Xem Nhiều 2/2023 #️ Ung Thư Tuyến Giáp: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Bệnh Học Chẩn Đoán Điều Trị # Top 6 Trend | Brandsquatet.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ung Thư Tuyến Giáp: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Bệnh Học Chẩn Đoán Điều Trị # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Tuyến Giáp: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Bệnh Học Chẩn Đoán Điều Trị mới nhất trên website Brandsquatet.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ung thư tuyến giáp chiếm tỷ lệ 1% trong số những trường hợp tử vong do ung thư, đây là một nhóm bệnh có tiên lượng rất khác nhau, người ta chia ra:

Những ung thư biểu mô tế bào tuyến giáp bao gồm:

Ung thư biệt hoá, tiên lượng tốt nếu điều trị đúng, bệnh dễ xuất hiện khi chiếu xạ ở cổ từ tuổi thiếu niên hoặc nhiễm nguyên tử.

Ung thư không biệt hoá tiên lượng rất xấu.

Những ung thư biểu mô tuỷ, phát triển từ tế bào C của tuyến giáp.

Cá biệt có lymphoma hoặc ung thư nơi khác di căn đến

Ung thư tuyến giáp biệt hoá

Tỷ lệ gặp cao, nhất là ở phụ nữ trẻ, tiên lượng tốt. Đôi khi có khă năng bắt giữ iode, nhưng hiếm khi là u tiết.

Chiếm 50% các trường hợp, gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở trẻ em và thanh niên trước 40 tuổi, chiếu xạ vùng cổ là điều kiện thuận lợi gây K biểu mô nhú, K lan rộng theo đường bạch huyết, có khi bệnh được gợi ý ban đầu từ một hạch di căn ở vùng cổ.

Xạ hình u bắt iode kém (vùng “lạnh”).

K biểu mô nang (carcinome folliculaire):

Chiếm dưới 25% các trường hợp, hay gặp ở lứa tuổi 40-60, di căn bằng đường máu

đến xương, phổi, gan.

Xạ hình u có thể bắt iode không đều, điểm di căn cũng có thể bắt giữ iode phóng xạ.

K biểu mô tuỷ (carcinome medullaire):

Hoặc chất đệm dạng bột (struma amyloide), hoặc cận nang (parafolliculaire), chiếm dưới 5% các trường hợp, thường gặp sau 50 tuổi, lan rộng bằng đường máu và đường bạch huyết, có khi phối hợp với các u khác như pheochromocytome (Hội chứng Sipple), có thể có tinh gia đình.

Xạ hình u không bắt iode (vùng lạnh). Chẩn đoán dựa vào định lượng calcitonine huyết tương tăng, định lượng sau kích thích với pentagatrine thấy calcitonine tăng rất nhiều. Kháng nguyên biểu mô phôi (ACE) thường tăng.

Ung thư tuyến giáp không biệt hoá

K biểu mô không biệt hoá, chiếm khoảng 20% các trường hợp, thường xuất hiện sau

50 tuổi, từ một nốt đơn độc lan rất nhanh đến vùng lân cận, gây triệu chứng chèn ép. Diễn tiến nặng nhanh trong vòng vài tháng.

Xạ hình thấy u không bắt iode (nhân lạnh).

Sự phát triển của u bị tác động bởi nồng độ TSH trong máu, U phát triển nhanh khi

TSH tăng và ngược lại.

Triệu chứng gợi ý K giáp:

Phát hiện một nốt ở tuyến giáp thể tích tăng dần, hoặc một nột đã có từ lâu, gần đây chợt tăng thể tích.

Dấu hiệu chèn ép cơ quan lân cận (hội chứng trung thất).

Hạch cổ hoặc thượng đòn lớn dần, chắc, không đau.

Siêu âm giáp giúp phân biệt nang với khối đặc.

Xạ hình giáp: Kết quả tuỳ thuộc loại u, nếu phát hiện nhân “lạnh” cần chọc hút xét nghiệm tế bào học, hoặc sinh thiết xét nghiệm mô học.

Tỷ lệ sống còn10 năm khi có điều trị như sau:

80% đối với K biểu mô nhú.

60% đối với K biểu mô nang.

Với K biểu mô không biệt hoá tiên lượng rất xấu.

Phẫu thuật cắt tuyến giáp một bên, khi còn khu trú, hoặc cắt toàn phần, bóc hạch xâm lấn.

Sau phẩu thuật cho thêm iode phóng xạ với liều điều trị và hormone giáp với liều ức chế.

Đối với K giáp không biệt hoá cần phẩu thuật rộng, iode phóng xạ liều cao, có thể xem xét hoá trị liệu tạm thời.

Đối với K biểu mô tuỷ, sau khi phẩu thuật toàn bộ tuyến giáp, định lượng calcitonine giúp phát hiện mô ung thư còn lại chưa được lấy hết.

Ung Thư Tuyến Giáp: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Tuyến giáp có chức năng tiết ra các hormone quan trọng vào máu để vận chuyển đi khắp cơ thể. Hormone tuyến giáp có chức năng vô cùng quan trọng đặc biệt trong quá trình chuyển hóa giúp các cơ quan như não, tim và các cơ quan khác luôn ở trạng thái ổn định giúp cơ thể điều hòa thân nhiệt, giữ ấm và sử dụng năng lượng.

Ung thư tuyến giáp là gì ?

Ung thư tuyến giáp là bệnh xảy ra khi có sự bất thường trong sự phát triển của các tế bào tuyến giáp, là sự xuất hiện của các tế bào ung thư tạo thành khối u ác tính ở vùng tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp có 4 dạng: ung thư nhú, ung thư nang, thể tủy và ung thư không biệt hóa. Trong 3 dạng này thì ung thư không biệt hóa là loại nguy hiểm nhất và khó điều trị nhất. Ung thư nhú chiếm tỉ lệ cao nhất và tiên lượng tốt nhất

Ung thư tuyến giáp có nguy hiểm không?

Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ác tính chiếm 1-2% trong tất cả các loại ung thư nhưng chiếm tỉ lệ 90% trong nhóm ung thư tuyến nội tiết. Tuy nhiên, một điều được cho là may mắn hơn cả đó là căn bệnh này có tỷ lệ chữa khỏi lên đến 90%, đây được cho là bệnh có tỉ lệ chữa khỏi cao nhất so với các loại ung thư khác nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời.

Tỉ lệ mắc ở nữ giới cao hơn nam giới. Theo Globocan, ung thư tuyến giáp xếp thứ 9 trong các loại ung thư ở nữ với hơn 160000 ca mắc mới mỗi năm, nam giới với gần 50000 ca mỗi năm đứng thứ 20. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao trên thế giới.

Điều trị ung thư tuyến giáp dựa vào từng thể mô bệnh học cụ thể, bệnh thường có tiên lượng tốt do bệnh tiến triển chậm, có thể phẫu thuật và đáp ứng với điều trị iod. Trên thực tế vẫn còn bỏ sót một tỉ lệ bệnh nhân không được chẩn đoán hoặc chẩn đoán ở giai đoạn muộn dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Vì vậy việc có những kiến thức cần thiết về nguyên nhân và dấu hiệu sớm để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm là vô cùng quan trọng.

Nguyên nhân ung thư tuyến giáp bao gồm:

Rối loạn hệ miễn dịch: Là nguyên nhân đầu tiên, khi hệ miễn dịch bị rối loạn, chức năng sinh sản sinh ra các kháng thể có tác dụng chống lại sự xâm nhập của các virus, vi khuẩn bị suy giảm. Điều này tạo cơ hội cho các loại vi khuẩn, virus tấn công cơ thể, trong đó có tuyến giáp bị xâm hại, gây ung thư tuyến giáp.

Nhiễm phóng xạ: Cơ thể người có thể bị nhiễm phóng xạ qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp gây ảnh hưởng đến tuyến giáp.

Yếu tố di truyền: Thực tế cho thấy khoảng 70% bệnh nhân ung thư tuyến giáp có gia đình có bố mẹ, hoặc người thân mắc bệnh.

Yếu tố tuổi tác, thay đổi hormone : Ở độ tuổi 30- 50, ở phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-4 lần so với nam giới. Nguyên nhân nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn là do yếu tố hormone ở phụ nữ kích thích quá trình hình thành bướu ở tuyến giáp, hạch tuyến giáp. Theo thời gian, các bướu này có thể phát triển thành ung thư.

Do mắc bệnh tuyến giáp: Người bị bệnh bướu tuyến giáp, viêm tuyến giáp, bệnh basedow hoặc hoóc-môn tuyến giáp bị suy giảm sẽ có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn những người khác.

Do tác dụng phụ của một số loại thuốc: Bệnh nhân mắc các bệnh về tuyến giáp sẽ được bác sĩ chỉ định uống i ốt phóng xạ, chính đây là một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp.

Các nguyên nhân khác như bị thiếu i ốt, uống rượu thường xuyên, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì…

Việc nhận biết dấu hiệu của bệnh càng sớm sẽ giúp ích cho việc điều trị kịp thời và tỷ lệ trị khỏi hoàn toàn cao hơn. Ung thư tuyến giáp có thể xuất hiện từ từ, tăng dần, triệu chứng của ung thư tuyến giáp bao gồm:

Triệu chứng sớm:

Xuất hiện khối u ở cổ: có thể dễ dàng phát hiện dấu hiệu này do tuyến giáp nằm ở phía trước vùng cổ. Khối u có đặc điểm cứng, bờ rõ, bề mặt có thể nhẵn hay gồ ghề, di động theo nhịp nuốt.

Có hạch vùng cổ: hạch thường nhỏ, mềm, di động và cùng bên với khối u.

Triệu chứng muộn:

Khối u to, rắn, cố định trước cổ.

Khàn tiếng, có thể khó thở do khối u to dần lên chèn ép vào thanh quản, khí quản

Khó nuốt, nuốt vướng, do u chèn ép vào thực quản

Da vùng cổ có thể bị thâm nhiễm hoặc sùi loét chảy máu.

Phơi nhiễm phóng xạ liều cao: những người thường xuyên tiếp xúc với chất phóng xạ liều cao sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư tuyến giáp. Những người thường xuyên phải điều trị bằng phóng xạ mà không được bảo vệ kỹ ở vùng cổ thì sau này sẽ có nguy cơ bị ung thư ở tuyến giáp.

Người sống ở vùng bị nhiễm phóng xạ cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn các đối tượng khác.

Do di truyền: Những người có người thân mắc căn bệnh này thì tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn người khác.

Nữ giới trong độ tuổi 30-50

Tránh tiếp xúc với các chất, tia phóng xạ

Khi cơ thể có các biểu hiện lạ như: mệt mỏi không rõ nguyên nhân, tăng cân đột ngột, cơ thể trở nên nhạy cảm hơn… cần đến khám tại các cơ sở y tế, vì đây là biểu hiện của rối loạn hormone tuyến giáp.

Thường xuyên tự kiểm tra vùng cổ để kịp thời phát hiện các khối u bất thường.

Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý. Duy trì cân nặng ở mức hợp lý.

Nếu trong gia đình có tiền sử người thân bị mắc căn bệnh này thì cần khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời.

Chế độ ăn: dùng muối iod , sử dụng các thực phẩm giàu iod như tảo, rong biển, hải sản, ăn các loại thực phẩm giàu magie tốt cho tuyến giáp như hạt điều, hạch nhân,…

Để chẩn đoán xác định ung thư tuyến giáp cần phải kết hợp nhiều phương pháp như thăm khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán cận lâm sàng, cụ thể

Lâm sàng

Có khối u tuyến giáp, một hay nhiều nhân với đặc điểm u cứng, bờ rõ, bề mặt nhẵn hay gồ ghề, đi động theo nhịp nuốt, u có thể ở một thùy eo hoặc cả hai thùy.

Ở giai đoạn muộn, khối u lớn thường có biểu hiện: khối u cứng, cố định, đỏ da, sùi loét hoặc chảy máu.

Đa số các hạch cổ là hạch cùng bên (có thể hạch cổ đối bên hoặc cả hai bên), hạch nhóm cảnh, thượng đòn, dưới hàm, dưới cằm, hạch gai. Có thể thấy hạch mà không sờ thấy u tuyến giáp.

Cận lâm sàng

Ngoài việc khám lâm sàng dựa vào triệu chứng, các xét nghiệm cần thực hiện để chẩn đoán tuyến giáp bao gồm:

Xét nghiệm máu giúp định lượng nồng độ Calcitonin trong máu giúp bác sĩ chẩn đoán ung thư tuyến giáp, nhất là ung thư biểu mô dạng tủy. Định lượng T3 và TSH giúp chẩn đoán phân biệt ung thư tuyến giáp với bệnh bướu cổ.

Siêu âm giúp đánh giá tính chất, số lượng “hạt giáp” và phát hiện hạch cổ. Khi siêu âm nếu phát hiện một hoặc nhiều “hạt giáp” thì có khả năng bệnh nhân đã mắc ung thư tuyến giáp .Tuy nhiên siêu âm không thực sự tin cậy trong chẩn đoán phân biệt tổn thương lành tính với tổn thương ác tính.

Xạ hình tuyến giáp là phương pháp rất hữu ích, hiệu quả, với trang thiết bị hiện đại nhằm đánh giá hình ảnh chức năng của tuyến giáp, đánh giá nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp. Để ghi hình tuyến giáp, các bác sĩ sẽ sử dụng dược chất phóng xạ là l-131 hoặc Technetium – 99m (Tc99m). Xạ hình tuyến giáp đang được ứng dụng tại 1 số bệnh viện lớn ở Việt Nam trong đó có bệnh viện Vinmec đem lại nhiều hiệu quả trong việc phát hiện sớm ung thư tuyến giáp.

Rất có giá trị, tìm thấy các tế bào ung thư trong tuyến giáp.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp là phương pháp quan trọng nhất trong điều trị ung thư tuyến giáp, phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến giáp tùy vào từng trường hợp cụ thể tuy nhiên phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp với nạo vét hạch cổ là phương pháp điều trị tối ưu nhất. Với tất cả các trường hợp khối u tuyến giáp có chỉ định phẫu thuật thì sinh thiết tức thì trong mổ là phương pháp giúp phẫu thuật viên quyết định cách thức phẫu thuật cho phù hợp.

Chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp với nạo vét hạch cổ trong các trường hợp sau:

Với ung thư giáp trạng không biệt hóa nếu như còn khả năng phẫu thuật trên cơ sở đánh giá giai đoạn trước phẫu thuật kỹ. Nếu không còn khả năng phẫu thuật thì đôi khi buộc phải sử dụng các phẫu thuật điều trị triệu chứng như mở khí quản hay mở thông dạ dày sau đó chỉ định tia xạ và hóa trị.

Với ung thư tuyến giáp biệt hóa sẽ chỉ định cắt giáp toàn bộ khi có một trong các yếu tố tiên lượng xấu hoặc ung thư tuyến giáp tái phát, vét hạch cổ khi phát hiện hạch trên lâm sàng, dựa trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh và thăm khám kiểm tra đánh giá tổn thương trong phẫu thuật.

Với các trường hợp ung thư tuyến giáp thể tủy đa số tổn thương đa ổ, mức độ ác tính, tỷ lệ tái phát tại chỗ cao và thường có di căn hạch vùng từng giai đoạn sớm. Do đó phương pháp điều trị là cắt tuyến giáp toàn bộ, vét hạch cổ và xạ trị bổ trợ..

Ngoài những trường hợp chỉ định cắt giáp toàn bộ, người bệnh được cân nhắc chỉ định cắt tuyến giáp gần toàn bộ hoặc cắt thùy và eo giáp

Điều trị I131 là phương pháp điều trị bổ trợ giúp tiêu diệt những tế bào ung thư còn sót lại hoặc những tổn thương di căn xa.

Xạ trị và hóa trị ít có giá trị với ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, thường được sử dụng đối với ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể tủy.

Liệu pháp hormon: chỉ định sau khi điều trị I131 hậu phẫu, hay sau khi cắt toàn bộ tuyến giáp hoặc có di căn lan tràn sau khi điều trị triệt căn thất bại.

Liệu pháp tăng cường hệ miễn dịch tự thân là liệu pháp giúp người bệnh ung thư củng cố hệ miễn dịch để kích thích các tế bào miễn dịch hoạt động, tăng khả năng nhận diện và tấn công tế bào ung thư, tăng hiệu quả điều trị.

Ung Thư Phế Quản Phổi: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Bệnh Học Chẩn Đoán Điều Trị

Đại cương

Ung thư phế quản phổi nguyên phát (UTPQPNP) hiện nay có tần suất đang tăng lên một cách đáng sợ.

Là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu ở nam và hàng thứ 4 ở nữ. Bệnh nguyên chủ yếu là thuốc lá.

Phát hiện thường muộn nên điều trị khó vì vậy tiên lượng luôn luôn nặng.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Giới: Ung thư phế quản phổi gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỉ lệ 6/1.

Tuổi: Bệnh gặp tối đa ở nam khoảng 65 tuổi và ở nữ khoảng 75 tuổi.

Môi trường: Bệnh thường gặp ở các thành phố lớn gấp 3 lần so với nông thôn.

Thuốc lá:

Khói thuốc lá đã được xác định 1 cách chắc chắn là nguyên nhân gây ung thư phế quản phổi. 90% ung thư phế quản phổi là do thuốc lá. Tỉ lệ ung thư phế quản phổi tăng theo số điếu thuốc hút trong ngày và số năm nghiện hút. Nếu hút trên 20 gói/năm thì tỉ lệ này tăng rõ rệt.

Khói thuốc lá làm chậm sự thanh lọc nhầy lông làm tổn thương những chức năng thực bào của bộ máy hô hấp.

Những enzyme của niêm mạc phế quản không thích ứng với sự tấn công này: biến các chất trong khói thuốc lá thành chất gây ung thư.

Cai thuốc là làm giảm nguy cơ nhưng không làm mất nguy cơ.

Ô nhiễm môi trường không khí chung:

Khói kỹ nghệ, khói xe hơi chứa benzopyrene và một số chất độc như hydrocabure đa vòng, chất khác như kim loại, chất phóng xạ.

Ô nhiễm môi trường nghề nghiệp:

Bụi thạch miên, bụi mỏ hay các chất trong kỹ nghệ như chrome, niken, arsenic, mực in sản phẩm kỹ nghệ dẩu mỏ, các chất phóng xạ.

Khói thuốc là có tác dụng hợp lực gây ung thư.

Một số yếu tố khác:

Sẹo phổi có thể làm dễ ung thư dạng tuyến hơn các thể khác.

Phân loại theo giải phẫu bệnh

Theo OMS ung thư phế quản phổi được phân thành những loại sau:

Ung thư dạng biểu bì.

Ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá.

Ung thư dạng tuyến:

Ung thư tuyến nang biệt hoá cao.

Ung thư tiểu phế quản phế nang.

Ung thư tuyến ít biệt hoá.

Ung thư tế bào lớn không biệt hoá.

Ung thư phối hợp dạng biểu bì và tuyến.

Ung thư carcinoide.

Ung thư tuyến phế quản.

Ung thư nhú của biểu bì bề mặt.

Ung thư hỗn hợp carcinosarcome.

Sarcomes.

Không xếp loại.

Ung thư trung biểu mô (ung thư màng phổi).

U mélanine.

Trong đó 4 loại đầu là thường gặp.

Phân giai đoạn ung thư phổi theo TNM (theo hiệp hội Mỹ trên hệ thống ung thư)

U tiên phát

To: Không thấy u.

Tx: U chỉ phát hiện sớm bằng tế bào ung thư trong chất tiết phế quản. TIS: ung thư biểu mô tại chỗ

T1: U có d ≤ 3cm, soi phế quản không thấy lan đến phế quản thuỳ.

T3: U không kể kích thước xâm lấn thành ngực hay cơ hoành hay màng phổi trung thất hay màng ngoài tim (mà không tổn thương tim, mạch máu lớn, khí quản, thực quản, cột sống).

Hoặc u trong phế quản gốc cách cựa phế quản < 2cm.

T4: U không kể kích thước xâm lấn trung thất hay tim hay mạch máu lớn, khí quản, thực quản, cột sống, cựa phế quản.

Hoặc tràn dịch màng phổi.

Tổn thương hạch

No: Không có di căn đến hạch.

N1: Di căn đến hạch quanh phế quản hay rốn phổi.

N2: Di căn hạch trung thất cùng bên và cạnh cựa phế quản.

N3: Di căn hạch trung thất khác bên, hạch rốn phổi khác bên, hạch cơ thang hay thượng đòn cùng hay khác bên.

Di căn xa

Mo:không di căn xa.

M1: Di căn xa như thượng thận, gan, xương, não.

Bảng: Phân độ theo TNM.

Biểu hiện trong lồng ngực

Ho

Ho thường tăng lên về tần số và độ trầm trọng.

Ho ra máu

Lượng nhiều hay ít, chiếm tỉ lệ 50% trường hợp.

Viêm phế quản phổi do nghẽn

U phát triển trong lòng phế quản gây nghẽn phế quản không hoàn toàn làm rối loạn thanh thải nhầy lông, gây ú trệ, từ đó dễ dàng bị viêm phế quản phổi ở thuỳ phổi tương ứng.

Viêm phế quản phổi do nghẽn có đặc điểm: viêm phổi khu trú, đáp ứng chậm hay không hoàn toàn với kháng sinh thích hợp, viêm phổi lập đi lập lại cùng một vị trí.

Tiếng rít khu trú

Ran wheezing gợi ý nghẽn khu trú không hoàn toàn.

Xẹp phổi

Khi có hội chứng xẹp phổi là khi phế quản bị hẹp hoàn toàn.

Tràn dịch màng phổi

Có thể là tràn dịch thanh tơ huyết hay tràn máu, có thể do u lan trực tiếp hay do di căn, có khi do phản ứng của xẹp phổi.

Đau ngực

Đau cố định và dai dẳng chứng tỏ ung thư di căn đến thành ngực, màng phổi hay trung thất.

Hạch lớn

Hạch có thể ở rốn phổi, trung thất, cơ thang, có thể diễn tiến âm thâm hay gây chèn ép, ăn mòn các phế quản, các mạch máu hay các đám rối thần kinh lân cận.

Biểu hiện chèn ép, tắc nghẽn do u, do di căn, do hạch vùng

Tĩnh mạch chủ trên trong trung thất bị chèn ép làm cổ lớn ra, sau đó phù áo khoác, tím mặt, giãn tĩnh mạch dưới da ở vai, ngực.

Thần kinh quặt ngược trái bị chèn ép, gây khàn giọng, liệt dây thanh âm trái (dây thanh âm phải có vòng ở cao quanh động mạch dưới đòn nên ít bị chèn ép).

Thần kinh hoành: Các dây thần kinh này đi dọc theo trung thất trước mỗi bên, một trong hai có thể bị chèn ép, gây liệt nửa cơ hoành tương ứng, chỉ phát hiện nhờ rọi phổi, thấy cơ hoành di động ngược chiều.

Hội chứng Pancoast Tobias

Ung thư đỉnh phổi xâm lấn màng phổi đỉnh chèn ép các rễ dưới của đám rối thần kinh cánh tay, thần kinh giao cảm cổ. Hội chứng gồm đau vai, đau cánh tay kèm hội chứng CLAUDE BERNARD HORNER cùng bên (đồng tử co, sụp mí, hẹp khe mắt) có khi ăn mòn xương đòn.

Biểu hiện ngoài lồng ngực (di căn)

3 cơ quan hay bị di căn nhất là:

Hệ xương gây đau xương, đau trội lúc nằm nghỉ, tái phát với các thuốc giảm đau thông dụng.

Hệ thần kinh trung ương: tỉ lệ u phổi di căn lên não rất cao, gây liệt các dây thần kinh sọ não, liệt nửa người.

Gan.

Các di căn khác như màng bụng, thượng thận, thận, ống tiêu hoá.

Hội chứng hệ thống

Các hội chứng này biến mất khi ung thư được cắt bỏ và tái phát khi di căn phát triển.

Tăng calci máu

Tăng calci máu do parathormone bất thường và một chất gây tan xương khác parathormone.

Tăng calci máu gây buồn nôn, nôn, tiểu nhiều, lú lẫn ngủ lịm, sững sờ.

Hội chứng tiết ADH bất thường

Gây hạ natri máu, giảm áp lực keo, tăng tỉ trọng nước tiểu, nước tiểu chứa nhiều natri.

Hội chứng CUSHING

Ung thư phế quản phổi tiết ra chất lượng tự như ACTH, thường ít hoạt động hơn ACTH thật.

Hội chứng carcinoide

Cơn xung huyết da, phù mặt, tăng tiết nước mắt, tăng tiết nước bọt, tiêu chảy nôn, hạ huyết áp do 5 hydroxytryptamine (serotonine) và 5 hydroxytryptophane được tiết ra trong u carcinoide hoặc ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá.

Vú lớn

Ung thư tế báo lớn tiết ra khích thích tố sinh dục gây vú lớn.

Rối loạn thần kinh cơ

Cơ chế chưa rõ, hội chứng này không biến mất khi ung thư được cắt bỏ.

Thường gặp là: Hội chứng nhược cơ, thoái hoá tiểu não, có khi cả não và tuỷ, hội chứng thần kinh ngoại biên.

Ngón tay dùi trống Hội chứng PIERRE MARIE (hội chứng xương khớp phì đại do phổi)

Xương khớp của các chi đối xứng đau, sưng kéo dài. X quang thấy viêm và tăng sinh màng xương, thường gặp ở đầu xương chày và xương mác, kèm ngón tay chân dùi trống. Biến mất khi ung thư được cắt bỏ.

Giảm miễn dịch tế bào không đặc hiệu

Phản ứng bì lao (+) là một yếu tố tiên lượng tốt sống sót sau mổ gấp đôi phản ứng bì lao (-).

Triệu chứng cận lâm sàng

X quang

Ung thư dạng biểu bì và ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá thường ở rốn hay gần rốn, ung thư dạng tuyến và ung thư tế bào lớn thường ở xa rốn trong chủ mô.

Ung thư dạng biểu bì thường dưới dạng khối mờ tròn bờ không đều, không đồng chất, ở một bên, có thể hàng hóa, dế gây viêm phổi do nghẽn hay xẹp phổi.

Ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá thường dưới dạng khối mờ, ít đồng chất, bờ không đều, có xu hướng lan ra xung quanh.

Ung thư dang tuyến thường dưới dạng khối tròn, đều, đậm, bờ rõ.

Ung thư tiểu phế quản phế nang thường dưới dạng khối tròn đơn độc hoặc nốt thâm nhiễm lan rộng một hay hai phổi.

Ung thư tế bào lớn thường dưới dạng khối tròn, đậm, bờ khá rõ.

Các tổn thương ung thư thường không bao giờ bị calci hoá.

Chụp cắt lớn tỉ trọng

Giúp xác định chính xác các tính chất của khối mờ bất thường trong nhu mô phổi, và ở trung thất, giúp sinh thiết dưới sự hướng dẫn của CT SCANNER để chẩn đoán mô học.

Soi phế quản

Soi phế quản bằng ống soi mềm giúp chẩn đoán trực tiếp và thăm dò sự lan rộng của ung thư bằng cách chải rữa phế quản và sinh thiết tổn thương hay sinh thiết có hệ thống các phế quản.

Tế bào học

Khảo sát tế bào trong đàm cho kết quả dương tính trên 70%, dương tính giả ít, phát hiện được tế bào ung thư ngay khi hình ảnh x.quang bình thường. Do đó tế bào học trong đàm là một xét nghiệm sàng lọc ở nhóm có nguy cơ.

Sinh thiết hạch

Hạch ngoại vi dễ dàng được sinh thiết, sinh thiết hạch trung thất được tiến hành ở phòng mổ do bác sĩ chuyên khoa làm.

Chọc hút xuyên thành bằng kim nhỏ

Áp dụng cho những ung thư ở ngoại biên, khó soi phế quản. Có thể chọc dưới sự theo dõi trên màng huỳnh quang. Dễ gây tràn khi màng phổi.

Sinh thiết màng phổi

Sinh thiết màng phổi phải tiến hành ở môi trường ngoại khoa. Có thể khảo sát tế bào học dịch màng phổi.

Mổ thăm dò

Ở bệnh nhân có chỉ định mổ. Sinh thiết và xét nghiệm giải phẩu bệnh tức thì và quyết định mổ tiếp tục hay không.

Thăm dò di căn

Phải làm siêu âm và chụp cắt lớp tỉ trọng mới kết luận được một cách chắt chắn.

Thăm dò chức năng hô hấp

Chủ yếu là đề xét chỉ định mổ và thăm dò khả năng phổi lành.

Nếu VEMS ≥1/2 bình thường và paCO2 bình thường 40 ± 3 mmHg thì không cần thăm dò thêm.

Chất chỉ điểm ung thư

Chỉ xác định được là có khối u, giúp theo dõi diễn tiến sau điều trị.

Chẩn đoán phân biệt

Lao phổi

Chẩn đoán khó khăn trong những trường hợp sau: BK đàm âm tính và không tìm thấy tế bào ung thư trong đàm trong 3 ngày liền, trên phim X.quang có khối mờ hình tròn, đường kính 2-3 cm bờ rõ hoặc một đám mờ. Gặp các trường hợp này nên điều trị thử lao một cách tích cực, đồng thời tìm mọi cách phát hiện tế bào ung thư. Sau một tháng chậm nhất là hai tháng nếu hình ảnh trên phim rõ nét hơn là ung thư.

Viêm phổi

Sau một thời gian điều trị viêm phổi, nếu sức khoẻ không trở lại bình thường, các tổn thương trên phim X.quang không xoá hết, lắng máu vẫn cao… cần nghĩ đến ung thư phế quản phổi.

Điều trị

Về mặt điều trị người ta chia ung thư phế quản phổi ra làm 2 nhóm chính.

Ung thư không phải ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá

Có thời gian nhân đôi 100-200 ngày, gồm 3 loại: ung thư dạng biểu bì, ung thư dạng tuyến, ung thư tế bào lớn.

Phẩu thuật là phương pháp hữu hiệu nhất, áp dụng cho các giai đoạn ung thư ẩn, giai đoạn 1 và giai đoạn 2 và một số trường hợp chọn lọc như T3, No, Mo hay T1, N2, Mo.

Kết quả:

Ung thư ẩn: Sống sót sau 5 năm khoảng 60%. Theo dõi kỹ vì dễ bị tái phát khoảng 5%/năm/người.

Ung thư nốt đơn độc: Mổ cắt bỏ thuỳ phổi. Tiên lượng tuỳ theo kích thước khối u, theo hạch vùng và theo sự biệt hoá của tế bào k.

Không phẩu thuật được dùng đa hoá trị liệu và xạ trị liệu nếu không có chống chỉ định.

Xạ trị liệu kết quả không tốt lắm, đôi khi không hơn bệnh nhân không được xạ trị liệu.

Đa hoá trị liệu:

Bảng: Kết quả một số đa hoá trị liệu.

Bảng: Tỷ lệ sống sót sau 5 năm.

Ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá

Đây là loại ung thư phát triển nhanh, di căn sớm và nhiều ngay khi bệnh có vẻ khu trú, do đó mọi cố gắng cắt bỏ đều vô hiệu, nên đa hoá trị liệu và xạ trị liệu là chính.

Hoá trị liệu:

Thuốc ức chế topoisomerase I bao gồm irinotecan và topotecan. Phối hợp irinotecan hay topotecan với ciplastin cho kết quả tốt, tuy nhiên có một số tác giả phối hợp etoposide với cisplatin hay với carboplatin

Xạ trị:

Xạ trị được dùng trước hoặc sau hoá trị liệu bởi bác sĩ chuyên khoa.

Điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ cho cả hai loại:

Chống đau, chống nhiễm khuẩn, giảm ho.

Chống chèn ép thần kinh: dexamethasone 20-80 mg /ngày.

Hút dịch màng phổi.

Chống suy tuỷ, chống thiếu máu.

Phòng bệnh

Tuyên truyền tác hại của thuốc lá trên các phương tiện truyền thông đại chúng để vận động mọi người bỏ thuốc lá

Chống ô nhiễm môi trường trong nhà, môi trường nghề nghiệp.

Ung Thư Bàng Quang: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị

Ung thư bàng quang: dấu hiệu triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán điều trị, Dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm máu trong nước tiểu, đi tiểu đau, thường xuyên đi tiểu, đau bụng, đau lưng.

Dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm máu trong nước tiểu, đi tiểu đau, thường xuyên đi tiểu, đau bụng, đau lưng.

Định nghĩa

Ung thư bàng quang là một loại ung thư bắt đầu trong bàng quang, một cơ quan hình cầu ở vùng xương chậu và chứa nước tiểu. Ung thư bàng quang bắt đầu thường xuyên nhất là các tế bào lót mặt trong của bàng quang. Ung thư bàng quang thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Phần lớn bệnh ung thư bàng quang được chẩn đoán ở giai đoạn đầu, khả năng điều trị bệnh ung thư bàng quang được là rất cao. Tuy nhiên, ngay cả giai đoạn đầu bệnh ung thư bàng quang có khả năng tái diễn. Vì lý do này, bệnh ung thư bàng quang thường trải qua các kiểm tra theo dõi để tìm tái phát ung thư bàng quang nhiều năm sau khi điều trị.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng ung thư bàng quang có thể bao gồm:

Tiểu ra máu – nước tiểu có thể xuất hiện màu vàng tối, màu đỏ tươi sáng hoặc màu cola, hay nước tiểu có thể bình thường, nhưng máu có thể được phát hiện trong kiểm tra kính hiển vi.

Thường xuyên đi tiểu.

Đi tiểu đau.

Nhiễm trùng đường tiểu.

Đau bụng.

Đau lưng.

Gặp bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng lo lắng, chẳng hạn như tiểu ra máu.

Nguyên nhân

Ung thư bàng quang phát triển khi các tế bào khỏe mạnh trong bàng quang, thay vì phát triển và phân chia một cách có trật tự, các tế bào này phát triển đột biến gây phát triển ra khỏi kiểm soát và không chết. Những tế bào này tạo thành một khối u bất thường.

Các loại ung thư bàng quang

Các loại tế bào ung thư bàng quang, xác định loại ung thư. Các loại tế bào khác nhau trong bàng quang có thể trở thành ung thư. Loại bệnh ung thư bàng quang xác định phương pháp điều trị có thể tốt nhất. Các loại ung thư bàng quang bao gồm:

Ung thư tế bào chuyển tiếp. Ung thư tế bào chuyển tiếp xảy ra ở các tế bào lót bên trong bàng quang. Các tế bào chuyển tiếp giãn khi bàng quang đầy đủ và co khi bàng quang trống. Những tế bào này cùng một dòng bên trong niệu quản và niệu đạo và các khối u có thể hình thành. Ung thư tế bào chuyển tiếp là loại phổ biến nhất của ung thư bàng quang.

Ung thư biểu mô tế bào vảy. Tế bào vảy xuất hiện trong bàng quang để phản ứng lại nhiễm trùng và kích thích. Theo thời gian có thể trở thành ung thư. Ung thư bàng quang tế bào vẩy là rất hiếm. Tế bào vẩy phổ biến hơn khi bị nhiễm ký sinh nhất định, một nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng bàng quang.

Ung thư tuyến (adenocarcinoma). Ung thư tuyến bắt đầu trong tế bào tạo nên các tuyến tiết ra chất nhầy trong bàng quang. Ung thư tuyến bàng quang là rất hiếm.

Một số ung thư bàng quang bao gồm nhiều hơn một loại tế bào.

Yếu tố nguy cơ

Không rõ những gì gây ra ung thư bàng quang, nhưng các bác sĩ đã xác định được các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Các yếu tố rủi ro bao gồm:

Lớn tuổi. Có nguy cơ tăng ung thư bàng quang theo độ tuổi. Ung thư bàng quang có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó hiếm khi được tìm thấy ở những người trẻ hơn 40.

Màu da. Người da trắng có nguy cơ ung thư bàng quang hơn là người của các chủng tộc khác.

Giới tính. Đàn ông có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư bàng quang hơn so với phụ nữ.

Hút thuốc lá. Thuốc lá, xì gà có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang bằng cách gây ra các hóa chất độc hại tích tụ trong nước tiểu. Khi hút thuốc, quá trình các hóa chất trong khói và thải trong nước tiểu. Những hóa chất độc hại có thể gây hại niêm mạc của bàng quang, có thể làm tăng nguy cơ ung thư.

Đã điều trị ung thư. Điều trị với cyclophosphamide, thuốc chống ung thư làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Những người nhận được phương pháp điều trị phóng xạ nhằm vào xương chậu cho một bệnh ung thư trước đó có thể có nguy cơ cao mắc ung thư bàng quang.

Viêm bàng quang mạn tính. Nhiễm trùng đường tiểu hoặc viêm kinh niên hoặc lặp lại, chẳng hạn như có thể xảy ra với việc sử dụng lâu dài ống thông đường tiểu, có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang tế bào vảy. Ở một số vùng trên thế giới, ung thư biểu mô tế bào vảy được liên kết với viêm bàng quang mạn tính gây ra bởi nhiễm trùng ký sinh được gọi là bệnh sán máng.

Tiền sử cá nhân hay gia đình mắc bệnh ung thư. Nếu đã bị ung thư bàng quang, có nhiều khả năng có nó một lần nữa. Nếu một hoặc một số thân nhân có lịch sử bệnh ung thư bàng quang, có thể tăng nguy cơ của bệnh, mặc dù hiếm bệnh ung thư bàng quang trong gia đình. Lịch sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng không polyp di truyền (HNPCC), còn gọi là hội chứng Lynch, có thể làm tăng nguy cơ ung thư trong hệ thống tiết niệu, cũng như trong đại tràng, tử cung, buồng trứng và các cơ quan khác.

Các biến chứng

Ung thư bàng quang thường tái phát Bởi vì điều này, người ung thư bàng quang sống sót thường trải qua thử nghiệm tiếp theo cho năm sau khi điều trị thành công. Các xét nghiệm sẽ trải qua và bao lâu sẽ tùy thuộc vào loại ung thư bàng quang và điều trị trong số những yếu tố khác.

Hãy hỏi bác sĩ để tạo ra một kế hoạch tiếp theo. Nhìn chung, các bác sĩ khuyên nên khám sàng lọc thành bên trong niệu đạo và bàng quang (soi bàng quang) mỗi 3 – 6 tháng trong bốn năm đầu tiên sau khi điều trị ung thư bàng quang .Sau đó có thể trải qua soi bàng quang mỗi năm. Bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra khác tại các khoảng khác nhau.

Những người bị bệnh ung thư giai đoạn muộn có thể trải nghiệm thường xuyên hơn.

Kiểm tra và chẩn đoán

Chẩn đoán ung thư bàng quang. Các xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán ung thư bàng quang có thể bao gồm:

Soi bàng quang. Trong soi bàng quang, bác sĩ chèn một ống thông (cystoscope) qua niệu đạo, cho phép bác sĩ nhìn thấy bên trong niệu đạo và bàng quang. Thường nhận được gây mê vùng trong quá trình soi bàng quang để làm cho thoải mái hơn.

Sinh thiết. Trong soi bàng quang, bác sĩ có thể thông qua một công cụ đặc biệt qua niệu đạo và vào bàng quang để thu thập mẫu tế bào nhỏ (sinh thiết) để thử nghiệm. Thủ tục này đôi khi được gọi là cắt bỏ một phần khối u bàng quang (TURBT). TURBT cũng có thể được dùng để điều trị ung thư bàng quang. TURBT thường được thực hiện dưới gây mê.

Tế bào học nước tiểu. Một mẫu nước tiểu được phân tích dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư trong thủ tục gọi là tế bào học nước tiểu.

Kiểm tra hình ảnh. Kiểm tra cho phép bác sĩ kiểm tra cấu trúc của đường tiết niệu. Có thể dùng chất nhuộm màu được tiêm vào tĩnh mạch. Pyelogram tĩnh mạch là một loại thử nghiệm hình ảnh X quang có sử dụng thuốc nhuộm để làm nổi bật thận, niệu quản và bàng quang. Chụp cắt lớp vi tính (CT scan) là một loại thử nghiệm X quang, cho phép bác sĩ xem đường tiết niệu và các mô xung quanh tốt hơn.

Mức độ ung thư bàng quang

Sau khi đã xác nhận bị ung thư bàng quang, bác sĩ có thể thử nghiệm thêm để xác định mức độ hoặc giai đoạn bị ung thư. Các kiểm tra có thể bao gồm:

CT scan.

Chụp cộng hưởng từ ( MRI ).

Chiếu xương.

X quang ngực.

Các giai đoạn của ung thư bàng quang là:

Giai đoạn I. Ung thư ở giai đoạn này xảy ra trong lớp lót bên trong của bàng quang, nhưng không xâm lấn cơ thành bàng quang.

Giai đoạn II. Ở giai đoạn này, ung thư đã xâm nhập vào thành bàng quang, nhưng vẫn còn giới hạn trong bàng quang.

Giai đoạn III. Các tế bào ung thư đã lan qua thành bàng quang để tới mô xung quanh. Nó cũng có thể đã lây lan đến tuyến tiền liệt ở nam giới hoặc tử cung hoặc âm đạo ở phụ nữ.

Giai đoạn IV. Giai đoạn này, tế bào ung thư có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết và các cơ quan khác như phổi, xương hoặc gan.

Phương pháp điều trị và thuốc

Phẫu thuật

Các loại thủ tục phẫu thuật có sẵn có thể dựa trên các yếu tố như giai đoạn của ung thư bàng quang, sức khỏe tổng thể và sở thích.

Phẫu thuật ung thư bàng quang giai đoạn đầu. Nếu ung thư rất nhỏ và không xâm lấn thành của bàng quang, bác sĩ có thể khuyên nên

Phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Sự cắt bỏ khối u bàng quang (TURBT) qua niệu đạo thường được sử dụng để loại bỏ bệnh ung thư bàng quang được giới hạn trong các lớp bên trong của bàng quang. Trong TURBT, bác sĩ qua một vòng dây nhỏ thông qua niệu đạo vào bàng quang. Vòng dây này được dùng để đốt tế bào ung thư với một dòng điện. Trong một số trường hợp, laser năng lượng cao có thể được sử dụng thay vì điện. TURBT có thể gây đi tiểu đau hoặc tiểu máu trong một vài ngày sau thủ thuật.

Phẫu thuật để cắt bỏ khối u và một phần nhỏ của bàng quang. Trong cắt bỏ bán phần bác sĩ phẫu thuật chỉ loại bỏ phần của bàng quang có chứa tế bào ung thư. Cắt bỏ bán phần có thể là một lựa chọn nếu ung thư được giới hạn trong diện tích bàng quang có thể dễ dàng loại bỏ mà không làm tổn hại đến chức năng bàng quang.

Phẫu thuật mang nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng. Có thể gặp đi tiểu thường xuyên hơn sau khi cắt bỏ bán phần, làm giảm kích thước của bàng quang. Theo thời gian có thể cải thiện, mặc dù ở một số người nó vĩnh viễn.

Phẫu thuật ung thư bàng quang xâm hại. Nếu ung thư đã xâm lược các lớp sâu hơn của thành bàng quang, có thể xem xét

Phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ bàng quang. Thủ thuật cắt bỏ là một hoạt động để loại bỏ toàn bộ bàng quang, cũng như các hạch bạch huyết xung quanh. Ở nam giới, cắt bỏ thường bao gồm loại bỏ tuyến tiền liệt và túi tinh. Ở phụ nữ, cắt bỏ gồm việc cắt bỏ tử cung, buồng trứng và một phần của âm đạo.

Cắt bỏ mang nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Ở nam giới, loại bỏ tuyến tiền liệt và túi tinh sẽ gây ra vô sinh. Nhưng trong đa số trường hợp bác sĩ phẫu thuật có thể cố gắng để lại các dây thần kinh cần thiết cho việc cương cứng. Ở phụ nữ, loại bỏ các nguyên nhân gây vô sinh do buồng trứng và mãn kinh sớm ở phụ nữ, chưa có kinh nghiệm trước phẫu thuật này.

Phẫu thuật tạo ra một cách mới cho nước tiểu rời khỏi cơ thể. Ngay sau khi cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật tạo ra cách mới để có thể trục xuất nước tiểu. Những tùy chọn là tốt nhất phụ thuộc vào bệnh ung thư, sức khỏe và sở thích. Bác sĩ phẫu thuật có thể tạo ra một ống dẫn nước tiểu bằng cách sử dụng một đoạn ruột. Ống chạy từ thận ra bên ngoài của cơ thể, nơi nước tiểu chảy vào một cái túi mang trên bụng.

Trong thủ tục khác, bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng một phần ruột để tạo ra một hồ chứa nước tiểu bên trong cơ thể. Có thể tiêu thoát nước tiểu từ hồ chứa thông qua một lỗ ở bụng bằng cách sử dụng một ống thông một vài lần mỗi ngày.

Trong trường hợp lựa chọn, bác sĩ phẫu thuật có thể tạo ra hồ chứa bàng quang giống như túi. Hồ chứa này nằm bên trong cơ thể và được gắn vào niệu đạo, cho phép để đi tiểu bình thường. Có thể cần phải sử dụng một ống thông để rút tất cả các nước tiểu từ bàng quang mới.

Sinh học trị liệu (miễn dịch liệu pháp)

Sinh học trị liệu đôi khi được gọi là miễn dịch liệu pháp, hoạt động bằng cách báo hiệu hệ miễn dịch của cơ thể chống lại các tế bào ung thư. Sinh học trị liệu ung thư bàng quang thường được quản lý thông qua niệu đạo và trực tiếp vào bàng quang.

Thuốc trị liệu sinh học được sử dụng để điều trị ung thư bàng quang bao gồm:

Một loại vi khuẩn miễn dịch. Bacille Calmette – Guerin (BCG) là một loại vi khuẩn sử dụng trong các vắc-xin lao. BCG có thể gây kích thích bàng quang và gây tiểu máu. Một số người cảm thấy như bị cúm sau khi điều trị với BCG.

Phiên bản tổng hợp của một protein hệ miễn dịch. Interferon là một protein mà hệ thống miễn dịch tạo ra để giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Một phiên bản tổng hợp của interferon được gọi là interferon alfa, có thể được dùng để điều trị ung thư bàng quang. Interferon alfa đôi khi được dùng kết hợp với BCG. Interferon alfa có thể gây ra các triệu chứng giống như cúm.

Liệu pháp sinh học có thể được quản lý sau khi TURBT để giảm nguy cơ ung thư sẽ tái diễn.

Hóa trị

Hóa trị có thể được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư có thể vẫn còn sau khi phẫu thuật. Nó cũng có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật. Trong trường hợp này, hóa trị có thể teo khối u đủ để cho phép các bác sĩ phẫu thuật để thực hiện phẫu thuật ít xâm lấn. Hóa trị đôi khi kết hợp với xạ trị.

Xạ trị

Xạ trị sử dụng năng lượng cao nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư. Xạ trị có thể đến từ một máy bên ngoài cơ thể (bức xạ tia bên ngoài) hoặc nó có thể đến từ một thiết bị đặt bên trong bàng quang.

Bức xạ trị liệu có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật để thu nhỏ khối u để nó có thể dễ dàng được gỡ bỏ. Bức xạ trị liệu cũng có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để diệt tế bào ung thư còn lại. Bức xạ trị liệu đôi khi kết hợp với hóa trị.

Thuốc thay thế

Vitamin. Trái cây và rau là cách an toàn nhất để có được các vitamin. Một số nghiên cứu cho thấy liều lượng lớn các vitamin nhất định, chẳng hạn như vitamin E ở dạng viên thuốc có thể giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang. Nhưng các nghiên cứu khác đã không tìm thấy điều này.

Học hỏi thêm là cần thiết để hiểu những gì là an toàn nhất và hiệu quả nhất. Cho đến lúc đó, tập trung vào việc ăn nhiều trái cây và rau quả giàu vitamin. Nếu đang quan tâm đến việc bổ sung vitamin, hãy hỏi bác sĩ về những gì có thể là hợp lý.

Đối phó và hỗ trợ

Sống với mối quan tâm bệnh ung thư bàng quang có thể tái diễn có thể để lại cảm giác như quyền kiểm soát ít hơn trong tương lai. Nhưng trong khi không có cách nào để đảm bảo không có sự tái phát của ung thư bàng quang, có thể thực hiện các bước để quản lý căng thẳng.

Theo thời gian sẽ tìm thấy những gì được làm, nhưng cho đến khi đó, có thể:

Có lịch trình theo dõi kiểm tra và tái khám. Khi hoàn thành điều trị ung thư bàng quang, hãy hỏi bác sĩ để tạo ra lịch trình cá nhân kiểm tra tiếp theo. Trước khi theo dõi bằng soi bàng quang, hy vọng sẽ có ít lo lắng. Có thể lo sợ rằng bệnh ung thư đã trở lại hay lo lắng về sự khó chịu. Nhưng đừng để điều này dừng buổi đi khám. Thay vào đó, các kế hoạch để đối phó với mối quan tâm.

Chăm sóc bản thân để sẵn sàng chống ung thư nếu nó trở lại. Chăm sóc bản thân bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống bao gồm nhiều trái cây, rau và ngũ cốc. Tập thể dục ít nhất 30 phút hầu hết các ngày trong tuần. Ngủ đủ để đánh thức cảm giác nghỉ ngơi.

Nói chuyện với những người sống sót ung thư bàng quang khác. Kết nối với những người sống sót ung thư bàng quang đang trải qua những nỗi sợ hãi giống như đang cảm thấy.

Phòng chống

Mặc dù không có cách nào bảo đảm ngăn ngừa ung thư bàng quang, có thể thực hiện các bước để giúp giảm nguy cơ. Ví dụ:

Không hút thuốc. Không hút thuốc lá có nghĩa là hóa chất gây ung thư trong khói không thể thu thập trong bàng quang. Nếu không hút thuốc, không bắt đầu. Nếu hút thuốc, hãy nói chuyện với bác sĩ về hoạch để giúp dừng lại. Các nhóm hỗ trợ, thuốc men và các phương pháp khác có thể giúp bỏ thuốc lá.

Hãy thận trọng với hóa chất. Nếu làm việc với hóa chất, hãy làm theo các hướng dẫn an toàn để tránh tiếp xúc.

Uống nước suốt cả ngày. Uống nước, đặc biệt là nước làm loãng chất độc hại có thể sẽ tập trung trong nước tiểu và đào thải nó ra khỏi bàng quang nhanh hơn.

Chọn nhiều trái cây và rau. Chọn chế độ ăn uống một loạt các loại trái cây và rau nhiều màu sắc. Các chất chống oxy hoá trong trái cây và rau quả có thể giúp giảm nguy cơ ung thư.

Nguồn tổng hợp https://linhchigh.com/

Bạn đang xem bài viết Ung Thư Tuyến Giáp: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Bệnh Học Chẩn Đoán Điều Trị trên website Brandsquatet.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!