu hiện tại các vùng hạch ở cả hai phía cơ hoành – Cộng thêm 1 ổ khu trú tại một cơ quan hay 1 vị trí ngoài hệ bạch huyết LÂN CẬN với một trong các vùng hạch trên (IIIE) – Cộng thêm tổn thương tại Lách (IIIS) – Có thêm cả hai yếu tố trên (III E+S)

IV

Lan tràn tại nhiều cơ quan hay vị trí ngoài hệ bạch huyết hoặc biểu hiện đa ổ tại một cơ quan, +/- tổn thương tại hạch HOẶC: Tổn thương khu trú tại một cơ quan hay 1 vị trí ngoài hệ bạch huyết kèm theo hạch nằm ngoài phạm vi hạch vùng tương ứng.

Các “hậu tố” khác A: không có sụt cân/sốt/ra mồ hôi trộm B: có sụt cân/sốt/ra mồ hôi trộm X: khối hạch có đường kính lớn nhất trên 10cm hoặc khối trung thất có đường kính lớn hơn 1/3 đường kính lồng ngực.

(*) Các vị trí ngoài hệ bạch huyết bao gồm các vị trí không phải hạch bạch huyết, vòng Waldeyer, mảng Peyer thành ruột, lách và tuyến ức.

2. Các yếu tố tiên lượng:

– Các yếu tố có ý nghĩa tiên lượng quan trọng nhất đối với HL giai đoạn I/II gồm giai đoạn bệnh theo Ann Arbor, khối hạch lớn (tumour bulk), có các triệu chứng B, số lượng vùng hạch tổn thương, tốc độ máu lắng và biểu hiện tại các cơ quan ngoài hệ bạch huyết. Bên cạnh đó, tuổi và tình trạng bệnh kết hợp là hai yếu tố cần được tính đến khi lập kế hoạch điều trị. – Nhiều nhóm nghiên cứu kết hợp các yếu tố trên theo những cách khác nhau để xếp loại bệnh nhân thành các nhóm có tiên lượng “thuận lợi” hay “bất lợi” hay “trung gian” nhằm giúp bác sỹ thực hành quyết định chiến lược và phương pháp điều trị. Đối với HL giai đoạn I/II, hệ thống phân nhóm tiên lượng được sử dụng rộng rãi nhất được xây dựng bởi nhóm nghiên cứu Hodgkin của Đức (German Hodgkin Study Group – GHSH) gồm: + Nhóm tiên lượng “thuận lợi: không có các yếu tố như khối trung thất lớn, tốc độ máu lắng trên 50 (không kèm theo triệu chứng B) hoặc trên 30 (nếu kèm theo triệu chứng B), có tổn thương ngoài hạch, biểu hiện tại nhiều hơn 2 vùng hạch. + Nhóm tiên lượng “bất lợi”: có một trong các yếu tố trên. – Ngoài ra, điểm số tiên lượng quốc tế (International Pronostic score –IPS) đã được xây dựng và kiểm chứng dành cho giai đoạn tiến triển, dựa trên 7 yếu tố: + Giới tính Nam + Tuổi trên 45 + Giai đoạn IV theo Ann Arbor + Huyết sắc tố < 105g/L + Albumin huyết thanh < 40g/L + Số lượng bạch cầu máu ngoại vi trên 15 G/L + Số lượng bạch cầu lympho trong máu ngoại vi < 0,6 G/L (hoặc tỷ lệ bạch cầu lympho <8%). Bệnh nhân được phân tầng nguy cơ dựa trên sự hiện diện hay không của mỗi yếu tố trên. Tiên lượng “bất lợi” nếu có từ 3 yếu tố trở lên. Tỷ lệ sống thêm không tiến triển (PFS) 5 năm tương ứng: 84% (có 0 yếu tố), 77% (1 yếu tố), 67% (2 yếu tố), 60% (3 yếu tố), 51% (4 yếu tố), 42% (trên 5 yếu tố). – Những bằng chứng gần đây cho thấy PET-CT tại thời điểm sau từ 1 đến 3 chu kỳ hoá trị cho phép đánh giá sớm đáp ứng về mặt chuyển hoá, điều này có giá trị về mặt tiên lượng. Do đó, PET-CT bắt đầu được thử nghiệm đưa vào trong các hệ thống phân nhóm tiên lượng trong u lympho.

III. Nguyên tắc điều trị u lympho Hodgkin

Chiến lược điều trị u lympho Hodgkin

Giai đoạn I/II HL thể nốt trội lympho bào

– Xạ trị: xạ trị tại vùng hạch bệnh lý (ISRT – Involved site radiation) đơn thuần, tổng liều 30-35 Gy với phân liều 1,75-2 Gy.

– Lựa chọn thay thế: phối hợp đa mô thức như HL kinh điển giai đoạn I/II

Giai đoạn I/II HL kinh điển (tiên lượng “thuận lợi”

– Đa mô thức: hoá trị ABVD x 2 chu kỳ dẫn đầu trước xạ trị tại vùng hạch bệnh lý (ISRT) với tổng liều 20 Gy.

– Lựa chọn thay thế: hoá trị đơn thuần ABVD x 4-6 chu kỳ, với những trường hợp lo ngại tác dụng phụ muộn của xạ trị.

Giai đoạn I/II HL kinh điển (tiên lượng “bất lợi”)

– Đa mô thức: hoá trị ABVD x 4 chu kỳ dẫn đầu trước xạ trị (ISRT) với tổng liều 30 Gy.

– Lựa chọn thay thế: hoá trị đơn thuần ABVD x 4-6 chu kỳ.

Giai đoạn III/IV

– Hoá trị +/- xạ trị củng cố (tuỳ theo đáp ứng)

– Lựa chọn khác: hoá trị liều cao (Ví dụ: BEACOPP tăng liều x 6-8 chu kỳ)

Theo dõi sau điều trị

– Sau điều trị triệt căn, cắt lớp vi tính hoặc PET-CT để đánh giá đáp ứng sau 6-8 tuần.

– Theo dõi tác dụng phụ của điều trị có thể xuất hiện muộn: huyết học, tim, tuyến giáp)

– Theo dõi tầm soát ung thư thứ 2 có thể xuất hiện.

HL kháng với điều trị ban đầu và HL tái phát

– Vẫn có thể điều trị với mục tiêu triệt căn cho hầu hết trường hợp.

– Hoá trị với một số phác đồ như GDP, DHAP, ICE, trước khi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, cân nhắc có/không xạ trị củng cố)

– Tỷ lệ sống thêm không bệnh 5 năm có thể kỳ vọng đến 40-60% với những bệnh nhân được ghép tế bào gốc.

– Điều trị với mục tiêu triệu chứng cho những trường hợp không dự kiến ghép tế bào gốc.

Mọi câu hỏi, đóng góp ý kiến, chỉnh sửa, bạn đọc vui lòng để lại tin nhắn trong phần Bàn luận dưới mỗi bài viết.

BSNT. Trần Trung Bách

Bệnh U Lympho Tế Bào T Là Gì?

Ung thư hạch không Hodgkin có thể được chia thành hai nhóm: u lympho tế bào B và u lympho tế bào T. U lympho tế bào T có nhiều dạng. Điều trị và triển vọng chung phụ thuộc vào loại và mức độ tiến triển của bệnh khi chẩn đoán. 1. Những dấu hiệu và triệu chứng u lympho tế bào T là gì? Bạn có thể không có bất kỳ dấu hiệu của bệnh trong giai đoạn đầu. Các triệu chứng khác nhau tùy theo loại u lympho tế bào T cụ thể. a. Các dấu hiệu và triệu chứng của loại mycosis fungoides • Các mảng da phẳng, có vảy • Các mảng da dày, nổi lên bề mặt • Các khối u có thể hoặc không phát triển thành vết loét • Ngứa b. Các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng Sézary • Phát ban đỏ, ngứa bao phủ phần lớn cơ thể và có thể cả mí mắt • Những thay đổi đối với móng tay và tóc • Các hạch bạch huyết sưng to • Phù nề hoặc sưng c. Các dấu hiệu khác của u lympho tế bào T • Chảy máu hoặc bầm tím dễ dàng • Nhiễm trùng tái phát • Sốt hoặc ớn lạnh không rõ nguyên nhân • Mệt mỏi • Đau bụng dai dẳng ở phía bên trái do lách sưng to • Bụng đầy chướng • Đi tiểu thường xuyên • Táo bón 2. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc u lympho tế bào T • Tuổi tác: hầu hết các u lympho xảy ra ở những người từ 60 tuổi trở lên, nhưng một số loại có nhiều khả năng ảnh hưởng đến trẻ em và thanh niên. • Giới tính: một số loại bệnh có khả năng xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn, những loại khác có nhiều khả năng ảnh hưởng ở nam giới hơn. • Chủng tộc và địa điểm: Bệnh phổ biến hơn ở các nước phát triển. • Suy giảm miễn dịch: người có hệ miễn dịch yếu có nguy cơ cao hơn mắc bệnh. Điều này có thể là do nhiễm HIV/AIDS, các thuốc được kê toa sau cấy ghép nội tạng. • Bệnh tự miễn dịch: hệ miễn dịch tấn công vào các tế bào của cơ thể, ví dụ như viêm khớp dạng thấp và bệnh celiac. • Nhiễm trùng: một số bệnh nhiễm trùng do virus và vi khuẩn biến đổi các tế bào lympho làm tăng nguy cơ mắc bệnh, như virus Epstein-Barr (EBV) gây ra bệnh sốt các tuyến. • Cấy ghép vú: có thể gây ra tình trạng u lympho tế bào lớn tự ghép trong mô vú. 3. Chẩn đoán Không có xét nghiệm thường quy nào để tầm soát ung thư hạch. Nếu bạn có triệu chứng nhiễm virus dai dẳng, bạn nên đi khám bác sĩ. Bác sĩ sẽ hỏi về bệnh án của cá nhân và gia đình cũng như cố gắng loại trừ các tình trạng khác. Bác sĩ cũng tiến hành khám sức khỏe, bao gồm kiểm tra bụng, cằm, cổ, háng và nách, nơi có thể xảy ra sưng. Họ sẽ tìm ra các dấu hiệu nhiễm trùng gần hạch bạch huyết, vì điều này có thể giải thích cho hầu hết các trường hợp bị sưng. Các xét nghiệm để chẩn đoán u lympho tế bào T gồm: • Xét nghiệm máu và sinh thiết có thể phát hiện sự hiện diện của u lympho và phân biệt chúng. Sinh thiết và các xét nghiệm khác có thể xác nhận giai đoạn ung thư, để xác định xem ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể hay không. • Các xét nghiệm hình ảnh như chụp CT hoặc MRI, chụp X-quang ngực, bụng và xương chậu, siêu âm hoặc chụp PET. • Chọc dịch não tủy bằng một kim dài và mỏng vào nơi được gây tê tại chỗ để loại trừ và kiểm tra dịch tủy sống. Giai đoạn của bệnh ung thư phụ thuộc vào loại, tốc độ tăng trưởng và đặc điểm tế bào. Trong giai đoạn 0 hoặc 1, ung thư bị giới hạn ở một khu vực nhỏ. Ở giai đoạn 4, nó đã lan đến các cơ quan xa hơn. U lympho cũng có thể được mô tả là không ổn định, giới hạn ở một nơi hoặc hung hăng, lan rộng đến các bộ phận khác của cơ thể. 4. Phương pháp điều trị Kế hoạch điều trị sẽ tùy thuộc vào loại u lympho tế bào T và mức độ tiến triển của nó. Đôi khi, nhiều liệu pháp được kết hợp trong điều trị. a. Các phương pháp điều trị da Một số thuốc mỡ, kem và gel có thể bôi trực tiếp lên da để kiểm soát các triệu chứng và thậm chí tiêu diệt các tế bào ung thư. Một số phương pháp điều trị tại chỗ là: • Retinoid (thuốc có nguồn gốc từ vitamin A). Tác dụng phụ tiềm ẩn của thuốc là ngứa, kích thích và nhạy cảm với ánh sáng mặt trời. Retinoid không nên được sử dụng trong khi mang thai. • Corticosteroid. Sử dụng lâu dài các thuốc corticosteroid tại chỗ có thể dẫn đến teo da. • Hóa trị tại chỗ. Các phản ứng phụ có thể bao gồm đỏ và sưng. Phương pháp này cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc các loại ung thư khác. Tuy nhiên, hóa trị tại chỗ có xu hướng gây ít tác dụng phụ hơn so với hóa trị liệu bằng đường uống hoặc tĩnh mạch. b. Các phương pháp điều trị toàn thân Các loại thuốc trị u lympho tế bào T bao gồm thuốc viên, thuốc tiêm và thuốc tiêm tĩnh mạch. Các liệu pháp nhắm mục tiêu và các loại thuốc hóa trị thường được kết hợp để cho hiệu quả tối đa. Phương pháp điều trị toàn thân có thể bao gồm: • Kết hợp hóa trị gọi là CHOP, bao gồm cyclophosphamide, hydroxydoxorubicin, vincristine và prednisone • Các thuốc hóa trị mới như pralatrexate (Folotyn) • Các loại thuốc nhắm mục tiêu như bortezomib (Velcade), belinostat (Beleodaq) hoặc romidepsin (Istodax) • Các loại thuốc điều trị miễn dịch như alemtuzumab (Campath) và denileukin diftitox (Ontak) Trong những trường hợp tiến triển, bạn có thể cần duy trì hóa trị đến 2 năm. c. Quang trị liệu Ánh sáng UVA và UVB có thể tiêu diệt tế bào ung thư trên da. Liệu pháp ánh sáng thường được sử dụng nhiều lần trong tuần bằng các loại đèn đặc biệt. Điều trị bằng ánh sáng UVA được kết hợp với các loại thuốc psoralens. Ánh sáng UVA kích hoạt psoralens để tiêu diệt tế bào ung thư. d. Xạ trị Xạ trị sử dụng các hạt phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư. Các chùm tia được chiếu vào da bị ảnh hưởng nên không gây tác động đến các cơ quan nội tạng. Bức xạ có thể gây kích ứng da tạm thời và mệt mỏi. e. Quang lọc máu ngoài cơ thể Phương pháp này được sử dụng để điều trị mycosis fungoides hoặc hội chứng Sézary. Trong hai ngày làm thủ thuật, máu được đưa ra ngoài và điều trị bằng ánh sáng tia cực tím và các loại thuốc kích hoạt khi tiếp xúc với ánh sáng, giết chết các tế bào ung thư. Sau khi máu được điều trị, nó sẽ được đưa trở lại cơ thể. g. Ghép tế bào gốc Ghép tế bào gốc là khi tủy xương bệnh được thay thế bằng tủy từ một người hiến tặng khỏe mạnh. Trước khi phẫu thuật, bạn cần dùng hóa trị để ức chế tủy xương ung thư.

Bạn đang xem bài viết Ung Thư Hạch (U Lympho) trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!